Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: “Áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay”.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quản lý xã hội (QLXH) là hoạt động gắn liền với quá trình vận động và phát triển của xã hội, nhằm mục tiêu tạo môi trường sống an toàn và bảo đảm sự phát triển bền vững. Khi nhà nước xuất hiện, phần lớn công việc xã hội do nhà nước quản lý thông qua các công cụ chuyên biệt. Bên cạnh hệ thống pháp luật thành văn, tập quán được đa số các nhà nước thừa nhận là một loại nguồn của pháp luật và là công cụ hỗ trợ cho pháp luật trong QLXH. Ở Việt Nam, tập quán từng giữ vị trí quan trọng dưới các triều đại phong kiến. Trong bối cảnh hiện nay, việc thừa nhận áp dụng tập quán đáp ứng các đòi hỏi lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội, bảo tồn bản sắc dân tộc, đồng thời cụ thể hóa đường lối của Đảng và Nhà nước:

  • Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 nhấn mạnh việc kết hợp hài hòa bản sắc văn hóa truyền thống với tính hiện đại, đồng thời yêu cầu nghiên cứu khai thác, sử dụng án lệ, tập quán và quy tắc hiệp hội nghề nghiệp.
  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) khẳng định quyền của các dân tộc trong việc giữ gìn bản sắc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp.

Tuy nhiên, tác giả chỉ ra rằng việc áp dụng tập quán trong thực tiễn QLXH của các chủ thể có thẩm quyền đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc xuất phát từ 4 nguyên nhân cơ bản:

  1. Hệ thống pháp luật hiện hành thiếu các quy định bảo đảm tính khả thi; nhiều quy định còn mang tính chung chung, chưa tạo hành lang pháp lý rõ ràng.
  2. Thiếu các công trình nghiên cứu toàn diện, sâu sắc làm sáng tỏ cơ sở lý luận về áp dụng tập quán trong QLXH của Nhà nước dưới góc độ khoa học pháp lý.
  3. Hoạt động rà soát, đánh giá để thiết lập danh mục tập quán làm cơ sở tham chiếu chưa được thực hiện đầy đủ; công tác tổng kết thực tiễn áp dụng của các cơ quan nhà nước còn hạn chế và chỉ diễn ra ở phạm vi ngành hẹp.
  4. Nhận thức của các chủ thể có thẩm quyền về vị trí, vai trò của tập quán chưa đầy đủ; sự am hiểu về tập quán còn hạn chế dẫn đến tâm lý e ngại áp dụng khi giải quyết vụ việc.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về áp dụng tập quán trong QLXH của Nhà nước; đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tập quán trong một số lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay; từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả áp dụng tập quán trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu (đánh số theo văn bản):

