Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Văn hóa học (chuyên ngành Văn hóa dân gian, mã số 62317005) với đề tài "Bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam" do nghiên cứu sinh Trần Bảo Lân thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thụy Loan, bảo vệ năm 2013.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ca khúc mới Việt Nam hình thành từ những năm 30 của thế kỷ XX trên cơ sở tiếp thu kỹ thuật sáng tác và phương thức ghi nhạc phương Tây. Từ thời điểm ra đời cho đến nay, vấn đề bản sắc dân tộc luôn là tâm điểm chú ý của giới nghiên cứu âm nhạc và văn hóa. Kể từ khi đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới (1986), sự gia tăng giao lưu văn hóa và kinh tế thị trường đã dẫn tới việc du nhập nhiều yếu tố âm nhạc nước ngoài ở cả nội dung lẫn hình thức thể hiện. Đời sống âm nhạc ghi nhận nhiều ca khúc có biểu hiện mờ nhạt bản sắc dân tộc, thậm chí lai căng, vay mượn giai điệu ngoại lai (như cảnh báo trong các bài viết của Đỗ Tuấn năm 2006 và Nguyễn Đình San năm 2009).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: mặc dù có nhiều bài viết và thảo luận, nhưng trước thời điểm thực hiện luận án, chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam dưới góc nhìn liên ngành giữa văn hóa học và âm nhạc học.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu thực chất vấn đề bản sắc dân tộc với những biểu hiện cụ thể trong ca khúc mới Việt Nam.
- Chỉ ra những yếu tố nền tảng đối với việc biểu hiện bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam.
- Làm rõ sự biến đổi của phương thức biểu hiện bản sắc dân tộc trong ca khúc mới ở hai giai đoạn lịch sử: trước và trong thời kỳ Đổi mới; đánh giá tác động của phương thức biểu hiện tới bản sắc dân tộc trong ca khúc thời Đổi mới và đưa ra một vài gợi mở nhằm phát triển ca khúc theo hướng dân tộc – hiện đại.
- Rút ra một số nhận thức lý luận về bản sắc dân tộc nói chung từ kết quả nghiên cứu bản sắc dân tộc trong ca khúc mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam và các khía cạnh liên quan.
- Phạm vi tư liệu và khảo sát:
- Tuyển chọn 60 ca khúc phổ biến được sáng tác qua các giai đoạn lịch sử khác nhau gắn với các thế hệ nhạc sĩ để tiến hành điều tra xã hội học. Danh sách ca khúc chính thức phục vụ phân tích chuyên sâu được rút lại gồm 53 ca khúc đạt tỷ lệ đồng thuận từ 70% trở lên trong khảo sát công chúng.
- Sử dụng các bản nhạc ghi âm, đĩa tiếng, đĩa hình đã phát hành để khảo sát phần hòa âm phối khí và phong cách biểu diễn.
- Giới hạn loại trừ: Luận án không nghiên cứu các ca khúc dành cho lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng và các tác phẩm thuộc thể loại thanh xướng kịch.
- Phạm vi thời gian và không gian: Tập trung so sánh hai giai đoạn lịch sử chính (trước Đổi mới và trong thời kỳ Đổi mới); khảo sát công chúng trên địa bàn ba miền Bắc, Trung, Nam (tập trung tại các đô thị lớn: Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, TP. Hồ Chí Minh và một số điểm nông thôn, vùng cao).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trước đây theo hai phân hệ chính: nghiên cứu bản sắc dân tộc trong văn hóa/âm nhạc nói chung và nghiên cứu bản sắc dân tộc trong ca khúc mới.
Tình hình nghiên cứu bản sắc dân tộc trong văn hóa và âm nhạc nói chung
Tác giả phân chia lịch sử nghiên cứu thành 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước năm 1954: Các công trình nghiên cứu của học giả Pháp không đề cập trực tiếp đến bản sắc dân tộc trong âm nhạc. Tác giả trong nước chủ yếu có các ghi chép mạn đàm như bài Luận bàn về âm nhạc nước nhà của Trần Quang Quờn (Tân Văn tuần báo, 1935), bài “Việt Nam tính” trong âm nhạc cũ Việt Nam của Nguyễn Duy Diễn (Tạp chí Quê hương, 1951) sau khi Đề cương Văn hóa của Đảng ra đời năm 1943.
