Chương 1 TỔNG QUAN 1. Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động tại một số nước trên thế giới và Việt Nam 1. Anh Ủy ban sức khỏe và an toàn ở nước Anh đã giới thiệu các hướng dẫn về quản lý sức khỏe và an toàn (Gọi tắt là HSG 65) vào năm 1991. Đây được coi là tài liệu đưa ra các yêu cầu cơ bản cho công tác quản lý an toàn và sức khỏe.
Tuy nhiên, đây chỉ được coi là một tài liệu hướng dẫn dùng cho các công ty sản xuất kinh doanh ở nước Anh có mong muốn thực hiện an toàn sức khỏe nghề nghiệp để phù hợp với luật pháp của nước Anh, đây chưa là tiêu chuẩn để có thể đăng ký chứng nhận. Nước Anh là một nước thiết lập được các tiêu chuẩn về ATVSLĐ ở mức chi tiết và tương đối cao. Các tiêu chuẩn, hướng dẫn trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động được đưa ra bởi Ủy ban an toàn Anh, Viện tiêu chuẩn Anh đã và đang được nhiều doanh nghiệp ở nước Anh và nhiều nước ở Châu Âu và trên thế giới áp dụng rộng. Từ năm 1989, nhiều văn bản pháp luật khác trong hệ thống ATVSLĐ được tiếp tục ban hành, nhưng đến 2004 thì Cơ quan tiêu chuẩn Anh mới biên soạn và phát hành hệ thống quản lý ATVSLĐ hoàn chỉnh là BS 8800 [19], đây được coi là tiêu chuẩn của Anh về hệ thống quản lý ATVSLĐ ở doanh nghiệp theo mô hình dưới đây.
OHSAS 18001 [18] là Tiêu chuẩn về Hệ thống quản lý An toàn sức khỏe nghề nghiệp do Viện tiêu chuẩn Anh xây dựng và ban hành lần đầu năm 1999 và sửa đổi năm 2007. Tiêu chuẩn OHSAS 18001:2007 đưa ra những yêu cầu đối với an toàn lao động và sức khỏe nghề nghiệp cho bất kỳ quy mô nào của một tổ chức, nó cung cấp hướng dẫn để giúp tổ chức thiết kế chính sách của mình về vấn đề an toàn và sức khỏe, xây dựng những kiểm soát liên quan và những quy trình trong một hệ thống quản lý. Mô hình Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động BS 8800:2004 của Anh Nguồn:[19, tr. Hoa Kỳ Về cơ sở pháp lý, Hoa Kỳ đã xây dựng một bộ khung pháp lý nhằm đảm bảo ATVSLĐ trong các lĩnh vực.
“Ngày 29 tháng 12 năm 1970, Tổng thống Nixon đã ký gạo luật Bảo vệ Sức khỏe và An toàn Lao động năm 1970 (đạo luật OSH), thành lập Cơ quan Bảo Vệ An toàn và Sức Khỏe Lao Động (OSHA). Cùng với những nỗ lực của các người chủ, công nhân, các chuyên gia về an toàn và sức khỏe, công đoàn và những người bênh vực công nhân, OSHA và các đối tác tiểu bang đã cải thiện đáng kể sự an toàn tại nơi làm việc, giúp giảm hơn 65% số tử vong và thương tích do công việc gây ra. Năm 1970, ước tính có 14 ngàn công nhân đã thiệt mạng trong công việc - khoảng 38 người mỗi ngày. Trong năm 2010, Cơ quan Thống kê Lao động báo cáo con số này giảm xuống còn khoảng 4.500 hay khoảng 12 công nhân mỗi ngày.