  • Một là: Tìm hiểu tình hình nghiên cứu các vấn đề của đề tài luận án, đánh giá các kết quả nghiên cứu hiện có, chỉ ra các vấn đề cốt lõi mà luận án tập trung giải quyết.
  • Hai là: Làm rõ cơ sở lý luận về áp dụng tập quán trong QLXH của Nhà nước: khái niệm tập quán; khái niệm áp dụng tập quán trong QLXH; sự cần thiết và các yếu tố tác động; xác định phạm vi, trường hợp, nguyên tắc và quy trình áp dụng tập quán.
  • Ba là: Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng tập quán của các chủ thể có thẩm quyền trong một số lĩnh vực cụ thể; chỉ ra nguyên nhân của các thành tựu và hạn chế tại Việt Nam hiện nay.
  • Bốn là: Đánh giá xu hướng áp dụng tập quán trong QLXH của Nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới; đề xuất hệ thống quan điểm và các giải pháp cụ thể.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Việc áp dụng tập quán trong QLXH của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay, bao gồm: cơ sở lý luận; thực trạng quy định pháp luật; thực tiễn áp dụng trong một số lĩnh vực; các giải pháp bảo đảm hiệu quả áp dụng.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận QLXH của Nhà nước theo nghĩa rộng (hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành). Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền trong 3 lĩnh vực được pháp luật thừa nhận tập quán là nguồn điều chỉnh: (1) Quản lý hộ tịch của Ủy ban nhân dân (UBND); (2) Lĩnh vực xét xử của Tòa án nhân dân (TAND); (3) Lĩnh vực hòa giải ở cơ sở. Luận án không đi sâu vào trọng tài thương mại và hòa giải thương mại (dù khảo sát cho thấy khoảng 90% tranh chấp mua bán hàng hóa quốc tế có áp dụng tập quán thương mại quốc tế) do các hoạt động này không mang đậm tính quyền lực nhà nước.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam, trong đó tập trung vào các địa bàn trọng điểm thuộc ba khu vực: Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ (nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số, kinh tế nông nghiệp chiếm ưu thế và các thiết chế xã hội cổ truyền vẫn duy trì ảnh hưởng sâu rộng).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn hiện nay, tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng áp dụng tập quán từ năm 2013 đến thời điểm nghiên cứu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án phân loại tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước thành 3 nhóm nghiên cứu chính:

Tình hình nghiên cứu

1. Nhóm nghiên cứu lý luận về áp dụng tập quán trong QLXH

  • Nghiên cứu văn hóa, phong tục, lệ làng truyền thống: Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục (2014); Đoàn Triển với An Nam phong tục sách; Nhất Thanh với Đất lề quê thói - Phong tục Việt Nam (2015); Trần Ngọc Thêm với Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999); Toàn Ánh với Nếp cũ Làng xóm Việt Nam (2005); Đào Duy Anh với Việt Nam văn hóa sử cương (2014). Các công trình này phân tích quá trình hình thành, nội dung và sự biến đổi của phong tục, tập quán, hương ước làng xã qua các thời kỳ lịch sử.
  • Nghiên cứu luật tục các dân tộc thiểu số: Ngô Đức Thịnh với Luật tục trong đời sống các tộc người ở Việt Nam (2014); Phan Đăng Nhật với Luật tục các dân tộc thiểu số Việt Nam (2014); Ngô Đức Thịnh và Chu Thái Sơn với Luật tục Ê-đê (tập quán pháp) (1996); Ngô Đức Thịnh chủ biên cuốn Luật tục M’Nông (Tập quán pháp) (1998); Vương Đằng với Phong tục Miền Nam (2014).
  • Nghiên cứu tập quán dưới góc độ quản lý và thể chế: Bùi Xuân Đính với Lệ làng phép nước (1985), Hương ước và quản lý làng xã (1998); đề tài cấp Nhà nước của Dương Thị Thanh Mai (2011); báo cáo nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thị Quỳnh, Nguyễn Quốc Việt, Nguyễn Hoàng Phương do UNDP đồng tài trợ (2013); Trương Tiến Hưng (2014); đề tài cấp bộ của Nguyễn Văn Trọng (2013); đề tài cấp bộ của Bùi Văn Hùng (2018); Lê Đức Tiết với Hương ước, lệ làng - Quá khứ, hiện tại, tương lai (2020).
  • Các luận án tiến sĩ liên quan: Luận án của Nguyễn Thị Tuyết Mai (2014) về áp dụng tập quán trong giải quyết vụ việc dân sự tại TAND; luận án của Nguyễn Mạnh Thắng (2015) về tranh chấp thương mại; luận án của Vi Văn Sơn (2015) về luật tục người Thái; luận án của Trương Thị Hiền (2015) về luật tục Ê Đê tại Đắk Lắk; luận án của Nguyễn Thị Vân Anh (2017) về hôn nhân và gia đình ở Tây Nguyên; luận án của Bùi Hồng Quý (2018); luận án của Hoàng Văn Quynh (2018) về bảo vệ tài nguyên môi trường.
  • Nghiên cứu tập quán trong tương quan với hệ thống pháp luật: Vũ Văn Mẫu trong Dân luật khái luận (1961); Phan Nhật Thanh trong các công trình năm 2013, 2016, 2017 (chủ biên cuốn Tập quán pháp, tiền lệ pháp và việc đa dạng hóa hình thức pháp luật ở Việt Nam); Lê Vương Long (2000); Nguyễn Việt Hương (2000); Hoàng Thị Kim Quế (2005); Bùi Ngọc Sơn (2008); Bùi Quang Dũng (2013); Bùi Xuân Đính (2015); Lê Đức Tiết (2019); Nguyễn Thị Trà Giang (2019); Phạm Văn Tuyết (2015, 2021); Nguyễn Thị Hạnh (2015); Nguyễn Hải An (2018).
  • Nghiên cứu so sánh và tài liệu quốc tế: David C. về luật gia đình và tập quán châu Á; René David (bản dịch năm 2003 của Nguyễn Sỹ Dũng và Nguyễn Đức Lâm) về các hệ thống pháp luật thế giới; Mary Ann Glendon, Paolo G. Carozza và Colin B. Picker (2008); Phan Nhật Thanh và Luke McNamara (2011); Vi Văn Sơn (2014); Matthew L. Fletcher (2007); Amanda Perreau-Saussine và James Bernard Murphy (2007); Bederman (2010); Lisa Bernstein và Francesco Parisi; TOBIN Brendan Michael (2011); Simisola Obatusin (2018); Christa Rautenbach (2019).

2. Nhóm nghiên cứu về thực trạng áp dụng tập quán trong QLXH

  • Áp dụng trong cộng đồng và thiết chế cơ sở: Trương Bi, Bùi Minh Vũ, Kra Y Wơn (2007); Đặng Thị Hoa (2014); Trương Tiến Hưng (2014); Buôn Krông Thị Tuyết Nhung (2019); Đỗ Hồng Kỳ (2013); Đặng Thị Hoa và Đặng Chí Thông (2012 - khảo sát 8 dân tộc ở Sơn La); Phạm Hữu Nghị (2015); Nguyễn Phương Lan (2016); Trần Thị Ngọc Anh và Hoàng Văn Sơn (2016); Tô Văn Hòa (2020).
  • Dự án điều tra thực tiễn của cơ quan nhà nước: Viện Khoa học Pháp lý thuộc Bộ Tư pháp chủ trì “Dự án điều tra cơ bản: Các tập quán điển hình điều chỉnh quan hệ dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền” (triển khai từ 2015, nghiệm thu năm 2018).
  • Thực tiễn xét xử và giải quyết tranh chấp: Đỗ Văn Đại với các công trình nghiên cứu bản án thừa kế (2009) và bản án hợp đồng (2010 - phân tích vụ việc tranh chấp bãi đánh bắt hải sản “Cây chà 19 tiếng”); Phùng Trung Tập (2015); Nguyễn Hải An (2020); Nguyễn Bé Lê (2021).

3. Nhóm nghiên cứu về giải pháp bảo đảm hiệu quả

Bao gồm các đề tài nghiên cứu của Dương Thị Thanh Mai (2011), Nguyễn Văn Trọng (2013), Phan Nhật Thanh (2017) và các bài viết chuyên ngành đề xuất phương hướng hoàn thiện thể chế thừa nhận tập quán.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về phong tục, luật tục hoặc áp dụng tập quán trong xét xử dân sự, thương mại, nhưng đa số tiếp cận dưới góc độ văn hóa học, xã hội học hoặc chuyên ngành luật tư riêng lẻ. Vẫn còn thiếu vắng một công trình nghiên cứu toàn diện, mang tính hệ thống dưới góc độ Lý luận chung về nhà nước và pháp luật nhằm xem xét tập quán như một công cụ QLXH của Nhà nước, xác lập các tiêu chí, nguyên tắc, quy trình áp dụng và đánh giá thực trạng trên bình diện các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (UBND, TAND và tổ chức hòa giải cơ sở).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và quan niệm tiếp cận