- Giai đoạn 1954 – 1975: Xuất hiện nhiều bài viết gắn với định hướng văn hóa dân tộc của Đảng như Đỗ Nhuận (1957), Lưu Hữu Phước (1959), P.V (1969), Hà Huy Giáp (1970), Tú Ngọc (1972), Lô Thanh (1972), Trần Hiếu (1972), cùng tập sách Về tính dân tộc trong âm nhạc Việt Nam (Nxb Văn hóa, 1972).
- Giai đoạn 1975 – 1986: Các nghiên cứu hưởng ứng đường lối văn hóa như Trần Đình Thọ và Lê Anh Trà (1976), Hồ Sĩ Vịnh (1981), Hà Xuân Trường (1985); các nghiên cứu khoa học chuyên sâu như Tú Ngọc (1976), Nguyễn Đỗ Cung (1978), Nguyễn Thụy Loan (1980), Nguyễn Viêm (1982); các chuyên khảo của Trần Văn Giàu (Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, 1980) và tập sách Bản lĩnh, bản sắc các dân tộc ở Việt Nam (1980).
- Giai đoạn 1986 – 2012: Nhiều nghiên cứu đa dạng ra đời trong bối cảnh Đổi mới và phong trào bảo vệ đa dạng văn hóa của UNESCO. Tiêu biểu có các bài viết của Quang Đạm (1986), Lệ Cung (1986), Lê Duy Hạnh (1998), Nguyễn Thanh (1998), Nguyễn Thụy Loan (1994), Nguyễn Thế Tuân (2002), Irina Miacova (Vũ Quang Chính dịch, 1988); các cuốn sách của Đỗ Huy và Trường Lưu (1990), Trần Ngọc Thêm (1996), Phan Ngọc (1998), Nguyễn Khoa Điềm chủ biên (2001), Đỗ Huy (2002), Nguyễn Xuân Kính (2003, 2012), Trường Lưu (2003), và đề tài cấp Bộ do Ngô Đức Thịnh chủ nhiệm (2006–2007).
Tình hình nghiên cứu bản sắc dân tộc trong ca khúc mới
- Trước năm 1972: Chưa có tài liệu nghiên cứu trực tiếp về bản sắc dân tộc trong ca khúc mới.
- Giai đoạn 1972 – 1975: Bắt đầu xuất hiện các bài viết nhận diện tính dân tộc hoặc đúc kết kinh nghiệm sáng tác của Nguyễn Xinh (1972), Nguyễn Viêm (1975), Nguyễn Xuân Khoát (1972), Hồ Bắc (1974).
- Giai đoạn 1975 – 2000: Có sự gián đoạn về thời gian; không ghi nhận công trình chuyên khảo trực tiếp về bản sắc dân tộc trong ca khúc mới.
- Giai đoạn 2000 – 2012: Xuất hiện trở lại nhiều bài viết phê bình thực trạng ca khúc trẻ của Đỗ Tuấn (2006), Nguyễn Đình San (2009), trao đổi học thuật của Ngọc Điệp (2010), Lê Văn Huân (2010); sách nghiên cứu ca từ của Dương Viết Á (2000), phương pháp sáng tác của Tiến Dũng (2001), hồi ký của Đỗ Nhuận (2003), chuyên khảo của học giả Mỹ Jason Gibbs (Rock Hà Nội và Rumba Cửu Long, Nguyễn Trương Quý dịch, 2008), và luận văn thạc sĩ của Trần Bảo Lân (Các yếu tố dân gian trong ca khúc Việt Nam thời đổi mới 1986–2007, 2007).
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án tập trung giải quyết 3 điểm mâu thuẫn lý luận còn tồn tại giữa các học giả đi trước:
- Mối liên hệ giữa yếu tố dân gian và bản sắc dân tộc: Làm rõ vị trí của chất liệu dân gian đối với bản sắc dân tộc giữa các luồng ý kiến khẳng định (Nguyễn Thành Đức), gắn với tính thời đại (Hoàng Đạm), hoặc xem chất liệu dân gian chỉ là phương tiện không quyết định bản sắc (Thiên Lang).
