Luận văn thạc sĩ về cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 và những bài học quan trọng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh cuộc chiến tranh vùng vịnh năm 1991 và những bài học chủ yếu, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Chuyên ngành

Châu Á học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2012

114
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NGUYÊN NHÂN CỦA CUỘC CHIẾN TRANH

1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực Trung Đông vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX

1.2. Vùng Vịnh trong chiến lược của Mỹ ở Trung Đông

1.2.1. Về chính trị

1.2.2. Về kinh tế

1.2.3. Về quân sự

1.3. Quan hệ Iraq – Kuwait

1.3.1. Những nét sơ lược về Iraq

1.3.2. Những nét sơ lược về Kuwait

1.3.3. Quan hệ Iraq – Kuwait trước khi Iraq xâm lược Kuwait (1990)

1.4. Sự kiện Iraq xâm lược Kuwait

1.5. Phản ứng của các nước Arab

1.6. Phản ứng quốc tế

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CUỘC CHIẾN TRANH VÙNG VỊNH NĂM 1991

2.1. Quan hệ giữa Mỹ và Iraq trước cuộc chiến

2.2. Mỹ và Iraq chuẩn bị chiến tranh

2.3. Mỹ và liên quân tấn công bằng không quân

2.4. Mỹ và liên quân tấn công bằng bộ binh

2.5. Phản ứng của thế giới và Việt Nam

2.5.1. Phản ứng của thế giới

2.5.2. Phản ứng của Việt Nam

2.6. Hậu quả của cuộc chiến tranh với khu vực và thế giới

2.6.1. Về kinh tế

2.6.2. Về chính trị

2.6.3. Về con người

2.6.4. Về môi trường

2.7. Những vấn đề vẫn còn tồn tại giữa Mỹ và Iraq

2.7.1. Về cấm vận

2.7.2. Về giải giáp vũ khí

2.7.3. Về vùng cấm bay

2.7.4. Về quân sự

2.8. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG BÀI HỌC CHỦ YẾU TỪ CUỘC CHIẾN TRANH

3.1. Đánh giá chung

3.1.1. Nguyên nhân Iraq thất bại

3.1.2. Chế độ độc tài của Saddam Hussein

3.1.3. Những sai lầm của Iraq

3.1.4. Nguyên nhân Mỹ và liên quân chiến thắng

3.2. Những bài học chủ yếu từ cuộc chiến tranh

3.2.1. Vai trò của Liên Hợp Quốc trong việc giải quyết các xung đột quốc tế

3.2.2. Xu hướng hòa bình, hữu nghị, tôn trọng độc lập chủ quyền của các dân tộc

3.2.3. Có được sự đồng tình ủng hộ của dư luận và cộng đồng quốc tế khi tiến hành chiến tranh

3.2.4. Nghệ thuật quân sự trên chiến trường

3.2.5. Quân đội đông, trang bị đủ và phải có ý chí chiến đấu

3.2.6. Yếu tố truyền thống

3.3. Chính sách của Mỹ thời hậu chiến

3.4. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về bài học từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh 1991

Cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 không chỉ là một sự kiện quân sự mà còn là một bài học quan trọng cho các quốc gia trong việc xử lý xung đột quốc tế. Cuộc chiến này đã diễn ra trong bối cảnh phức tạp của chính trị toàn cầu, với sự tham gia của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế. Những bài học từ cuộc chiến tranh này vẫn còn giá trị cho đến ngày nay, đặc biệt trong việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực.

1.1. Nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh vùng Vịnh

Cuộc chiến tranh vùng Vịnh bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có sự xung đột giữa Iraq và Kuwait về quyền kiểm soát tài nguyên dầu mỏ. Iraq, dưới sự lãnh đạo của Saddam Hussein, đã tìm cách mở rộng quyền lực và kiểm soát các nguồn tài nguyên quan trọng. Sự xâm lược Kuwait vào năm 1990 đã dẫn đến sự can thiệp của liên quân do Mỹ dẫn đầu.

