ĐẶT VẤN ĐỀ Cận thị là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng toàn cầu1. Hiện nay, tỷ lệ bệnh lƣu hành của cận thị đang gia tăng rộng khắp các vùng trên thế giới và đƣợc dự đoán sẽ tăng nhanh trong những thập kỷ tới2. Đặc biệt tại các nƣớc Đông Á, tỷ lệ cận thị gia tăng rõ rệt nhất, ảnh hƣởng đến 80% thanh niên ở một số quốc gia nhƣ Singapore và Đài Loan3. Tác giả Brien và cộng sự báo cáo năm 2016, số ngƣời cận thị khoảng 2,6 tỷ ngƣời vào năm 2020 đƣợc dự đoán tăng lên khoảng 5 tỷ ngƣời vào năm 2050 trên toàn cầu trừ khi có các biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát tiến triển cận thị hữu hiệu đƣợc thực hiện4.
Cận thị ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống tổng thể của trẻ em, đặc biệt là kết quả học tập, hoạt động thể chất, giao tiếp xã hội và lựa chọn công việc trong tƣơng lai. Ngoài gánh nặng liên quan đến việc phải theo dõi tình trạng bệnh thƣờng xuyên, cận thị cao có khuynh hƣớng gây các biến chứng đe dọa thị lực nhƣ bệnh lý hoàng điểm cận thị, glaucoma, bong võng mạc có thể gây mất thị lực không hồi phục, gây tăng gánh nặng về mặt xã hội, kinh tế và giảm chất lƣợng cuộc sống1. Bệnh nhân cận thị cao là những ngƣời có nguy cơ mắc các biến chứng đe dọa thị lực không hồi phục cao hơn, nhƣng cận thị nhẹ và trung bình cũng có thể xảy ra những biến chứng nghiêm trọng5. Do đó, câu hỏi nghiên cứu đƣợc đặt ra là làm thế nào và can thiệp ra sao để có thể hạn chế đƣợc tỷ lệ mắc mới; kéo dài thời gian khởi phát cận thị và làm chậm tiến triển tăng độ cận thị.
Từ đó giảm tỷ lệ mắc mới của cận thị đang gia tăng nhanh trên toàn cầu, giảm tỷ lệ cận thị cao và các biến chứng liên quan đến cận thị gây ảnh hƣởng đến cuộc sống của khoảng từ 23% đến 66 % dân số toàn cầu vào năm 20506. Kiểm soát tiến triển cận thị đã trở thành một mục tiêu lâm sàng quan trọng trong các nghiên cứu vì những lo ngại về sự gia tăng đáng kể nguy cơ cận thị cao. Mặc dù cận thị đƣợc hiểu là kết quả của sự tƣơng tác phức tạp giữa gen và môi trƣờng, dƣợc phẩm hiện là phƣơng pháp can thiệp đƣợc đánh giá có hiệu quả và tiềm năng nhất trong kiểm soát tiến triển cận thị2. Trong đó, Atropine nhỏ mắt hiện.
2 là phƣơng thức duy nhất đƣợc áp dụng rộng rãi, dễ tiếp cận và có hiệu quả đƣợc ghi nhận triển vọng nhất1,2. Các nghiên cứu với thiết kế nghiên cứu tốt trên thế giới đã cho thấy thuốc nhỏ mắt Atropine nồng độ thấp (dƣới 0.1%) có hiệu quả đối với kiểm soát tiến triển cận thị và cân bằng lợi ích về tính an toàn của thuốc. Trong đó, thuốc nhỏ mắt Atropine 0,05% đƣợc cho là có lợi ích nhất về hiệu quả cũng nhƣ tính an toàn2,7,8. Tại Việt Nam, đã có rất nhiều nghiên cứu về cận thị.
Từ kết quả thực trạng cận thị của các nghiên cứu, những năm gần đây, các nghiên cứu can thiệp kiểm soát tiến triển cận thị bằng phƣơng pháp quang học9 hay dƣợc lý đang đƣợc thực hiện phổ biến hơn10-12. Trong đó, nghiên cứu hiệu quả kiểm soát tiến triển cận thị của thuốc nhỏ mắt Atropine 0.01% của tác giả Hoàng Quang Bình báo cáo năm 2018 cho thấy kết quả tích cực trong kiểm soát tiến triển cận thị cũng nhƣ các tác dụng không mong muốn trong thời gian nghiên cứu 3 năm12. Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền10 cũng cho thấy thuốc nhỏ mắt Atropine 0.01% có hiệu quả trong kiểm soát tiến triển ở nhóm cận thị tiến triển nhanh trong 6 tháng. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chƣa có nghiên cứu về thuốc nhỏ mắt Atropine 0,05% đối với kiểm soát tiến triển cận thị tại Việt Nam đƣợc công bố.