- Biểu hiện bản sắc dân tộc trong quốc gia đa dân tộc: Đối thoại giữa ba quan điểm: chỉ gồm yếu tố chung bao quát (Quang Đạm), gồm cả bản sắc riêng của từng tộc người (Trần Độ), hay gồm cả yếu tố riêng của vùng miền (Hà Xuân Trường).
- Đặc tính khách quan hay chủ quan của bản sắc dân tộc: Đối thoại giữa quan điểm bản sắc hình thành khách quan (Hồ Sĩ Vịnh) và bản sắc là sản phẩm tư duy chủ quan của cá nhân/cộng đồng (Nguyễn Văn Chính).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm cốt lõi
- Khái niệm bản sắc dân tộc: Tổng hợp từ các từ điển (Từ điển tiếng Việt thông dụng, Đại từ điển tiếng Việt, Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam) và công trình nghiên cứu, luận án định nghĩa: Bản sắc dân tộc là bản tính, cốt cách của một cộng đồng người với những lối suy nghĩ, tiến hành và biểu hiện văn hóa theo cách riêng của dân tộc mình. Luận án phân biệt rõ hai cấp độ: cấp độ quốc gia ("dân tộc") và cấp độ thành phần ("tộc người"), đồng thời xem xét cấp độ bản sắc vùng miền.
- Khái niệm ca khúc mới: Các bài hát được hình thành từ những năm 30 của thế kỷ XX trên cơ sở tiếp thu kỹ thuật sáng tác và phương thức ghi chép âm nhạc phương Tây, phân biệt với ca khúc cổ truyền (dân ca).
- Lý thuyết văn hóa dân gian và tính biến đổi: Dựa trên luận điểm của Nguyễn Thụy Loan (1993, 2006), Nguyễn Xuân Kính (2003), Đỗ Nhuận (1972), Tú Ngọc (1972), Phạm Đình Sáu (1972), Tô Ngọc Thanh (2009) về vai trò nền tảng của âm nhạc dân gian và quy luật biến đổi lịch sử - xã hội của bản sắc dân tộc.
- Lý thuyết âm nhạc học: Sử dụng hệ thống lý thuyết âm nhạc cơ bản của V.Vakhrameep (Vũ Tự Lân dịch, 1993) về cao độ, trường độ, cường độ, âm sắc, tiết tấu, tiết nhịp, điệu thức, giọng, quãng, hợp âm.
- Lý thuyết điệu thức ngũ cung: Ứng dụng phương pháp xác định và ghi mô hình điệu thức của PGS. Nguyễn Thụy Loan về các hệ thống điệu thức cổ truyền Việt Nam (điệu Bắc, Nam, Xuân, Oán gốc và các biến thể 1–4, Tây Nguyên 1–3). Các con số trong mô hình thể hiện số lượng nửa cung giữa hai bậc liền kề (ví dụ: điệu Bắc: 2-2-3-2-3; hệ thống Oán 1: 4-3-1-4-2; hệ thống Tây Nguyên 1: 4-3-1-4-2).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp giữa văn hóa học và âm nhạc học để phân tích văn bản âm nhạc và bối cảnh văn hóa - xã hội.
- Phương pháp xử lý tài liệu văn bản:
- Phân tích văn bản chữ để tổng thuật lịch sử nghiên cứu và lý luận.
- Phân tích văn bản bản nhạc (musical scores) và các bản thu âm/hình để nhận diện cấu trúc thang âm, điệu thức, tiết tấu, hòa âm, phối khí.
- Phương pháp điều tra xã hội học:
- Thiết kế mẫu điều tra: Xác định tổng số 594 phiếu điều tra lý thuyết nhằm đảm bảo tính đại diện đa tầng:
- Nhóm làm nghề âm nhạc (270 phiếu): 4 nhóm nhỏ (nghiên cứu âm nhạc: 54 phiếu; biểu diễn: 54 phiếu; đào tạo âm nhạc: 54 phiếu; giảng dạy phổ thông: 108 phiếu) chia theo 3 lứa tuổi (cao niên, trung niên, thanh niên) và 3 miền (Bắc, Trung, Nam).
