CHƯƠNG 1. BỐI CẢNH DẪN ĐẾN CUỘC CHIẾN TRANH 1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực Trung Đông vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX Bản đồ khu vực Trung Đông Cuộc chiến tranh 42 ngày ở vùng Vịnh diễn ra trong bối cảnh quốc tế và khu vực khá phức tạp. Trên thế giới, quan hệ Đông – Tây, quan hệ Xô – Mỹ có những thay đổi rõ rệt, nhất là sau cuộc gặp cấp cao ở Manta tháng 12-1989. Cục diện thế giới đang chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại.
Ở Đông Âu, chủ nghĩa xã hội đã đổ vỡ. Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa đang trong khủng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoảng nặng nề. Tổ chức Hiệp ước quân sự Vacsava đơn phương giải thể kèm theo việc Liên Xô rút quân khỏi các nước thành viên. Trong khi đó, khối NATO tiếp tục tồn tại với sự hiện diện của Mỹ ở châu Âu.
Hệ quả của những điều trên là so sánh lực lượng chiến lược có những thay đổi to lớn. Ở Mỹ, mặc dù đang trong thời kỳ suy thoái kinh tế và nhiều hạn chế, song qua hơn 15 năm sau chiến tranh Việt Nam, Mỹ tự cho là đã khôi phục được sức mạnh kinh tế - quân sự. “Đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, cộng đồng các quốc gia dân tộc vận động và phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử rất mới và rất khác thời kỳ chiến tranh lạnh, vừa tạo ra những cơ hội, vừa đặt ra những thách thức mới đối với họ”[35]. Tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh diễn biến phức tạp, diện mạo một trật tự thế giới mới thay cho trật tự hai cực đã tan rã vẫn chưa định hình.
Sau mấy thập niên chiến tranh lạnh, một mặt các nước lớn nhỏ đều muốn có môi trường quốc tế hoà bình, ổn định để phát triển, nên nhìn chung đều điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoại theo hướng tránh đối đầu, tăng cường hợp tác, liên kết, hội nhập trên các tầng nấc khác nhau. Mặt khác, các nước - trước hết là các nước lớn - càng cạnh tranh gay gắt với nhau nhằm giành giật vai trò, vị trí có lợi nhất cho mình trong trật tự thế giới mới đang hình thành. Động thái quan hệ giữa các nước lớn diễn ra hết sức phức tạp, chứa đầy những yếu tố khó lường. Trong khi đó, các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn thời kỳ sau chiến tranh lạnh vẫn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội loài người.
Về tình hình Trung Đông trước chiến tranh vùng Vịnh, đặc biệt trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX, có mấy điểm đáng chú ý sau: Một là, việc tìm giải pháp cho vấn đề Trung Đông được đẩy mạnh nhưng vẫn bế tắc do sự ngoan cố của Israel. Cùng với xu thế giải quyết các cuộc xung đột trên thế giới bằng biện pháp hòa bình, việc tìm giải pháp cho vấn đề Trung Đông được đẩy mạnh vào cuối những năm 80. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tháng 11 năm 1988, Tổ chức giải phóng Palestin (PLO) tuyên bố chấp nhận nghị quyết 242 và 338 của Hội đồng Bảo an LHQ, hàm ý thừa nhận Israel, đã tháo gỡ bế tắc trong việc giải quyết vấn đề Trung Đông. Mỹ tiến hành đối thoại với PLO (từ 12-1988 đến 20-6-1990), Thủ tướng Israel Samia đưa ra kế hoạch bầu cử ở vùng bị chiếm (6-1989), Ai Cập nêu 10 điểm giải pháp (9-1989), Ngoại trưởng Mỹ Baker, đưa ra kế hoạch 5 điểm (10-1989), trong đó đáng chú ý là đối thoại trực tiếp Israel – Palestin.