1.2. Tác động của cuộc chiến tranh đến khu vực và thế giới

Cuộc chiến tranh vùng Vịnh đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, không chỉ cho Iraq và Kuwait mà còn cho toàn bộ khu vực Trung Đông. Hậu quả về kinh tế, chính trị và môi trường đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của người dân và sự ổn định của các quốc gia trong khu vực.

II. Những thách thức trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh 1991

Cuộc chiến tranh vùng Vịnh đã đặt ra nhiều thách thức cho các bên tham gia, từ việc huy động lực lượng quân sự đến việc xây dựng chiến lược chiến tranh hiệu quả. Những thách thức này không chỉ liên quan đến quân sự mà còn đến chính trị và ngoại giao.

2.1. Chiến lược quân sự của Iraq và liên quân

Iraq đã áp dụng chiến lược quân sự dựa trên sức mạnh quân đội đông đảo, nhưng lại thiếu sự chuẩn bị về mặt chiến thuật. Ngược lại, liên quân do Mỹ dẫn đầu đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và áp dụng công nghệ quân sự tiên tiến, dẫn đến chiến thắng nhanh chóng.

2.2. Phản ứng của cộng đồng quốc tế

Cuộc chiến tranh đã thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế, với nhiều quốc gia lên tiếng phản đối hành động xâm lược của Iraq. Liên Hợp Quốc đã đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức các cuộc họp và đưa ra các nghị quyết nhằm ngăn chặn xung đột.

III. Phương pháp giải quyết xung đột từ bài học cuộc chiến tranh

Bài học từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh cho thấy rằng việc giải quyết xung đột cần phải dựa trên sự đồng thuận và hợp tác quốc tế. Các phương pháp hòa bình và ngoại giao cần được ưu tiên để tránh những cuộc xung đột vũ trang.

3.1. Vai trò của Liên Hợp Quốc trong hòa bình

Liên Hợp Quốc đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Các nghị quyết của Liên Hợp Quốc đã tạo ra cơ sở pháp lý cho các hành động quân sự và giúp các quốc gia tìm kiếm giải pháp hòa bình.

3.2. Xu hướng hòa bình và hợp tác quốc tế

Cuộc chiến tranh vùng Vịnh đã thúc đẩy xu hướng hòa bình và hợp tác giữa các quốc gia. Các quốc gia cần phải tìm kiếm các giải pháp hòa bình và tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau để tránh những cuộc xung đột tương tự trong tương lai.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ bài học cuộc chiến tranh vùng Vịnh

Những bài học từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ chính trị đến kinh tế và quân sự. Việc hiểu rõ các nguyên nhân và hậu quả của cuộc chiến sẽ giúp các quốc gia có những quyết định đúng đắn hơn trong tương lai.

4.1. Chính sách đối ngoại của các quốc gia

Các quốc gia cần phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình dựa trên những bài học từ cuộc chiến tranh. Việc duy trì mối quan hệ tốt với các quốc gia khác và tham gia vào các tổ chức quốc tế sẽ giúp tăng cường an ninh và ổn định.

4.2. Quản lý tài nguyên và phát triển bền vững

Cuộc chiến tranh vùng Vịnh đã cho thấy tầm quan trọng của việc quản lý tài nguyên một cách bền vững. Các quốc gia cần phải tìm kiếm các giải pháp phát triển bền vững để tránh những xung đột liên quan đến tài nguyên trong tương lai.

V. Kết luận và tương lai của bài học từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh

Cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 đã để lại nhiều bài học quý giá cho các quốc gia trong việc xử lý xung đột và duy trì hòa bình. Những bài học này vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay, khi mà các xung đột quốc tế vẫn tiếp diễn.

5.1. Tương lai của hòa bình và ổn định khu vực

Việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực Trung Đông là một thách thức lớn. Các quốc gia cần phải hợp tác chặt chẽ để giải quyết các vấn đề còn tồn tại và xây dựng một tương lai hòa bình.