- Nhóm làm nghề khác (324 phiếu): 5 nhóm nhỏ (lao động trí óc: 54 phiếu; công nhân: 54 phiếu; nông dân: 54 phiếu; hoạt động tự do: 54 phiếu; quân nhân: 108 phiếu) chia theo 3 lứa tuổi và phân bố vùng miền.
- Triển khai thực tế: Phát ra 640 phiếu, thu về 612 phiếu, loại bỏ 26 phiếu không hợp lệ, còn lại 586 phiếu hợp lệ được đưa vào xử lý dữ liệu.
- Tiêu chí xử lý: Chỉ công nhận những ca khúc đạt tỷ lệ đồng thuận đánh giá từ 70% trở lên của công chúng được khảo sát, đồng thời đối chiếu mức độ tương đồng với nhận định chuyên môn của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương 1 (43 trang) tập trung giải quyết ba nội dung nền tảng:
- Giới thuyết các khái niệm công cụ: "bản sắc dân tộc", "dân tộc", "tộc người", "ca khúc mới", "ca khúc thời đổi mới".
- Phân kỳ và tổng thuật lịch sử nghiên cứu bản sắc dân tộc trong văn hóa nói chung (4 giai đoạn) và trong ca khúc mới (4 giai đoạn).
- Đúc kết các luận điểm đã thống nhất và chỉ ra 3 điểm mâu thuẫn lý luận cần giải quyết; xác lập khung lý thuyết âm nhạc học, văn hóa học và thiết kế mô hình điều tra xã hội học 586 phiếu hợp lệ.
Chương 2: Bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam và những biến đổi của nó
Chương 2 (trang 44 đến 92) đi sâu phân tích thực trạng bản sắc dân tộc trong ca khúc mới và các yếu tố cấu thành thông qua số liệu điều tra xã hội học và phân tích âm nhạc học.
Từ kết quả tổng hợp 586 phiếu điều tra trên 60 ca khúc dự kiến, có 53 ca khúc đạt mức độ đồng thuận từ 70% trở lên, được phân loại thành 4 nhóm cụ thể:
1. Nhóm ca khúc mang bản sắc dân tộc đậm (14 ca khúc)
Tỷ lệ đồng thuận của công chúng đạt từ 71,90% đến 91,28%.
| STT |
Tên ca khúc |
Tác giả |
Số người biết/Tổng số phiếu |
Số người đồng thuận/Số người biết (%) |
| 1 |
Về quê |
Phó Đức Phương |
562/586 |
513/562 (91,28%) |
| 2 |
Đất nước lời ru |
Văn Thành Nho |
569/586 |
517/569 (90,86%) |
| 3 |
Mái đình làng biển |
Nguyễn Cường |
554/586 |
493/554 (88,98%) |
| 4 |
Chị Mai xuống chợ |
Lê Lan |
496/586 |
433/496 (87,32%) |
| 5 |
Những cô gái Quan họ |
Phó Đức Phương |
539/586 |
461/539 (85,52%) |
| 6 |
Tình ta biển bạc đồng xanh |
Hoàng Sông Hương |
571/586 |
479/571 (83,88%) |
| 7 |
Thanh niên vui mở đường |
Đỗ Nhuận |
437/586 |
366/437 (83,75%) |
| 8 |
Lời Bác dặn trước lúc đi xa |
Trần Hoàn |
564/586 |
462/564 (81,91%) |
| 9 |
Quảng Bình quê ta ơi |
Hoàng Vân |
498/586 |
399/498 (80,12%) |
| 10 |
Em là hoa Pơ lang |
Đức Minh |
481/586 |
375/481 (77,96%) |
| 11 |
Bà tôi |
Nguyễn Vĩnh Tiến |
566/586 |
435/566 (76,85%) |
| 12 |
Chiếc áo bà ba |
Trần Thiện Thanh |
573/586 |
426/573 (74,34%) |
| 13 |
Địu con đi nhà trẻ |
Đào Ngọc Dung |
540/586 |
398/540 (73,70%) |
| 14 |
Sợi nhớ sợi thương |
Phan Huỳnh Điểu (thơ Thúy Bắc) |
509/586 |
366/509 (71,90%) |
2. Nhóm ca khúc mang bản sắc dân tộc đậm vừa (15 ca khúc)
Tỷ lệ đồng thuận của công chúng đạt từ 71,21% đến 92,29%.