Trong cùng thời gian đó, việc làm tại Mỹ tăng gần gấp đôi, lên hơn 130 triệu lao động tại hơn 7,2 triệu địa điểm làm việc. Tỷ lệ thương tích và bệnh tật nghiêm trọng tại nơi làm việc cũng giảm rõ rệt, từ 11 cho mỗi 100 công nhân trong năm 1972 xuống còn 3,5 cho mỗi 100 công nhân trong năm 2010” [15]. Luan van 9 “ANSI Z10 là hệ thống quản lý an toàn sức khỏe lao động được Viện Tiêu chuẩn Quốc gia Hoa Kỳ (ANSI) ban hành lần đầu năm 2005, sửa đổi năm 2012, dưới hình thức một bộ tiêu chuẩn quốc gia nhưng tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế (ISO). ANSI Z10 là dạng tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào có mong muốn quản lý được rủi ro an toàn lao động.
Tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ về hệ thống quản lý ATVSLĐ ANSI Z10 sử dụng chu trình quản lý Deming P-D-C-A (Plan - Do - Check - Action), bao gồm: - Sự quản lý của lãnh đạo và tham gia của người lao động (Management Leadership and Employee Participation); - Hoạch định (Planning); - Thực hiện và vận hành (Implementation and Operation); - Đánh giá và hành động khắc phục (Evaluation and Corrective Action); - Xem xét của lãnh đạo (Management Review)” [17]. Mô hình Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động ANSI Z10 của Hoa Kỳ Nguồn:[16, tr. Malaysia Năm 2011, Malaysia đã ban hành bộ tiêu chuẩn quốc gia về an toàn sức khỏe nghề nghiệp MS 1722:2011 - Hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp. Tiêu chuẩn này dựa trên tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế ILO - OSH 2001 [20].
Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động theo ILO-OSH 2001 Nguồn:[20, tr.5] Theo mô hình quản lý được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đưa ra năm 2001 trong “Hướng dẫn về hệ thống quản lý an toàn và vệ sinh lao động” (ILO - OSH 2001), nhằm giúp chính phủ các nước, người sử dụng lao động và người lao động tăng cường hiệu quả thực hiện công tác ATVSLĐ trong các tổ chức, doanh nghiệp. Các quy định trong MS 1722:2011 tương đương với OHSAS 18001. Đây là hệ thống các tiêu chuẩn của Malaysia cung cấp các yêu cầu để quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, và là cơ sở để phát triển hệ thống an toàn vệ sinh lao động trong một doanh nghiệp. Nhật Bản Nhật Bản là quốc gia nổi tiếng về đảm bảo an toàn lao động.
Trong rất nhiều hệ thống quản lý an toàn tại Nhật Bản, nổi bật lên 2 hệ thống được đánh giá cao và được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Hệ thống các mô hình quản lý “Kizen Yochi (KY): Dự đoán các tình huống nguy hiểm. Ý tưởng KY ra đời năm 1974 (viết tắt của Kizen và Yochi, nghĩa là: dự đoán các tình huống nguy hiểm) và ngày nay đang là một trong những biện pháp đảm bảo an toàn lao động được sử dụng phổ biến nhất tại Nhật Bản. Ý tưởng này đã góp phần quan trọng khiến tỉ lệ tai nạn lao động ở Nhật giảm mạnh rõ rệt.
Thực hiện theo KY, mỗi ngày trước triển khai bất kỳ công việc gì, các nhóm làm việc đều phải thực hiện một Bảng phân tích KY. Tất cả các ý kiến dù nhỏ nhất đều được viết vào một Bảng KY và đọc to cho mọi người cùng nghe. Tờ giấy này sau đó được treo ngay tại vị trí làm việc để nhắc nhở” [1]. Trước khi phát triển ra phương pháp này, người Nhật đã nghiên cứu về tâm lý của con người, từ đó nhận thấy rằng việc liên tục gọi tên ra những rủi ro, mối nguy bằng cách hô lên thật to sẽ có tác động tâm lý tới những người nghe được, từ đó kích hoạt lại trạng thái ý thức tỉnh táo trước mọi hành động sai lầm có thể dẫn tới rủi ro, gây nguy hiểm cho mình và người khác.