Vì vậy, bƣớc đầu đánh giá hiệu quả và tính an toàn của thuốc nhỏ mắt Atropine 0,05%, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả kiểm soát tiến triển cận thị của thuốc nhỏ mắt Atropine 0,05%” với mục tiêu sau: Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiệu quả kiểm soát tiến triển cận thị của thuốc nhỏ mắt Atropine 0,05%. Mục tiêu cụ thể 1. Mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu. Xác định tỷ lệ hiệu quả kiểm soát tiến triển cận thị của thuốc nhỏ mắt Atropine 0,05%.
Xác định tỷ lệ các tác dụng phụ trong thời gian sử dụng thuốc nhỏ mắt Atropine 0,05%. Định nghĩa Cận thị là tật khúc xạ khi những tia sáng song song với trục thị giác đi vào mắt hội tụ trƣớc võng mạc khi mắt ở trạng thái không điều tiết. Điều này thƣờng do trục trƣớc sau của nhãn cầu quá dài nhƣng cũng có thể do giác mạc hay thủy tinh thể quá cong làm tăng công suất quang học của nhãn cầu hoặc do cả hai yếu tố trên1,13. Mắt cận thị (Nguồn: American Academy of Ophthalmology, Myopia, Gregory I.
Một số thuật ngữ của cận thị Theo IMI (Viện Cận thị Quốc tế), các thuật ngữ liên quan đến cận thị đƣợc định nghĩa thống nhất nhƣ sau13,15. Phân loại cận thị theo định tính - Cận thị do khúc xạ: Tật khúc xạ đƣợc đặc trƣng bởi sự thay đổi cấu trúc hoặc vị trí của ảnh tạo bởi các thành phần của mắt nhƣ giác mạc và thủy tinh thể. - Cận thị trục: là cận thị chủ yếu do độ dài trục nhãn cầu dài hơn bình thƣờng. - Cận thị thứ phát là cận thị do một nguyên nhân cụ thể gây ra (ví dụ nhƣ bệnh của giác mạc hay một hội chứng lâm sàng toàn thân).
Phân loại cận thị theo định lƣợng Cận thị: là tình trạng khúc xạ cầu tƣơng đƣơng của mắt ≥ - 0,5 D khi mắt ở trạng thái không điều tiết. Cận thị cao: tình trạng khúc xạ cầu tƣơng đƣơng của mắt ≥ - 6,00 D khi mắt ở trạng thái không điều tiết. Cận thị thấp: là tình trạng khúc xạ cầu tƣơng đƣơng của mắt ≥ - 0,50 D và < - 6,00 D khi mắt ở trạng thái không điều tiết. Tiền cận thị: là tình trạng khúc xạ trong khoảng ≤ + 0,75 D và < - 0,50 D ở trẻ em.
Viện Cận thị Quốc tế đề xuất tật khúc xạ có độ khúc xạ tƣơng đƣơng cầu ≥ - 6,00 D là ngƣỡng phân biệt giữa cận thị cao và cận thị thấp 13,15. Đặc điểm dịch tễ học của cận thị Theo kết quả một nghiên cứu cắt ngang, tổng quan tài liệu có hệ thống các dữ liệu từ năm 1995 về cận thị trên toàn cầu4 cho thấy: năm 2000, số ngƣời cận thị khoảng 1,4 tỷ ngƣời (chiếm khoảng 22,9% dân số toàn cầu), đến năm 2010 con số này tăng lên 1,95 tỷ ngƣời (chiếm 28,3% dân số toàn cầu), đến năm 2020 có khoảng 2,6 tỷ ngƣời. Số liệu này đƣợc dự báo tăng lên vào năm 2030 khoảng 3,36 tỷ (39,9% dân số toàn cầu); đến năm 2040 con số này vào khoảng 4,08 tỷ (45,2% dân số toàn cầu) và đến năm 2050 số ngƣời mắc cận thị vào khoảng 4,75 tỷ ngƣời, chiếm 49,8% dân số toàn cầu, tức là vào năm 2050 khoảng một nửa dân số toàn cầu mắc cận thị4. Theo tác giả này, năm 2000, trong khi số hiện mắc cận thị trên toàn.