| STT |
Tên ca khúc |
Tác giả |
Số người biết/Tổng số phiếu |
Số người đồng thuận/Số người biết (%) |
| 1 |
Tình ca Tây Bắc |
Bùi Đức Hạnh (thơ Cầm Giang) |
571/586 |
527/571 (92,29%) |
| 2 |
Đóng nhanh lúa tốt |
Lê Lôi (thơ Huyền Tâm) |
509/586 |
458/509 (89,98%) |
| 3 |
Ôi quê tôi |
Lê Minh Sơn |
522/586 |
469/522 (89,84%) |
| 4 |
Lời ru Âu Lạc |
Nguyễn Minh Sơn |
546/586 |
479/546 (87,72%) |
| 5 |
Em muốn sống bên anh trọn đời |
Nguyễn Cường |
568/586 |
492/568 (86,61%) |
| 6 |
Sao em nỡ vội lấy chồng |
Trần Tiến |
579/586 |
497/579 (85,83%) |
| 7 |
Bức họa đồng quê |
Văn Phụng |
571/586 |
480/571 (84,06%) |
| 8 |
Người Hà Nội |
Nguyễn Đình Thi |
574/586 |
475/574 (82,75%) |
| 9 |
Câu chuyện đầu năm |
Hoài An |
572/586 |
471/572 (82,34%) |
| 10 |
Lòng mẹ |
Y Vân |
561/586 |
452/561 (80,57%) |
| 11 |
Thì thầm mùa xuân |
Ngọc Châu |
568/586 |
446/568 (78,52%) |
| 12 |
Giấc mơ trưa |
Giáng Son (lời Nguyễn Vĩnh Tiến) |
576/586 |
445/576 (77,25%) |
| 13 |
Con cò |
Lưu Hà An |
554/554 |
417/554 (75,27%) |
| 14 |
Đường chúng ta đi |
Huy Du (thơ Xuân Sách) |
579/586 |
422/579 (72,88%) |
| 15 |
Chiến thắng Điện Biên |
Đỗ Nhuận |
542/586 |
386/542 (71,21%) |
3. Nhóm ca khúc mang bản sắc dân tộc nhạt (9 ca khúc)
Tỷ lệ đồng thuận của công chúng đạt từ 70,12% đến 87,76%.
| STT |
Tên ca khúc |
Tác giả |
Số người biết/Tổng số phiếu |
Số người đồng thuận/Số người biết (%) |
| 1 |
Em và tôi |
Thanh Tùng |
564/586 |
495/564 (87,76%) |
| 2 |
Hồ Gươm sáng sớm |
Lưu Thiên Hương |
487/586 |
413/487 (84,80%) |
| 3 |
Biển nhớ |
Trịnh Công Sơn |
571/586 |
459/571 (80,38%) |
| 4 |
Diễm xưa |
Trịnh Công Sơn |
576/586 |
446/576 (77,43%) |
| 5 |
Xích lô |
Võ Thiện Thanh |
524/586 |
402/524 (76,71%) |
| 6 |
Một cõi đi về |
Trịnh Công Sơn |
552/586 |
406/552 (73,55%) |
| 7 |
Cùng nhau đi hùng binh |
Đinh Nhu |
527/586 |
378/527 (71,72%) |
| 8 |
Chuông gió |
Võ Thiện Thanh |
536/586 |
382/536 (71,26%) |
| 9 |
Một thoáng quê hương |
Từ Huy – Thanh Tùng |
569/586 |
399/569 (70,12%) |
4. Nhóm ca khúc không mang bản sắc dân tộc (15 ca khúc)
Tỷ lệ đồng thuận của công chúng đạt từ 70,02% đến 93,67% (như trường hợp bài Lời của gió của Duy Thái: 423/580 người đánh giá không có bản sắc dân tộc, chiếm đa số áp đảo).