  • Nền tảng phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đa dạng hóa các nguồn của pháp luật.
  • Quan niệm về vai trò của tập quán: Tiếp thu các lý thuyết pháp lý xã hội và triết học, điển hình như luận điểm của Jean-Jacques Rousseau trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội, khẳng định tập quán là loại luật khắc sâu vào tâm khảm công dân, tạo nên sức mạnh duy trì thể chế khi luật thành văn suy giảm hiệu lực.
  • Tiếp cận khái niệm quản lý: Tổng hợp quan niệm từ Từ điển tiếng Việt (hai quá trình tích hợp: “quản” là duy trì ổn định, “lý” là đổi mới phát triển), lý thuyết quản trị của Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich, Ivancevich và giáo trình hành chính học.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để xây dựng các định nghĩa, phân tích đặc điểm, nguyên tắc áp dụng tập quán.
  2. Phương pháp lịch sử và logic: Xem xét sự phát triển của tập quán qua các giai đoạn lịch sử phong kiến và đương đại.
  3. Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các hệ thống pháp luật Civil Law, Common Law và quy định của một số quốc gia (Indonesia, Nhật Bản, Malaysia...).
  4. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức luật học với dân tộc học, văn hóa học và xã hội học pháp luật.
  5. Phương pháp điều tra xã hội học và thống kê: Thu thập dữ liệu gián tiếp từ các dự án điều tra cơ bản của Bộ Tư pháp và dữ liệu trực tiếp thông qua phỏng vấn chuyên gia, khảo sát ý kiến thẩm phán, cán bộ tư pháp - hộ tịch UBND xã và hòa giải viên cơ sở.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn kiện của Đảng (Nghị quyết số 48-NQ/TW), Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Bản án, quyết định giải quyết tranh chấp của Tòa án các cấp; báo cáo công tác hòa giải cơ sở và đăng ký hộ tịch của UBND cấp xã.
  • Kết quả điều tra thực tế từ “Dự án điều tra cơ bản: Các tập quán điển hình điều chỉnh quan hệ dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền” (Bộ Tư pháp, 2018).
  • Các tập quán thành văn được ghi chép trong hương ước làng xã, luật tục Ê-đê, M’Nông, Thái...

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước ở Việt Nam

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, đặc điểm và phân loại tập quán cùng bản chất của QLXH:

  • Khái niệm tập quán: Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng, được hình thành trên cơ sở thói quen ứng xử của một cộng đồng dân cư hoặc lĩnh vực đời sống nhất định, đang tồn tại và được các chủ thể thừa nhận là quy tắc xử sự chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong cộng đồng dân cư, lĩnh vực đời sống đó.
  • Phân biệt tập quán và tập quán pháp: Tập quán thuần túy mang tính thói quen cộng đồng, không có tính pháp lý. Khi được Nhà nước thừa nhận thông qua các cơ chế pháp lý, tập quán mới mang quyền lực nhà nước, có giá trị bắt buộc chung và trở thành tập quán pháp.
  • Bốn đặc điểm cơ bản của tập quán:
    1. Không mang tính quyền lực nhà nước, mà mang tính cộng đồng: Hình thành tự phát, phản ánh ý chí chung của cộng đồng, được bảo đảm bằng dư luận và chế tài xã hội.
    2. Hình thành và tồn tại gắn liền với cộng đồng dân cư hoặc lĩnh vực đời sống nhất định: Mang tính cục bộ, gắn chặt với môi trường sinh hoạt xã hội cụ thể.
    3. Đa dạng và không phải mọi tập quán đều phù hợp với pháp luật: Do xuất phát từ nhiều điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, có những tập quán xung đột với chuẩn mực pháp luật hiện hành.
    4. Khá mềm dẻo và có khả năng cải biến để thích ứng với các điều kiện xã hội mới.
Tiêu chí phân loại Các nhóm tập quán cụ thể Ví dụ thực tế trong văn bản
Theo tính phù hợp với pháp luật, đạo đức và tiến bộ xã hội Tập quán tiến bộ (tốt đẹp) - Tập quán người Ê Đê: Con cháu có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ già.
- Tập quán người Hà Nhì (Lào Cai): Mỗi năm mở cửa rừng 2 lần chỉ để lấy củi khô; vi phạm bị họp thôn xử lý.
Tập quán lạc hậu - Tục nối dây (chuê nuê) của một số dân tộc mẫu hệ: Buộc chồng góa phải lấy người trong gia đình vợ, không tuân thủ phải ra đi tay trắng.
Theo lĩnh vực điều chỉnh Tập quán dân sự - Tập quán người Ê Đê (Đắk Lắk): Khi mua bán, vay mượn tài sản lớn có người thân thích làm chứng; người làm chứng đóng vai trò bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay.
Tập quán kinh doanh - thương mại - Tập quán ký gửi nông sản (cà phê, hồ tiêu) tại Đắk Lắk, Gia Lai: Ký gửi không mất phí lưu kho; chốt giá bán sau; doanh nghiệp chậm trả tiền khi giá tăng phải trả theo giá tăng.
Tập quán chính trị - Các quy ước, tập quán trong tổ chức cộng đồng làng bản.
Theo phạm vi lãnh thổ tác động Tập quán trong nước - Tập quán người Thái (Hòa Bình, Điện Biên, Sơn La): Chỉ con trai được thừa kế tài sản theo nguyên tắc "anh được hai, em được một".
Tập quán quốc tế - Quy tắc thương mại quốc tế Incoterms.
- Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP 600 của ICC).
Theo tính quy phạm Tập quán không mang tính quy phạm - Thói quen văn hóa: Nữ mặc áo cóong, nam chơi đàn tính tẩu (người Thái Lai Châu); cưa ngắn răng cửa, xâu lỗ tai đeo trang sức (người M'Nông).
Tập quán mang tính quy phạm - Quy tắc bắt buộc có chế tài: Tập quán người Thái (Sơn La) xử phạt trộm cắp nước lã (phạt 15 lạng bạc, trâu, rượu và cúng vía chủ nước 3 đồng).
  • Khái niệm và đặc điểm QLXH của Nhà nước: Đồng nhất với “quản lý nhà nước”, là sự tác động có tổ chức, bằng quyền lực nhà nước, theo quy trình (hoạch định - tổ chức - chỉ đạo - kiểm tra) của các chủ thể có thẩm quyền lên các đối tượng quản lý nhằm duy trì trật tự và thúc đẩy phát triển xã hội.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về áp dụng tập quán và thực tiễn áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Chương này rà soát hệ thống quy phạm pháp luật và khảo cứu thực tế áp dụng tập quán tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền:

  • Thực trạng pháp luật: Hệ thống hóa các quy định trong Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự (BLDS 2015), Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS 2015), Luật Hôn nhân và Gia đình. Pháp luật đã thừa nhận thứ tự ưu tiên áp dụng tập quán khi không có quy định của luật và các bên không có thỏa thuận, nhưng các điều khoản còn thiếu cơ chế dẫn chiếu cụ thể, thiếu tiêu chí nhận diện và hướng dẫn áp dụng thống nhất.
  • Thực tiễn áp dụng trong một số lĩnh vực:
    • Lĩnh vực đăng ký, quản lý hộ tịch tại UBND cấp xã: Áp dụng trong việc xác định họ, dân tộc, tên đệm cho trẻ em khi cha mẹ thuộc các dân tộc khác nhau hoặc có tập quán riêng biệt.
    • Lĩnh vực xét xử dân sự của TAND: Tập quán được sử dụng làm nguồn giải quyết tranh chấp hoặc nguồn chứng cứ (như việc xác định thời điểm mở thừa kế, hoặc xác lập quyền khai thác ngư trường trong vụ án bãi cào “Cây chà 19 tiếng”).
    • Lĩnh vực hòa giải ở cơ sở: Nơi tập quán được vận dụng linh hoạt và thường xuyên nhất nhằm giải quyết mâu thuẫn nội bộ gia đình, dòng họ, tranh chấp ranh giới đất đai, lối đi chung.

Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo hiệu quả áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới

Chương 3 đề xuất định hướng chính sách và các nhóm giải pháp khả thi, đồng thời phản ánh kết quả khảo sát qua hệ thống bảng biểu, số liệu thực tế:

  • Dữ liệu thực nghiệm qua các biểu đồ:
    • Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ cán bộ ở UBND xã cho biết các hòa giải viên ở cơ sở có áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp.
    • Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ Thẩm phán được hỏi về việc áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp khi thụ lý vụ việc không có quy định của pháp luật.
    • Biểu đồ 3.3: Nguyên nhân các thẩm phán không áp dụng tập quán trong xét xử.
    • Biểu đồ 3.4: Đánh giá về tính thiếu đầy đủ của quy định pháp luật về tập quán của các thẩm phán.
  • Định hướng và giải pháp:
    • Hoàn thiện thể chế pháp lý về tập quán: Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể điều kiện, nguyên tắc và quy trình áp dụng tập quán trong tố tụng và quản lý hành chính.
    • Tổ chức điều tra, sưu tầm, rà soát và xây dựng Danh mục tập quán tốt đẹp làm tài liệu tham khảo cho TAND và UBND.
    • Nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kiến thức văn hóa pháp lý và kỹ năng áp dụng tập quán cho đội ngũ thẩm phán, cán bộ tư pháp - hộ tịch và hòa giải viên cơ sở.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án làm sáng tỏ dưới góc độ Lý luận chung về nhà nước và pháp luật các khái niệm tập quán và áp dụng tập quán trong QLXH của Nhà nước, xác định rõ các đặc trưng cơ bản.
  2. Luận giải khoa học sự cần thiết khách quan và các nhân tố kinh tế, văn hóa, xã hội tác động đến việc áp dụng tập quán trong QLXH tại Việt Nam.
  3. Xây dựng hệ thống tiêu chí lựa chọn tập quán; xác định phạm vi, trường hợp, nguyên tắc áp dụng và mô hình hóa quy trình áp dụng tập quán của các chủ thể thực thi quyền lực nhà nước.
  4. Làm sâu sắc tri thức lý luận về mối quan hệ bổ trợ giữa pháp luật và tập quán, khẳng định vị trí của tập quán như một nguồn hỗ trợ cần thiết cho pháp luật trong bối cảnh đa dạng hóa nguồn luật.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị

  1. Luận án cung cấp bức tranh thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng tập quán tại TAND, UBND và tổ chức hòa giải cơ sở trong giai đoạn từ năm 2013 đến nay; chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến sự e ngại áp dụng của thẩm phán và cán bộ cơ sở.
  2. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:
    • Sửa đổi, bổ sung các quy phạm dẫn chiếu trong hệ thống pháp luật thực định.
    • Thiết lập cơ chế chính thức trong việc công bố và tra cứu danh mục tập quán được công nhận.
    • Đưa nội dung tập quán pháp vào chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi QLXH theo nghĩa hoạt động thực thi quyền lực nhà nước, do đó chủ động không đi sâu vào thực tiễn áp dụng tập quán trong trọng tài thương mại và hòa giải thương mại. Địa bàn khảo sát thực nghiệm tập trung chủ yếu vào 3 khu vực trọng điểm (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ) và khung thời gian từ sau Hiến pháp năm 2013.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục nghiên cứu mở rộng việc áp dụng tập quán sang các lĩnh vực hành chính chuyên ngành khác, đánh giá cơ chế tương tác giữa tập quán với các thiết chế xã hội dân sự ngoài nhà nước, và khảo sát so sánh chuyên sâu trên các địa bàn đô thị hóa nhanh.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học để sửa đổi, hoàn thiện các quy định về nguồn của pháp luật trong BLDS, BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành; hỗ trợ Bộ Tư pháp trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phong tục, tập quán.
  • Đối với Tòa án và cơ quan tư pháp địa phương: Giúp thẩm phán, hòa giải viên và cán bộ hộ tịch nhận diện tập quán tiến bộ, quy trình chứng minh và vận dụng tập quán hợp pháp khi giải quyết các vụ việc thực tế.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật Dân sự, Xã hội học pháp luật và Nhân học pháp lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Tập quán và tập quán pháp được phân biệt như thế nào trong luận án?

Tập quán là các thói quen ứng xử hình thành tự phát trong cộng đồng, không mang tính quyền lực nhà nước và không có giá trị pháp lý bắt buộc chung. Tập quán pháp là những tập quán được Nhà nước chính thức thừa nhận thông qua hoạt động lập pháp hoặc thực tiễn xét xử, qua đó đưa quyền lực nhà nước vào quy tắc tập quán và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực công.

2. Tại sao luận án không nghiên cứu thực trạng áp dụng tập quán trong trọng tài thương mại dù lĩnh vực này áp dụng rất phổ biến?

Mặc dù khảo sát của luận án ghi nhận khoảng 90% tranh chấp mua bán hàng hóa quốc tế có sử dụng tập quán thương mại quốc tế, luận án chủ động loại trừ trọng tài thương mại và hòa giải thương mại vì đây là các phương thức phi tài phán mang tính chất thỏa thuận tư, không thể hiện trực tiếp tính quyền lực nhà nước - yếu tố trọng tâm của khái niệm QLXH của Nhà nước.

3. Tục nối dây (chuê nuê) của một số dân tộc thiểu số mẫu hệ được luận án xếp vào loại tập quán nào?

Luận án xếp tục nối dây (chuê nuê) vào nhóm tập quán lạc hậu. Mặc dù tập quán này có nguồn gốc nhân văn truyền thống nhằm tìm chỗ dựa cho con trẻ và giữ gìn gia sản, nhưng trong xã hội hiện đại nó hạn chế quyền tự do kết hôn tự nguyện, gây mâu thuẫn với các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và Gia đình.

4. Bốn biểu đồ số liệu trong Chương 3 của luận án phản ánh những nội dung thực nghiệm nào?

  • Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ cán bộ UBND xã xác nhận hòa giải viên cơ sở có áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp.
  • Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ thẩm phán áp dụng tập quán khi thụ lý vụ việc thiếu quy định pháp luật.
  • Biểu đồ 3.3: Các nguyên nhân khiến thẩm phán không áp dụng tập quán trong xét xử.
  • Biểu đồ 3.4: Đánh giá của thẩm phán về mức độ thiếu đầy đủ của hệ thống quy định pháp luật hiện hành về tập quán.

Kết luận

Luận án tiến sĩ “Áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay” là công trình khoa học pháp lý phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng tập quán như một công cụ hỗ trợ pháp luật. Tác giả đã làm rõ bản chất, đặc điểm, các tiêu chí phân loại tập quán và quy trình áp dụng tập quán của các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những vướng mắc thực tiễn tại TAND, UBND và hệ thống hòa giải cơ sở xuất phát từ sự thiếu đồng bộ của pháp luật và sự e ngại của chủ thể áp dụng. Hệ thống quan điểm và giải pháp được luận án đề xuất là nguồn tư liệu có giá trị cho hoạt động lập pháp, nghiên cứu và giảng dạy pháp lý tại Việt Nam.