Vậy nên, tuy nhiều nơi coi biện pháp KY là mất thời gian hay hình thức nhưng đối với các doanh nghiệp tại Nhật hoặc doanh nghiệp có yếu tố quản lý của Nhật Bản thì phương pháp KY lại được áp dụng tương đối nhiều và đem lại hiệu quả thiết thực cho các đơn vị này. “Hệ thống các mô hình quản lý 5S: là tên của một phương pháp quản lý, sắp xếp nơi làm việc. Nó được viết tắt của 5 từ trong tiếng Nhật gồm: seiri (sàng lọc), seiton (sắp xếp), seiso (sạch sẽ), seiketsu (săn sóc), và shitsuke (sẵn sàng). Cụ thể hơn: - Sàng lọc: có nghĩa là phân loại, tổ chức các vật dụng theo trật tự.
Đây chính là bước đầu tiên doanh nghiệp cần làm trong thực hành 5S. Nội dung Luan van 12 chính của S thứ nhất là phân loại, di dời những thứ không cần thiết, có thể bán đi hoặc tái sử dụng. - Sắp xếp: sau khi đã loại bỏ các vật dụng không cần thiết thì công việc tiếp theo là tổ chức các vật dụng còn lại một cách hiệu quả theo tiêu chí dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy, dễ trả lại. - Sạch sẽ: thường xuyên vệ sinh, giữ gìn nơi làm việc sạch sẽ thông qua việc tổ chức vệ sinh tổng thể và tổ chức vệ sinh hàng ngày máy móc vật dụng và khu làm việc.
S thứ ba hướng tới cải thiện môi trường làm việc, giảm thiểu rủi ro, tai nạn đồng thời nâng cao tính chính xác của máy móc thiết bị (do ảnh hưởng của bụi bẩn). - Săn sóc: luôn luôn kiểm tra, duy trì 3S ở trên. Bằng việc phát triển S thứ tư, các hoạt động 3S sẽ được cải tiến dần dựa theo tiêu chuẩn đã đặt ra và tiến tới hoàn thiện 5S trong doanh nghiệp. - Sẵn sàng: nghĩa là rèn luyện, tạo nên một thói quen, nề nếp, tác phong cho mọi người trong thực hiện 5S” [1].
Hệ thống mô hình quản lý 5S được triển khai lần đầu tại Công ty Toyota (Nhật Bản) và sau đó các công ty khác tại Nhật cũng bắt đầu áp dụng và phổ biết tại nhiều nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, tại một số công ty Nhật, 5S lại được rút gọn lại thành 3S, chỉ lấy 3S đầu tiên (sàng lọc, sắp xếp, sạch sẽ). Nhưng bên cạnh đó cũng nhiều nơi đưa 5S lên thành 6S, chữ S cuối cùng là Safety (An toàn). Việt Nam Ở Việt Nam, công tác ATVSLĐ cũng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chú trọng từ nhiều năm trước đây và được thể hiện rõ thông qua hàng loạt các văn bản pháp luật, các tiêu chuẩn, quy phạm an toàn đã được ban hành.
Công tác ATVSLĐ được đề cập đầy đủ, rõ ràng trong Hiến pháp (điều 56), trong bộ Luật lao động năm 2012 (chương IX), Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng cháy và chữa cháy, Luật An toàn vệ sinh lao động. Cùng với đó là một hệ thống bộ máy tổ chức quản Luan van 13 lý và nghiên cứu khoa học về an toàn từ từng cơ sở sản xuất tới địa phương, trung ương. Tuy nhiên trước những yêu cầu về hội nhập, phát triển kinh tế đất nước, cũng như xu thế toàn cầu hoá như hiện nay, thì rõ ràng bên cạnh hàng loạt những vấn đề mang tính vĩ mô về chính sách và phương thức quản lý kinh tế, vấn đề quản lý - kiểm soát về ATVSLĐ tại các cơ sở sản xuất cũng thực sự đòi hỏi phải có những điều chỉnh, thay đổi nhất định để sao cho vừa đáp ứng được xu thế hội nhập kinh tế thế giới, lại vừa phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển kinh tế thương mại nói riêng mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra.