Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về tình hình nghiên cứu 7 - Chương 2: Bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam và những biến đổi của nó - Chương 3: Từ bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam, góp bàn thêm về bản sắc dân tộc nói chung. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày 3 nội dung chính: một số khái niệm cơ bản, tổng quan về tình hình nghiên cứu cùng những vấn đề đặt ra từ đó và các lý thuyết, phương pháp sẽ được sử dụng để giải quyết các vấn đề trong luận án. Sau đây, xin đi vào nội dung thứ nhất của chương. GIỚI THUYẾT MỘT SỐ KHÁI NIỆM Luận án nghiên cứu về bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam.
Vì vậy, trước hết chúng tôi sẽ giới thuyết về hai khái niệm cốt lõi được dùng nhiều trong luận án: “bản sắc dân tộc” và “ca khúc mới”. Khái niệm “bản sắc dân tộc” Vấn đề bản sắc dân tộc thực ra đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ nhiều năm nay, tuy nhiên vẫn còn những quan điểm cho rằng đây là vấn đề mang tính ước lệ, thậm chí là trừu tượng. Bởi vậy, cần tìm hiểu khái niệm này thông qua các từ điển và cả ý kiến của các tác giả trong những công trình, bài viết có liên quan. Sau đây là chi tiết vấn đề.
Khái niệm “bản sắc dân tộc” qua các từ điển Cho tới nay, chưa thấy cuốn từ điển nào đưa ra khái niệm đầy đủ về bản sắc dân tộc. Vì vậy, nghĩa của các từ “bản sắc” và “dân tộc” sau khi được làm rõ sẽ là cơ sở để hiểu về nghĩa chung của cụm từ “bản sắc dân tộc”. Bản sắc (character) – theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, là một danh từ mang nghĩa “sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng khác1” [65, tr. Với Từ 1 Những chữ viết nghiêng là chúng tôi dùng để nhấn mạnh ý cần nói.
9 điển tiếng Việt, “bản sắc” cũng là danh từ chỉ “những yếu tố tốt đẹp tạo nên một tính chất đặc thù nói chung” [53, tr. Còn Đại từ điển tiếng Việt cho rằng: “bản sắc” là danh từ chỉ sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng khác” [66, tr. Những cách giải nghĩa này đã cho thấy “bản sắc” chính là đặc tính, đặc thù riêng có. Dân tộc – một danh từ được Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam giải nghĩa theo các cấp độ khác nhau: “Dân tộc (ethnie) đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người” [121], nhưng ở cấp độ khác thì “Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị – xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước thiết lập trên một lãnh thổ nhất định” [121].
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng thì “dân tộc” (nation, race, nationality) là danh từ chỉ “cộng đồng người được hình thành từ lâu đời, có ngôn ngữ, truyền thống văn hóa, tâm lí đặc trưng” [65, tr. Còn Đại từ điển tiếng Việt giải thích từ “dân tộc” theo ba nghĩa. Nguyên văn như sau: dân tộc dt 1. Cộng đồng người ổn định hình thành trong quá trình lịch sử của xã hội, có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý: đoàn kết dân tộc.
Dân tộc thiểu số, nói tắt: ưu tiên học sinh dân tộc - cán bộ dân tộc. Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, một quốc gia gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi: dân tộc Việt Nam [66, tr. Khái niệm này – tuy được giải thích theo ba nghĩa, nhưng nghĩa thứ nhất gần giống với nghĩa thứ ba, cho nên thực ra từ “dân tộc” có thể được hiểu theo hai cấp độ dân tộc có quy mô khác nhau. Ở cấp độ thứ nhất, “dân tộc” ứng với quy mô quốc gia như trong các ví dụ được trích ở trên: “đoàn kết dân tộc”, “dân tộc Việt Nam”.
Ở cấp độ thứ hai, “dân tộc” ứng với quy mô dân tộc ít người trong một quốc gia – dân tộc như ở các ví dụ: “ưu tiên học sinh dân tộc”, “cán bộ dân tộc”. 10 Qua cách giải thích của các từ điển, có thể hiểu “dân tộc” là danh từ chỉ một cộng đồng người có lịch sử hình thành cụ thể với những mối liên kết đặc trưng. Dân tộc có hai cấp độ là dân tộc tộc người và dân tộc quốc gia. Với nghĩa của các danh từ “bản sắc” và “dân tộc” ở trên, kết hợp lại thành cụm danh từ “bản sắc dân tộc”, trong đó danh từ “bản sắc” là yếu tố nói lên những đặc tính cốt cách của tất cả mọi sự vật hiện tượng từ nhỏ đến lớn, chẳng hạn như bản sắc cá nhân, bản sắc gia đình, bản sắc địa phương, bản sắc tộc người…, còn danh từ “dân tộc” là yếu tố giới hạn cụ thể cho ý nghĩa của danh từ “bản sắc”, ví dụ: dân tộc tộc người, dân tộc quốc gia… Như vậy, có thể hiểu: bản sắc dân tộc là bản tính, cốt cách của một cộng đồng người với những lối suy nghĩ, tiến hành và biểu hiện văn hóa theo cách riêng của dân tộc mình.