5 thế giới khoảng 23%, cận thị cao 2,2%, dự đoán đến năm 2050, có 50% dân số toàn cầu cận thị và 10% dân số toàn cầu mắc cận thị cao; tƣơng ứng tỷ lệ cận thị tăng gấp 2 lần, tỷ lệ cận thị cao tăng gần 5 lần, đặc biệt số ngƣời bị giảm thị lực do cận thị cao đƣợc dự đoán tăng gấp 7 lần từ năm 2000 đến năm 2050, và cận thị sẽ trở thành nguyên nhân hàng đầu mù vĩnh viễn trên thế giới4. Cận thị trên thế giới từ năm 2000 đến năm 2050. Cận thị cao trên thế giới từ năm 2000 đến năm 2050. (Nguồn: WHO, The impact of myopia and high myopia, 2015)16 Tại các nƣớc Châu Á và Đông Nam Á, tỷ lệ mắc cận thị ngày càng cao trong nhiều thập kỷ qua.
Đặc biệt, tỷ lệ này khoảng 80 - 90% và các bệnh lý đe dọa thị. 6 giác không hồi phục liên quan đến cận thị, chiếm khoảng 10% - 20% ở những ngƣời hoàn thành chƣơng trình trung học ở cộng đồng dân cƣ Trung Quốc17,18. Các nghiên cứu riêng lẻ cho thấy sự khác biệt khá lớn về tỷ lệ cận thị giữa các vùng (nông thôn và thành thị) và các dân tộc ở các vùng lãnh thổ khác nhau. Ví dụ, tỷ lệ cận thị ở ngƣời Đông Á cao hơn so với ngƣời da trắng ở độ tuổi tƣơng tự gấp khoảng 2 lần19.
Tỷ lệ cận thị cao hơn ở các thành phố Đông Á, nhƣ Trung quốc, Đài Loan, Singapore tăng nhanh và đặc biệt cao hơn các vùng khác dƣờng nhƣ liên quan đến áp lực giáo dục ngày càng tăng, kết hợp với những thay đổi trong phong cách sống, đã làm giảm thời gian trẻ em đƣợc tham gia các hoạt động ngoài trời19. Phân bố địa lý tỷ lệ cận thị trên thế giới năm 2010 và dự đoán đến năm 2050 (Nguồn: Ophthalmology, Brien AH và cs, 2016)4 Tại Việt Nam, theo báo cáo về công tác phòng chống mù lòa năm 2014 của Đỗ Nhƣ Hơn, cho thấy tỷ lệ mắc tật khúc xạ học đƣờng chiếm khoảng 40% - 50% ở học sinh thành phố và 10% - 15% học sinh nông thôn. Một nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 7217 học sinh năm 2019 đại diện cho khu vực thành phố và nông thôn;. 7 đại diện cho các bậc học, mô tả thực trạng cận thị ở học sinh tại 4 tỉnh (Hà Nội, Yên Bái, Hà Tĩnh và Cần Thơ) của tác giả Nguyễn Thị Huyền cho thấy tỷ lệ học sinh cận thị chiếm 32,8%, tăng dần theo bậc học (tiểu học: 21,6 %, trung học cơ sở: 34,5%, trung học phổ thông: 41,9%, ở thành phố cao hơn so với nông thôn (42,4% so với 22,9%)20.
Kết quả nghiên cứu thực trạng cận thị tại thành phố Điện Biên Phủ của Trần Đức Nghĩa11, tỷ lệ cận thị ở học sinh tiểu học là 17,2%, tỷ lệ mắc cận thị cao nhất gặp ở dân tộc Kinh, 19%; thấp nhất ở dân tộc Thái là 7,7% vào năm 2019. Thông thƣờng, cận thị có thể bắt đầu từ 5 - 6 tuổi, tiến triển -5,0 đến -6,0 Diop ở độ tuổi từ 11 đến 13 tuổi. Sau đó, độ cận thị tăng lên -8,0 đến -10,0 Diop ở độ tuổi từ 17 - 18 tuổi, trƣớc khi nó chững lại ở mức khoảng -12,0 đến -14,0 Diop vào đầu những năm 20 tuổi. Cận thị hiếm khi vƣợt quá -16 Diop.