Luận Văn Thạc Sĩ Về Áp Dụng Tập Quán Thương Mại Ở Việt Nam Hiện Nay

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích áp dụng tập quán thương mại tại Việt Nam, nêu rõ thực trạng và giải pháp cải thiện hiệu quả kinh doanh.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

95
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG TẬP QUÁN

1.1. Khái niệm và các đặc điểm của tập quán thƣơng mại

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TẬP QUÁN THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Môi trƣờng pháp lý liên quan tới áp dụng tập quán thƣơng mại ở Việt Nam

2.2. Thực tiễn áp dụng tập quán thƣơng mại ở Việt Nam hiện nay

2.3. Những bất cập chủ yếu liên quan tới áp dụng tập quán thƣơng mại ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của những bất cập đó

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN TỚI ÁP DỤNG TẬP QUÁN THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Kiến nghị về chính sách và những định hƣớng liên quan tới áp dụng tập quán thƣơng mại

3.2. Kiến nghị những giải pháp cụ thể

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN TỚI NỘI DUNG LUẬN VĂN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về áp dụng tập quán thương mại tại Việt Nam

Áp dụng tập quán thương mại là một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực pháp luật tại Việt Nam. Tập quán thương mại không chỉ là một nguồn pháp luật mà còn phản ánh văn hóa và thói quen kinh doanh của người dân. Việc hiểu rõ về thực trạng thương mại tại Việt Nam giúp các doanh nghiệp và cá nhân có thể áp dụng hiệu quả các quy định pháp luật liên quan.

1.1. Khái niệm và vai trò của tập quán thương mại

Tập quán thương mại được định nghĩa là những thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại. Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch thương mại.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của tập quán thương mại

Tập quán thương mại đã hình thành từ lâu đời, phản ánh sự phát triển của nền kinh tế và văn hóa thương mại tại Việt Nam. Sự phát triển này không chỉ dựa vào các quy định pháp luật mà còn dựa vào các yếu tố xã hội và văn hóa.

II. Thực trạng áp dụng tập quán thương mại tại Việt Nam hiện nay

Thực trạng áp dụng tập quán thương mại tại Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù có những quy định pháp luật rõ ràng, nhưng việc áp dụng trong thực tiễn vẫn gặp nhiều khó khăn. Các doanh nghiệp thường không nắm rõ các quy định này, dẫn đến việc áp dụng không đồng nhất.

2.1. Những thách thức trong việc áp dụng tập quán thương mại

Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu hiểu biết về quy định pháp luật về thương mại. Nhiều doanh nghiệp không biết cách áp dụng tập quán thương mại trong các giao dịch của mình, dẫn đến những tranh chấp không đáng có.

2.2. Đánh giá thực tiễn áp dụng tập quán thương mại tại tòa án

Thực tiễn áp dụng tập quán thương mại tại tòa án cho thấy nhiều vụ án không được giải quyết thỏa đáng do thiếu sự hiểu biết về tập quán. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên mà còn làm giảm niềm tin vào hệ thống pháp luật.

III. Giải pháp cải thiện việc áp dụng tập quán thương mại

Để cải thiện việc áp dụng tập quán thương mại, cần có những giải pháp cụ thể và thiết thực. Các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao nhận thức của doanh nghiệp mà còn tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho việc áp dụng tập quán.

3.1. Đề xuất chính sách và quy định pháp luật

Cần có những chính sách rõ ràng hơn về việc áp dụng tập quán thương mại. Các quy định pháp luật cần được cập nhật và điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn kinh doanh hiện nay.

3.2. Tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức

Đào tạo cho các doanh nghiệp về tập quán thương mại và các quy định pháp luật liên quan là rất cần thiết. Điều này giúp họ hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong các giao dịch thương mại.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tập quán thương mại

Việc nghiên cứu và ứng dụng tập quán thương mại trong thực tiễn đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng thành công các quy định này, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và giảm thiểu tranh chấp.

4.1. Các trường hợp thành công trong áp dụng tập quán thương mại

Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng thành công tập quán thương mại trong các giao dịch của mình, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh và nâng cao uy tín trên thị trường.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các bài học từ thực tiễn áp dụng tập quán thương mại cho thấy rằng việc hiểu rõ và áp dụng đúng các quy định pháp luật là rất quan trọng. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp tránh được rủi ro mà còn tạo ra cơ hội phát triển bền vững.

V. Kết luận và tương lai của tập quán thương mại tại Việt Nam

Tương lai của tập quán thương mại tại Việt Nam phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự thay đổi trong chính sách pháp luật và sự phát triển của nền kinh tế. Cần có những nỗ lực từ cả phía nhà nước và doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả áp dụng tập quán thương mại.