PLO đã chấp nhận kế hoạch của Baker nhưng đảng Likut của Israel bác bỏ (trong khi Công đảng đồng y), dẫn đến cuộc khủng hoảng nội các Israel (3-6-1989). Sau đó, Israel tiếp tục cản trở bằng việc đưa người Do Thái định cư ở vùng đất chiếm đóng, tố cáo PLO tiếp tục chính sách khủng bố, vấn đề ách tắc cho đến tháng 10-1991. Hai là, thập kỷ 80 của thế kỷ XX nổ ra cuộc chiến tranh Iran – Iraq (1980- 1988). Một trong những nguyên nhân của cuộc chiến tranh là việc tranh chấp chủ quyền đoạn hợp lưu hai con sông Tigre và Eupherates trong đó mục tiêu của Iraq cũng là mở thông cảng Basra, một cảng chính của Iraq.
Cuộc chiến nổ ra gây tổn thất cực lớn về người và vật chất cho cả hai nước. Iran ước tính chịu tới 1 triệu thương vong, chết hay bị thương, và người dân Iran tiếp tục bị ảnh hưởng hay thiệt mạng bởi những hậu quả của các loại vũ khí hoá học do Iraq sử dụng. Thương vong của Iraq ước tính trong khoảng 250.000 người chết hay bị thương. Hàng nghìn dân thường ở cả hai phía chết sau những vụ tấn công của không quân hoặc tên lửa.
Thiệt hại tài chính cũng rất to lớn. Ở thời điểm đó vượt quá 600 tỷ USD cho mỗi nước (tổng cộng 1.2 nghỉn tỷ USD). Nhưng ngay sau chiến tranh, mọi người phát hiện ra rằng chi phí kinh tế cho cuộc chiến vượt xa hơn những ước 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phát triển kinh tế đình trệ và xuất khẩu dầu mỏ tàn lụi.
Những tai hoạ kinh tế đó ở mức độ nghiêm trọng hơn đối với Iraq vì họ phải gánh chịu những khoản vay to lớn cho chiến tranh so với một khoản nợ nhỏ phía Iran, bởi người Iran sử dụng các chiến thuật biển máu nhưng ít tốt kém về kinh tế trong cuộc chiến, đổi mạng sống của binh lính cho việc thiếu hụt tài chính trong việc phòng vệ. Điều này khiến Saddam vẫn ở thế đối đầu với Iran, trong một tình huống vô cùng khó khăn với các đồng minh của ông trong cuộc chiến, bởi khi đó, Iraq đang gánh món nợ quốc tế lên tới 130 tỷ USD, gây khó khăn cho sự quan tâm tới một nền kinh tế sau chiến tranh với tăng trưởng GDP chậm chạp. Có ý kiến cho rằng chính thiệt hại nặng nề của Iraq trong cuộc chiến tranh với Iran là một trong những nguyên nhân góp phần đẩy Saddam Hussein đến hành động xâm lược Kuwait vì Kuwait là một nước rất giàu có về nguồn tài nguyên dầu mỏ.2 Vùng Vịnh trong chiến lược của Mỹ ở Trung Đông Trung Đông với vị trí địa lý đặc biệt của mình và với nguồn dầu khí thiên nhiên phong phú đã trở thành khu vực chiến lược sống còn về kinh tế, quân sự và chính trị đối với Mỹ. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố: “Kẻ nào kiểm soát được Trung Đông thì sẽ thống trị thế giới” [26,9].
Có thể khẳng định là vùng Vịnh là nơi quan trọng nhất đối với Mỹ ở Trung Đông vì những lẽ sau đây: 1.1 Về chính trị Do nằm ở vị trí rất quan trọng, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, vùng Vịnh là nơi tranh chấp quyết liệt giữa hai siêu cường Mỹ và Liên Xô. Mỹ thực hiện những kế họach giúp các nước Arab nhằm không để nguồn dầu mỏ trù phú rơi vào tay Liên Xô và một số cường quốc khác. Năm 1957, Tổng thống Mỹ Eisenhower tuyên bố “Chính sách Eisenhower”, trong đó nói rằng, Mỹ sẽ dùng vũ trang để bảo vệ nền tự chủ của một quốc gia hay một nhóm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quốc gia ở Trung Đông trước sự đe dọa của các nước có thái độ thù nghịch. Sau chiến tranh lạnh, đặc biệt là thời gian gần đây, viện cớ bảo vệ an ninh cho các nước thân cận, Mỹ đã duy trì một lực lượng lớn quân sự ở vùng Vịnh (như các căn cứ quân sự ở Qatar, Bahrain.) nhằm phục vụ cho mưu đồ lâu dài của họ ở khu vực này và trên thế giới nói chung, đồng thời là để răn đe các nước “cấp tiến” như Iran, Syria… Vịnh Arab (người Iran gọi là vịnh Ba Tư) là con đường thuỷ huyết mạch dẫn ra biển duy nhất của nhiều quốc gia trong vùng (Iraq, Kuwait, Iran, Qatar, UAE…).