5.2. Bài học cho các thế hệ tương lai

Bài học từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh cần được truyền đạt cho các thế hệ tương lai. Việc hiểu rõ về lịch sử và các nguyên nhân của xung đột sẽ giúp các thế hệ sau có những quyết định đúng đắn hơn trong việc duy trì hòa bình.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. BỐI CẢNH DẪN ĐẾN CUỘC CHIẾN TRANH 1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực Trung Đông vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX Bản đồ khu vực Trung Đông Cuộc chiến tranh 42 ngày ở vùng Vịnh diễn ra trong bối cảnh quốc tế và khu vực khá phức tạp. Trên thế giới, quan hệ Đông – Tây, quan hệ Xô – Mỹ có những thay đổi rõ rệt, nhất là sau cuộc gặp cấp cao ở Manta tháng 12-1989. Cục diện thế giới đang chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại.

Ở Đông Âu, chủ nghĩa xã hội đã đổ vỡ. Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa đang trong khủng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoảng nặng nề. Tổ chức Hiệp ước quân sự Vacsava đơn phương giải thể kèm theo việc Liên Xô rút quân khỏi các nước thành viên. Trong khi đó, khối NATO tiếp tục tồn tại với sự hiện diện của Mỹ ở châu Âu.

Hệ quả của những điều trên là so sánh lực lượng chiến lược có những thay đổi to lớn. Ở Mỹ, mặc dù đang trong thời kỳ suy thoái kinh tế và nhiều hạn chế, song qua hơn 15 năm sau chiến tranh Việt Nam, Mỹ tự cho là đã khôi phục được sức mạnh kinh tế - quân sự. “Đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, cộng đồng các quốc gia dân tộc vận động và phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử rất mới và rất khác thời kỳ chiến tranh lạnh, vừa tạo ra những cơ hội, vừa đặt ra những thách thức mới đối với họ”[35]. Tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh diễn biến phức tạp, diện mạo một trật tự thế giới mới thay cho trật tự hai cực đã tan rã vẫn chưa định hình.

Sau mấy thập niên chiến tranh lạnh, một mặt các nước lớn nhỏ đều muốn có môi trường quốc tế hoà bình, ổn định để phát triển, nên nhìn chung đều điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoại theo hướng tránh đối đầu, tăng cường hợp tác, liên kết, hội nhập trên các tầng nấc khác nhau. Mặt khác, các nước - trước hết là các nước lớn - càng cạnh tranh gay gắt với nhau nhằm giành giật vai trò, vị trí có lợi nhất cho mình trong trật tự thế giới mới đang hình thành. Động thái quan hệ giữa các nước lớn diễn ra hết sức phức tạp, chứa đầy những yếu tố khó lường. Trong khi đó, các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn thời kỳ sau chiến tranh lạnh vẫn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội loài người.

Về tình hình Trung Đông trước chiến tranh vùng Vịnh, đặc biệt trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX, có mấy điểm đáng chú ý sau: Một là, việc tìm giải pháp cho vấn đề Trung Đông được đẩy mạnh nhưng vẫn bế tắc do sự ngoan cố của Israel. Cùng với xu thế giải quyết các cuộc xung đột trên thế giới bằng biện pháp hòa bình, việc tìm giải pháp cho vấn đề Trung Đông được đẩy mạnh vào cuối những năm 80. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tháng 11 năm 1988, Tổ chức giải phóng Palestin (PLO) tuyên bố chấp nhận nghị quyết 242 và 338 của Hội đồng Bảo an LHQ, hàm ý thừa nhận Israel, đã tháo gỡ bế tắc trong việc giải quyết vấn đề Trung Đông. Mỹ tiến hành đối thoại với PLO (từ 12-1988 đến 20-6-1990), Thủ tướng Israel Samia đưa ra kế hoạch bầu cử ở vùng bị chiếm (6-1989), Ai Cập nêu 10 điểm giải pháp (9-1989), Ngoại trưởng Mỹ Baker, đưa ra kế hoạch 5 điểm (10-1989), trong đó đáng chú ý là đối thoại trực tiếp Israel – Palestin.