Khái niệm “bản sắc dân tộc” qua các công trình, bài viết Trong những năm gần đây, cụm từ “bản sắc dân tộc” thường được các nhà nghiên cứu sử dụng trong các công trình, bài viết, nhất là những bài có liên quan đến lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của nước nhà. Một số tác giả còn đưa ra khái niệm cụ thể về cụm từ này nhằm phục vụ cho các mục tiêu liên quan đến văn hóa dân tộc mà họ đang được tìm hiểu. Có thể dẫn ra một số trường hợp: Tìm hiểu về bản sắc dân tộc của văn hóa, các tác giả Đỗ Huy và Trường Lưu cho rằng: “bản sắc dân tộc chính là cách thức tiến hành xây dựng nền văn hoá văn minh của dân tộc ấy” [18, tr. Cũng tìm hiểu bản sắc dân tộc trong lĩnh vực văn hóa, Quang Đạm – tác giả bài viết Thử miêu tả bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa Việt Nam nhận xét: “Bản sắc dân tộc là sắc thái bao quát một cách uyển chuyển, linh hoạt những đặc điểm của một dân tộc tạo nên diện mạo và dạng hình riêng của dân 11 tộc ấy không thể đồng nhất với các dân tộc khác trong cộng đồng khu vực hay là cộng đồng loài người” [62, tr.
Phạm Vũ Dũng, trong cuốn Hỏi và đáp về cơ sở văn hoá Việt Nam thì giải thích bản sắc dân tộc như sau: “Bản sắc văn hoá dân tộc (…) là căn cước, là chứng minh thư của văn hoá bất kỳ dân tộc nào. Nó chính là cái để phân biệt văn hoá dân tộc này và văn hoá dân tộc khác, khiến cho văn hoá của dân tộc này không trở thành “cái bóng” của văn hoá dân tộc khác và ngược lại” [46, tr. Tác giả Trần Độ qua bài Về bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam nhận định: “(…) tìm bản sắc dân tộc là tìm cái cốt lõi, cái tinh túy của tính dân tộc ở mỗi lĩnh vực cụ thể của văn hóa và nghệ thuật” [62, tr. Bàn về bản sắc dân tộc trong lĩnh vực âm nhạc, nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Loan – tác giả bài viết Bàn về biến số - hằng số và bản sắc dân tộc trong âm nhạc Việt Nam viết: “Tìm bản sắc dân tộc trong âm nhạc Việt Nam (…) đó là tìm những gì mà người Việt Nam ưa thích sử dụng trong âm nhạc của mình và gìn giữ chúng trong chiều dài lịch sử.
Trong bài viết Giữ lấy bản sắc trong nền âm nhạc Việt Nam của Nguyễn Thanh có đoạn: “Vậy thì bản sắc văn hóa Việt Nam là gì? (…) ở một giới hạn nào đó cái bản sắc ấy là ngôn ngữ, hơi thở, nhịp điệu, thẩm mỹ của người dân Việt Nam được thể hiện qua ngôn ngữ âm nhạc, mà người nghe thông qua đó sẽ biết chắc chắn đấy là âm nhạc Việt Nam” [44, tr. Mặc dù khái niệm về bản sắc dân tộc trong các công trình bài viết dẫn ra ở trên được giải thích chủ yếu nhằm phục vụ mục tiêu nghiên cứu của tác giả, chúng đều phản ánh những đặc điểm riêng riêng của một dân tộc, là cái dùng để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Một điểm cũng cần lưu ý – như đã trình bày ở tiểu mục 1.1, theo cách giải thích trong các từ điển, từ “dân tộc” có thể được sử dụng và được hiểu theo hai cấp độ khác nhau. Trên thực tế, cho tới nay, ở Việt Nam, từ 12 “dân tộc” cũng vẫn thường được dùng chung cho cả hai cấp độ là quốc gia và tộc người.
Chẳng hạn, trong Văn kiện của Đảng về chính sách Dân tộc, điều này đã được thể hiện qua đoạn viết: “Các dân tộc2 trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” [123, tr.01]; hoặc cũng Văn kiện của Đảng ở Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII có ghi: “Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc” [111, tr. Có thể thấy, nội dung đoạn trích thứ nhất thể hiện từ “dân tộc” thay thế từ “tộc người”, còn từ “dân tộc” trong nội dung đoạn trích thứ hai thì thể hiện ở cấp độ “dân tộc quốc gia”. Vì thế, khái niệm bản sắc dân tộc cũng có thể được sử dụng khi nói về văn hóa của một dân tộc theo một trong hai cấp độ nói trên – dân tộc ở cấp độ quốc gia hoặc dân tộc ở cấp độ tộc người. Như vậy, với cách giải thích của các từ điển cũng như cách giải thích của các tác giả công trình, bài viết, có thể định nghĩa: bản sắc dân tộc chính là tính cách riêng của một cộng đồng người với những lối suy nghĩ, tiến hành và biểu hiện văn hóa theo cách của dân tộc mình.
Trong một số công trình, bài viết, có khi những cụm từ “tính dân tộc”, “tính cách dân tộc”, “bản sắc văn hóa của quốc gia – dân tộc” được sử dụng thay vì cụm từ “bản sắc dân tộc”. Về cơ bản, những cụm từ trên đều chứa đựng ý nghĩa tương tự như “bản sắc dân tộc”. Bên cạnh đó, như đã trình bày ở phía trên, bởi thuật ngữ “dân tộc” có thể được dùng cho cả hai cấp độ, cho nên, trong luận án này, chúng tôi sẽ tìm hiểu các vấn đề về bản sắc dân tộc ở cả cấp độ tộc người và quốc gia.