Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và đề xuất ứng dụng kết quả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm bệnh viện Theo Wikipedia thì bệnh viện hay nhà thương là cơ sở để khám và chữa trị cho bệnh nhân khi bệnh của họ không thể chữa ở nhà hay nơi nào khác. Đây là nơi tập trung các chuyên viên y tế gồm các bác sĩ nội và ngoại khoa, các y tá, các kỹ thuật viên xét nghiệm cận lâm sàng. Theo Tổ chức y tế thế giới, bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của tổ chức xã hội y tế.
Chức năng của nó là chăm sóc sức khoẻ toàn diện cho người dân, cả phòng bệnh, chữa bệnh và dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới gia đình và môi trường cư trú. Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu khoa học. Trước đây, bệnh viện chỉ được coi đơn thuần là một cơ sở khám và điều trị bệnh nhân. Bước sang thế kỷ XX, cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới đã phát triển như vũ bão và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, làm thay đổi sâu sắc quan niệm về bệnh viện.
Bệnh viện không chỉ đơn thuần làm công tác khám và điều trị mà còn thực hiện những chức năng khác trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân như giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe tại nhà, và đồng thời còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và tiến hành các nghiên cứu y học về khám chữa bệnh và phòng bệnh. Khái niệm dịch vụ y tế Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): Dịch vụ y tế bao gồm tất cả các dịch vụ về chẩn đoán, điều trị bệnh tật và các hoạt động chăm sóc, phục hồi sức khoẻ. Chúng bao gồm các dịch vụ y tế cá nhân và các dịch vụ y tế công cộng.TS Lê Chi Mai: Dịch vụ y tế bao gồm dịch vụ về khám chữa bệnh, tiêm chủng, phòng chống bệnh tật…. Đây được xem như một quyền cơ bản của con người, vì vậy không thể để cho thị trường chi phối mà đó là trách nhiệm của nhà nước.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Tóm lại, có nhiều quan niệm về dịch vụ y tế được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì: Dịch vụ y tế chính là một loại hàng hóa dịch vụ công khai đặc thù, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân và cộng đồng bao gồm hai nhóm dịch vụ thuộc khu vực công mở rộng: Nhóm dịch vụ khám, chữa bệnh theo yêu cầu (mang tính chất hàng hóa tư nhiều hơn có thể áp dụng cơ chế cạnh tranh trong thị trường này) và nhóm dịch vụ y tế công cộng như phòng chống dịch bệnh (mang tính chất hàng hóa công nhiều hơn)…do Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm. Ngoài ra, trong Điều 2 Luật Khám và chữa bệnh của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2009, một số khái niệm cũng được đề cập như sau: - Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàn, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận. - Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh. - Người bệnh là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.
- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.3 Phân loại bệnh viện Bệnh viện được phân loại theo hai tiêu chí đó là phân loại theo chức năng và phân loại theo quy mô. Đây là cách thức phân loại bệnh viện phổ biến nhất trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hiện nay. Đối với hình thức phân loại bệnh viện theo chức năng, bệnh viện được chia làm 07 loại như sau: - Bệnh viện đa khoa: là những bệnh viện lớn, có thể xét nghiệm và chữa trị hầu hết cac loại chứng bệnh. Tại đây, bác sĩ chuyên khoa mỗi ngành làm việc tại một khu riêng của ngành mình nhưng vẫn có thể liên lạc với những bác sĩ của ngành khác TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 để cộng tác chữa trị công hiệu, nhất là nghiên cứu những bệnh khó chẩn đoán hay chữa trị.
Các bệnh viện này thường có phòng cấp cứu, phòng xét nghiệm và phòng điều trị tăng cường. - Bệnh viện chuyên khoa: là bệnh viện được thành lập chuyên ngành vì nhu cầu điều trị đặc biệt như bệnh viện nhi khoa, bệnh viện mắt, bệnh viện lão,. - Phòng khám: là một cơ sở y tế có nhiều phòng để bác sĩ khám bệnh. Khác với phòng mạch là nơi chẩn bệnh riêng của từng bác sĩ, phòng khám mang tính công cộng hơn và thường có nhiều hỗ trợ y tế hơn như y tá, chuyên viên vật lý trị liệu, y sĩ nha khoa.
Phòng khám thường không có phòng và giường cho bệnh nhân ngủ lại. Phòng khám thường sạch đẹp và trang thiết bị hiện đại. - Bệnh xá hay trạm xá: là nơi chẩn đoán và chữa trị tạm thời người bệnh địa phương, thường do y tá quản lý, thiết kế nhỏ và trang thiết bị không nhiều. - Bệnh viện cấp 3: là những bệnh viện có khả năng tiếp nhận tất cả những ca bệnh khó chữa, hiểm nghèo trong toàn vùng.