Nếu kiểm soát được con đường này thì sẽ có điều kiện thuận lợi chi phối được nguồn cung cấp dầu mỏ quan trọng cho thế giới bên ngoài, đặc biệt là Mỹ, Nhật Bản và các nước EU (50% lượng dầu thô vận tải bằng đường biển đi qua eo biển Hormus nằm trên vùng Vịnh) cũng như kiểm soát được các hoạt động buôn bán, đi lại trên biển của các quốc gia ở đây. Vì vậy, nhiều năm qua, Iran và các nước Arab tranh chấp với nhau không những về chủ quyền mà ngay từ tên gọi của Vịnh: Iran gọi là vịnh Ba tư còn các nước Arab thì gọi là vịnh Arab. Một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của Iraq trong cuộc chiến tranh với Iran kéo dài 8 năm (1980 – 1988) và cuộc chiến nhằm chiếm Kuwait năm 1990 là từng bước kiểm soát con đường huyết mạch ra biển này, tiến tới buộc thế giới bên ngoài, đặc biệt là Mỹ, EU, Nhật…lệ thuộc vào mình thông qua việc cung cấp dầu mỏ.2 Về kinh tế Tại đây có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới khoảng 674,7 tỉ thùng, chiếm 65% trữ lượng dầu thế giới và 85% trữ lượng dầu của Tổ chức xuất khẩu dầu mỏ (OPEC). Trong số các nước khu vực này, theo số liệu mới nhất, Iraq đứng thứ hai thế giới với khoảng 115 tỉ thùng, sau Saudi Arabia, và Kuwait đứng thứ năm thế giới với 96,5 tỉ thùng.
Sản lượng dầu thô của khu vực này khoảng 19,5 tỉ thùng/ngày, chiếm 28% sản lượng dầu thế giới và 67% sản lượng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dầu của OPEC (số liệu năm 1996). Nơi đây là nguồn cung cấp dầu thô chủ yếu cho Nhật Bản, Tây Âu và Mỹ. Một trong những mục tiêu chiến lược của Mỹ ở khu vực là duy trì nguồn cung cấp dầu ổn định lâu dài với giá hợp lý.3 Về quân sự Khu vực vùng Vịnh có nhiều nước thân Mỹ, hoặc là phải dựa vào Mỹ để làm đối trọng với Iran, như Saudi Arabia, Kuwait, Bahrain, Qatar, Oman… Cho đến nay, Mỹ vẫn duy trì các căn cứ quân sự và quân đội của mình ở các nước này (Kuwait, Saudi Arabia, Qatar, Bahrain và ở Iraq sau khi Mỹ rút quân khỏi Iraq vào tháng 12-2011 …) và thường xuyên có các hạm đội, tàu chiến ở Vịnh nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ ở khu vực và trên thế giới. Saudi Arabia, Qatar, Kuwait và Arab.
hiện đều có các căn cứ hải quân, không quân và lục quân Mỹ, trong đó có những căn cứ lớn, quan trọng như các căn cứ Arifjan, Buering, Virginia, Ali Al Salem Air Base, Udari Range (Kuwait), Al Udeid Air Base (Qatar), Eskan Village Air Base (Saudi Arabia). Đó là chưa kể nhiều căn cứ quân sự đủ loại, công khai lẫn bí mật, tại các nước khu vực Trung Đông khác chưa được tiết lộ.