PLO đã chấp nhận kế hoạch của Baker nhưng đảng Likut của Israel bác bỏ (trong khi Công đảng đồng y), dẫn đến cuộc khủng hoảng nội các Israel (3-6-1989). Sau đó, Israel tiếp tục cản trở bằng việc đưa người Do Thái định cư ở vùng đất chiếm đóng, tố cáo PLO tiếp tục chính sách khủng bố, vấn đề ách tắc cho đến tháng 10-1991. Hai là, thập kỷ 80 của thế kỷ XX nổ ra cuộc chiến tranh Iran – Iraq (1980- 1988). Một trong những nguyên nhân của cuộc chiến tranh là việc tranh chấp chủ quyền đoạn hợp lưu hai con sông Tigre và Eupherates trong đó mục tiêu của Iraq cũng là mở thông cảng Basra, một cảng chính của Iraq.

Cuộc chiến nổ ra gây tổn thất cực lớn về người và vật chất cho cả hai nước. Iran ước tính chịu tới 1 triệu thương vong, chết hay bị thương, và người dân Iran tiếp tục bị ảnh hưởng hay thiệt mạng bởi những hậu quả của các loại vũ khí hoá học do Iraq sử dụng. Thương vong của Iraq ước tính trong khoảng 250.000 người chết hay bị thương. Hàng nghìn dân thường ở cả hai phía chết sau những vụ tấn công của không quân hoặc tên lửa.

Thiệt hại tài chính cũng rất to lớn. Ở thời điểm đó vượt quá 600 tỷ USD cho mỗi nước (tổng cộng 1.2 nghỉn tỷ USD). Nhưng ngay sau chiến tranh, mọi người phát hiện ra rằng chi phí kinh tế cho cuộc chiến vượt xa hơn những ước 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phát triển kinh tế đình trệ và xuất khẩu dầu mỏ tàn lụi.

Những tai hoạ kinh tế đó ở mức độ nghiêm trọng hơn đối với Iraq vì họ phải gánh chịu những khoản vay to lớn cho chiến tranh so với một khoản nợ nhỏ phía Iran, bởi người Iran sử dụng các chiến thuật biển máu nhưng ít tốt kém về kinh tế trong cuộc chiến, đổi mạng sống của binh lính cho việc thiếu hụt tài chính trong việc phòng vệ. Điều này khiến Saddam vẫn ở thế đối đầu với Iran, trong một tình huống vô cùng khó khăn với các đồng minh của ông trong cuộc chiến, bởi khi đó, Iraq đang gánh món nợ quốc tế lên tới 130 tỷ USD, gây khó khăn cho sự quan tâm tới một nền kinh tế sau chiến tranh với tăng trưởng GDP chậm chạp. Có ý kiến cho rằng chính thiệt hại nặng nề của Iraq trong cuộc chiến tranh với Iran là một trong những nguyên nhân góp phần đẩy Saddam Hussein đến hành động xâm lược Kuwait vì Kuwait là một nước rất giàu có về nguồn tài nguyên dầu mỏ.2 Vùng Vịnh trong chiến lược của Mỹ ở Trung Đông Trung Đông với vị trí địa lý đặc biệt của mình và với nguồn dầu khí thiên nhiên phong phú đã trở thành khu vực chiến lược sống còn về kinh tế, quân sự và chính trị đối với Mỹ. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố: “Kẻ nào kiểm soát được Trung Đông thì sẽ thống trị thế giới” [26,9].

Có thể khẳng định là vùng Vịnh là nơi quan trọng nhất đối với Mỹ ở Trung Đông vì những lẽ sau đây: 1.1 Về chính trị Do nằm ở vị trí rất quan trọng, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, vùng Vịnh là nơi tranh chấp quyết liệt giữa hai siêu cường Mỹ và Liên Xô. Mỹ thực hiện những kế họach giúp các nước Arab nhằm không để nguồn dầu mỏ trù phú rơi vào tay Liên Xô và một số cường quốc khác. Năm 1957, Tổng thống Mỹ Eisenhower tuyên bố “Chính sách Eisenhower”, trong đó nói rằng, Mỹ sẽ dùng vũ trang để bảo vệ nền tự chủ của một quốc gia hay một nhóm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quốc gia ở Trung Đông trước sự đe dọa của các nước có thái độ thù nghịch. Sau chiến tranh lạnh, đặc biệt là thời gian gần đây, viện cớ bảo vệ an ninh cho các nước thân cận, Mỹ đã duy trì một lực lượng lớn quân sự ở vùng Vịnh (như các căn cứ quân sự ở Qatar, Bahrain.) nhằm phục vụ cho mưu đồ lâu dài của họ ở khu vực này và trên thế giới nói chung, đồng thời là để răn đe các nước “cấp tiến” như Iran, Syria… Vịnh Arab (người Iran gọi là vịnh Ba Tư) là con đường thuỷ huyết mạch dẫn ra biển duy nhất của nhiều quốc gia trong vùng (Iraq, Kuwait, Iran, Qatar, UAE…).