Bệnh việc cấp 3 có bác sĩ tay nghề cao, phòng bệnh được trang bị máy móc y tế hiện đại. Khi bác sĩ tại các bệnh viện trong vùng gặp khó khăn trong vấn đề chẩn đoán hay chữa trị, họ có thể chuyển bệnh nhân lên bệnh viện cấp 3. - Viện nghiên cứu khoa học: là nơi học tập và nghiên cứu của sinh viên y khoa, giáo sư và nhàn nghiên cứu khoa học y khoa. Đa só các bệnh viện lớn đều có viện nghiên cứu y học về các ngành chuyên khoa.
- Bệnh viện tư và cộng đồng: là bệnh viện do tư nhân hay Nhà nước thành lập và làm chủ sở hữu. Bệnh nhân vào bệnh viện tư phải đóng lệ phí cao hơn so với bệnh viện Nhà nước, nhưng thời gian chờ đợi và thủ tục giấy tờ nhanh và gọn hơn bệnh viện Nhà nước. Đối với hình thức phân loại bệnh viện theo quy mô: hiện nay bệnh viện Việt Nam được chia thành 04 loại gồm loại nhỏ từ 50 - 150 giường; loại trung bình từ 150 - 400 giường; loại lớn từ 400 - 500 giường; loại cực lớn trên 500 giường. Lý thuyết hành vi ngƣời tiêu dùng 2.
Hành vi ngƣời tiêu dùng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Hành vi tiêu dùng là quá trình mà các cá nhân, nhóm, hay tổ chức lựa chọn, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, ý tưởng hoặc kinh nghiệm để thỏa mãn nhu cầu hoặc ước muốn của họ. Định nghĩa về hành vì tiêu dùng này bao gồm rất nhiều hoạt động và các vai trò khác nhau của người tiêu dùng. Hành vi tiêu dùng là một bộ phận trong hệ thống hành vi của con người. Nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng giúp cho doanh nghiệp tìm hiểu xem khách hàng mua và sử dụng hàng hóa như thế nào.
Trên cơ sở nhận thức rõ được hành vi của người tiêu dùng, doanh nghiệp sẽ có căn cứ chắc chắn để trả lời các vấn đề liên quan tới chiến lược Marketing cần vạch ra. Đó là các vấn đề: Ai là người mua hàng, Họ mua hàng hóa, dịch vụ gì? Mục đích mua các hàng hóa, dịch vụ đó? Họ mua như thế nào? Mua khi nào? Mua ở đâu? (Nguồn: Philip Kotler, 2005) Hình 2.1: Mô hình hành vi của ngƣời tiêu dùng Theo Philip Kotler, nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng là một nhiệm vụ khá quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đối với các quyết định về tiếp thị của doanh nghiệp. Trong những thời gian đầu tiên, những người làm tiếp thị có thể hiểu được người tiêu dùng thông qua những kinh nghiệm bán hàng. Thế nhưng, chính sự phát triển về quy mô của các doanh nghiệp và thị trường đã làm cho nhiều nhà quản trị tiếp thị không còn điều kiện tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nữa.
Điểm xuất phát để hiểu được người mua là mô hình tác nhân phản ứng được thể hiện trong hình 2. Tiếp thị và những tác nhân của môi trường đi vào ý thức của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 người mua. Những đặc điểm và quá trình quyết định của người mua dẫn đến những quyết định mua sắm nhất định. Nhiệm vụ của người làm tiếp thị là hiểu được điều gì xảy ra trong ý thức của người mua giữa lúc các tác nhân bên ngoài bắt đầu tác động và lúc quyết định mua.
Ta sẽ tập trung vào hai câu hỏi sau: - Những đặc điểm nào của người mua ảnh hưởng đến hành vi mua sắm? - Người mua thông qua quyết định mua sắm như thế nào? Theo Philip Kotler, quá trình mua hàng bị tác động bởi một số nhân tố mà những nhà quản trị tiếp thị không thể kiểm soát được như yếu tố văn hoá, yếu tố xã hội, yếu tố cá nhân và yếu tố tâm lý. Tuy vậy những nhân tố này phải được đưa vào để xem xét một cách đúng mức nhằm đạt được hiệu quả về mục tiêu khách hàng.2: Mô hình chi tiết các yếu tố ảnh hƣởng đến hành vi tiêu dùng 2. Các mô hình hành vi ngƣời tiêu dùng 2. Mô hình TRA của Ajzen và Fishbein.
Mô hình thuyết hành động hợp lý (Theory of reasoned action) được Martin Ajzen và Icek Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội và hành vi tiêu dùng (Sheppard và cộng sự, 1998). Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được đưa ra và kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực (Ajzen, 1988; Ajzen và Fishbein, 1980; Canary và Seibold, 1984). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.