Chương 2 tiếp tục phân tích sự biến đổi của phương thức biểu hiện bản sắc dân tộc giữa hai thời kỳ: trước Đổi mới (gắn liền với âm hưởng ngợi ca, hành khúc, khai thác dân gian trực tiếp theo vùng miền phục vụ kháng chiến) và thời kỳ Đổi mới (đa dạng hóa thể loại, kết hợp yếu tố dân gian với nhạc nhẹ, pop, rock, world music, làm biến đổi hòa âm, tiết tấu và cách thể hiện của ca sĩ).
Chương 3: Từ bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam, góp bàn thêm về bản sắc dân tộc nói chung
Chương 3 (trang 92 đến 126) mở rộng từ kết quả nghiên cứu ca khúc mới sang các vấn đề lý luận văn hóa:
- Về bản sắc dân tộc trong quốc gia có nhiều thành phần dân tộc: Luận chứng rằng bản sắc dân tộc của một quốc gia đa dân tộc không chỉ giới hạn ở các mẫu số chung mà bao gồm tổng hòa bản sắc riêng của 54 dân tộc anh em và các sắc thái văn hóa vùng miền được tích hợp qua lịch sử cộng cư.
- Về tính khách quan và chủ quan của bản sắc dân tộc: Làm sáng tỏ bản sắc dân tộc vừa tồn tại khách quan như một hệ thống giá trị lịch sử - văn hóa được tích lũy qua thời gian, vừa mang tính chủ quan qua lăng kính sáng tạo, cảm nhận và tái định hình của chủ thể sáng tác cũng như công chúng tiếp nhận.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận và thực tiễn
Theo văn bản luận án tự xác định, công trình có các đóng góp sau:
- Là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam dưới góc nhìn liên ngành âm nhạc học và văn hóa học.
- Hệ thống hóa các khía cạnh biểu hiện của bản sắc dân tộc trong ca khúc mới thông qua cấu trúc âm nhạc (thang âm, điệu thức, tiết tấu, ca từ) và phương thức trình diễn.
- Làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố cổ truyền dân tộc với bản sắc dân tộc trong ca khúc mới, khẳng định vai trò nền tảng đặc biệt của chất liệu âm nhạc dân gian.
- Chỉ ra những biến đổi cụ thể của bản sắc dân tộc trong ca khúc thời kỳ Đổi mới so với giai đoạn trước Đổi mới.
- Giải quyết các tranh luận lý luận về bản sắc dân tộc: làm rõ bản sắc dân tộc trong quốc gia đa dân tộc và tính chất kết hợp giữa khách quan và chủ quan của bản sắc văn hóa.
Đề xuất và giải pháp
Luận án gợi mở phương hướng nhằm phát triển ca khúc Việt Nam theo định hướng dân tộc – hiện đại trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhấn mạnh việc nắm vững vốn văn hóa cổ truyền kết hợp tiếp thu tinh hoa âm nhạc thế giới mà không làm mất đi cốt cách dân tộc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi tư liệu: Luận án giới hạn khảo sát trên 60 ca khúc phổ biến (chọn ra 53 ca khúc chính thức đạt tiêu chuẩn khảo sát); chưa thể bao quát toàn bộ khối lượng ca khúc mới đồ sộ từ thập niên 1930 đến nay.
- Hạn chế về thể loại: Chưa khảo sát các mảng ca khúc thiếu nhi, nhi đồng và các thể loại thanh xướng kịch.
- Hạn chế về địa bàn điều tra: Mẫu khảo sát tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn đại diện 3 miền và một số điểm phụ cận; chưa tiếp cận sâu các vùng biên giới, hải đảo xa xôi do điều kiện đi lại và mức độ tiếp cận ca khúc mới của cư dân nơi đây còn hạn chế.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu bản sắc dân tộc sang các thể loại khí nhạc, nhạc kịch, các tác phẩm khí nhạc thính phòng và mở rộng điều tra xã hội học ở các nhóm công chúng chuyên biệt khác.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo cho chuyên ngành Văn hóa học, Văn hóa dân gian, Lý luận âm nhạc, Âm nhạc học; đặc biệt hữu ích ở phương pháp luận nghiên cứu liên ngành và hệ thống phân loại điệu thức ngũ cung ứng dụng trong phân tích ca khúc mới.