Nếu kiểm soát được con đường này thì sẽ có điều kiện thuận lợi chi phối được nguồn cung cấp dầu mỏ quan trọng cho thế giới bên ngoài, đặc biệt là Mỹ, Nhật Bản và các nước EU (50% lượng dầu thô vận tải bằng đường biển đi qua eo biển Hormus nằm trên vùng Vịnh) cũng như kiểm soát được các hoạt động buôn bán, đi lại trên biển của các quốc gia ở đây. Vì vậy, nhiều năm qua, Iran và các nước Arab tranh chấp với nhau không những về chủ quyền mà ngay từ tên gọi của Vịnh: Iran gọi là vịnh Ba tư còn các nước Arab thì gọi là vịnh Arab. Một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của Iraq trong cuộc chiến tranh với Iran kéo dài 8 năm (1980 – 1988) và cuộc chiến nhằm chiếm Kuwait năm 1990 là từng bước kiểm soát con đường huyết mạch ra biển này, tiến tới buộc thế giới bên ngoài, đặc biệt là Mỹ, EU, Nhật…lệ thuộc vào mình thông qua việc cung cấp dầu mỏ.2 Về kinh tế Tại đây có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới khoảng 674,7 tỉ thùng, chiếm 65% trữ lượng dầu thế giới và 85% trữ lượng dầu của Tổ chức xuất khẩu dầu mỏ (OPEC). Trong số các nước khu vực này, theo số liệu mới nhất, Iraq đứng thứ hai thế giới với khoảng 115 tỉ thùng, sau Saudi Arabia, và Kuwait đứng thứ năm thế giới với 96,5 tỉ thùng.

Sản lượng dầu thô của khu vực này khoảng 19,5 tỉ thùng/ngày, chiếm 28% sản lượng dầu thế giới và 67% sản lượng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dầu của OPEC (số liệu năm 1996). Nơi đây là nguồn cung cấp dầu thô chủ yếu cho Nhật Bản, Tây Âu và Mỹ. Một trong những mục tiêu chiến lược của Mỹ ở khu vực là duy trì nguồn cung cấp dầu ổn định lâu dài với giá hợp lý.3 Về quân sự Khu vực vùng Vịnh có nhiều nước thân Mỹ, hoặc là phải dựa vào Mỹ để làm đối trọng với Iran, như Saudi Arabia, Kuwait, Bahrain, Qatar, Oman… Cho đến nay, Mỹ vẫn duy trì các căn cứ quân sự và quân đội của mình ở các nước này (Kuwait, Saudi Arabia, Qatar, Bahrain và ở Iraq sau khi Mỹ rút quân khỏi Iraq vào tháng 12-2011 …) và thường xuyên có các hạm đội, tàu chiến ở Vịnh nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ ở khu vực và trên thế giới. Saudi Arabia, Qatar, Kuwait và Arab.

hiện đều có các căn cứ hải quân, không quân và lục quân Mỹ, trong đó có những căn cứ lớn, quan trọng như các căn cứ Arifjan, Buering, Virginia, Ali Al Salem Air Base, Udari Range (Kuwait), Al Udeid Air Base (Qatar), Eskan Village Air Base (Saudi Arabia). Đó là chưa kể nhiều căn cứ quân sự đủ loại, công khai lẫn bí mật, tại các nước khu vực Trung Đông khác chưa được tiết lộ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