- Đối với nhạc sĩ sáng tác và người biểu diễn: Cung cấp tư liệu phân tích về cấu trúc thang âm, điệu thức cổ truyền (Bắc, Nam, Oán, Tây Nguyên) giúp định hướng khai thác chất liệu dân gian trong sáng tác đương đại.
- Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách văn hóa: Cung cấp số liệu khảo sát thực chứng về thị hiếu công chúng và đánh giá thực trạng bản sắc dân tộc trong các chương trình âm nhạc thời kỳ hội nhập.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "bản sắc dân tộc" như thế nào?
Theo luận án, bản sắc dân tộc được định nghĩa là bản tính, cốt cách của một cộng đồng người với những lối suy nghĩ, tiến hành và biểu hiện văn hóa theo cách riêng của dân tộc mình. Khái niệm này được xem xét ở cả hai cấp độ: cấp độ dân tộc quốc gia (nation) và cấp độ dân tộc tộc người (ethnie).
2. Mẫu điều tra xã hội học được thiết kế và thực hiện với quy mô ra sao?
Quy mô mẫu được thiết kế dựa trên tiêu chí đại diện đa tầng: chia thành 2 nhóm lớn (nhóm làm nghề âm nhạc: 270 phiếu; nhóm làm các nghề khác: 324 phiếu, tổng cộng 594 phiếu dự kiến). Khi triển khai thực tế, tác giả phát ra 640 phiếu tại ba miền Bắc, Trung, Nam, thu về 612 phiếu và chọn lọc được 586 phiếu hợp lệ để xử lý số liệu.
3. Tiêu chí lựa chọn ca khúc chính thức để phân tích trong luận án là gì?
Tác giả lập danh sách dự kiến 60 ca khúc đại diện cho các thời kỳ và thế hệ nhạc sĩ. Sau khi điều tra xã hội học, chỉ những ca khúc đạt tỷ lệ đồng thuận đánh giá của công chúng từ 70% trở lên (và có sự tương đồng với nhận định chuyên môn của tác giả) mới được đưa vào danh sách chính thức gồm 53 bài.
4. Ca khúc nào đạt tỷ lệ đồng thuận cao nhất về bản sắc dân tộc đậm trong khảo sát?
Ca khúc Về quê của nhạc sĩ Phó Đức Phương đạt tỷ lệ đồng thuận cao nhất trong nhóm bản sắc dân tộc đậm với 91,28% (513/562 người biết bài hát đánh giá mang bản sắc dân tộc đậm), tiếp theo là Đất nước lời ru của Văn Thành Nho đạt 90,86% (517/569 người).
5. Luận án giải quyết mâu thuẫn về bản sắc dân tộc trong quốc gia đa thành phần dân tộc như thế nào?
Luận án chỉ ra rằng bản sắc dân tộc của một quốc gia như Việt Nam không chỉ gói gọn trong các yếu tố chung phổ quát của toàn thể quốc gia (quan điểm của Quang Đạm), mà còn bao hàm cả bản sắc độc đáo riêng biệt của từng tộc người (quan điểm của Trần Độ) và sắc thái đa dạng của các vùng miền (quan điểm của Hà Xuân Trường).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trần Bảo Lân là công trình khảo cứu liên ngành giữa Văn hóa học và Âm nhạc học về vấn đề bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam từ khởi nguyên đến thời kỳ Đổi mới. Bằng việc kết hợp khung phân tích điệu thức âm nhạc truyền thống với phương pháp điều tra xã hội học thực nghiệm trên 586 mẫu công chúng hợp lệ, luận án đã phân loại và làm sáng tỏ mức độ đậm nhạt của bản sắc dân tộc trong 53 ca khúc điển hình. Công trình giải quyết các điểm tranh luận lý luận về tính khách quan/chủ quan và cấu trúc đa tộc người của bản sắc văn hóa, đóng góp tư liệu nghiên cứu cho lĩnh vực văn hóa dân gian và âm nhạc học Việt Nam.