5.1. Triển vọng phát triển của tập quán thương mại

Triển vọng phát triển của tập quán thương mại tại Việt Nam là rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Việc áp dụng hiệu quả tập quán thương mại sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

5.2. Những khuyến nghị cho tương lai

Cần có những khuyến nghị cụ thể cho việc áp dụng tập quán thương mại trong tương lai, bao gồm việc cải cách chính sách và nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls áp dụng tập quán thương mại ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG TẬP QUÁN THƢƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TẬP QUÁN THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tập quán "Tập quán" với tƣ cách là một nguồn của pháp luật, còn đƣợc gọi là "luật tục" hay "tục lệ". Theo cách nhìn của những ngƣời nghiên cứu văn hóa, "luật tục về cơ bản là một kho tàng kiến thức bản địa về ứng xử và quản lý cộng đồng, tuy nhiên ở đó còn chứa đựng những giá trị nhiều mặt: ngôn ngữ và tƣ duy, bản sắc văn hóa, văn học và chữ viết, tôn giáo tín ngƣỡng" [45, tr.

Tập quán là sản phẩm của mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, và không thể không xuất hiện khi lợi ích của con ngƣời luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp mà đòi hỏi phải đƣợc giải quyết thỏa đáng để làm bình ổn lại các quan hệ xã hội bị phá vỡ bởi tranh chấp. Sản phẩm ấy đƣợc tạo thành ở những cộng đồng xác định trong một thời gian dài và mang sắc thái riêng của từng cộng đồng. Vì vậy tập quán là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều môn học khác nhau nhƣ: văn hóa, lịch sử, xã hội học, luật học… Ở chuyên môn luật học, ngƣời ta thƣờng chú ý tới các qui tắc xử sự ở tập quán mà trong đó chứa đựng các giải pháp cho việc giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan. Phân tích kỹ lƣỡng về phƣơng diện pháp lý, thuật ngữ "tập quán" có sự khác biệt với các thuật ngữ "luật tục", và "tục lệ".

Theo một nghiên cứu, tập quán ngụ ý về "thói quen ứng xử" bao gồm trong đó quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, và chỉ trở thành "tục lệ" hay "luật tục" nếu có sự bắt buộc về mặt tinh thần [29, tr. Bộ luật Dân sự 2005 (Điều 3) và Luật Thƣơng mại 2005 (Điều 13) có qui định về nguyên tắc áp dụng tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự và tranh chấp thƣơng mại. "Tập quán" tại các 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đạo luật này là một khái niệm hẹp hơn khái niệm "thói quen". Luật Thƣơng mại 2005 đƣa ra định nghĩa: "Tập quán thƣơng mại là thói quen đƣợc thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thƣơng mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thƣơng mại, có nội dung rõ ràng đƣợc các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thƣơng mại" [42, Điều 3, khoản 4].

Chƣa nói tới sự chính xác về mặt học thuật của định nghĩa khái niệm này, nhƣng nó cho thấy mối liên hệ logic giữa khái niệm tập quán và khái niệm thói quen. Vậy chỉ có thuật ngữ "tập quán pháp" mới đồng nghĩa cả về mặt pháp lý và cả về mặt ngôn ngữ với các thuật ngữ "luật tục" hay "tục lệ". Để phù hợp với cách thức sử dụng thuật ngữ hiện nay ở Việt Nam, luận văn này vẫn sử dụng thuật ngữ tập quán trừ khi có ngữ cảnh đặc biệt. Điều 38 của Qui chế Tòa án Công lý Quốc tế coi "tập quán quốc tế là bằng chứng về một thói quen chung đƣợc chấp nhận nhƣ luật" (nguyên văn: international custom, as evidence of a general practice accepted as law).

Trong luật quốc tế, thuật ngữ tập quán (custom) và thuật ngữ thói quen (usage) đôi khi đƣợc sử dụng thay thế cho nhau nhƣng có nghĩa khác nhau. Ian Brownlie cho rằng "usage" là thói quen thực hành chung mà không mang lại một nghĩa vụ pháp lý nào, ví dụ nhƣ chào hỏi có tính chất nghi lễ ở trên biển và thói quen miễn trừ cho các phƣơng tiện ngoại giao ở những nơi cấm đỗ [65, tr. Ở Việt Nam cũng có quan niệm tƣơng tự, chẳng hạn xác định rằng việc tặng thêm tiền cho lái xe taxi không thể coi là một tục lệ mặc dù đó là một thói quen [29, tr. Nhƣ vậy không phải bất kỳ một qui tắc ứng xử nào thuộc thói quen đều đƣợc áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp pháp lý giữa các bên.

Để áp dụng một qui tắc tập quán ngƣời ta phải phân tích các yếu tố của nó. Một qui tắc tập quán bao gồm hai yếu tố: (1) Yếu tố vật chất (hay còn gọi là yếu tố thực tại); và (2) yếu tố tinh thần (hay còn gọi là yếu tố ý thức hay yếu tố tâm lý). Cách thức phân tích này đƣợc hình thành là một tất yếu khách 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan dựa trên nền tảng triết học đƣợc các triết gia thừa nhận, có nghĩa là nó xuất phát từ sự phản ánh khái quát nhất các vấn đề của vũ trụ trong hai phạm trù triết học là vật chất và ý thức. Tuy nhiên để làm rõ hai yếu tố này của qui tắc tập quán, ngƣời ta phải phân tích các chi tiết cấu tạo nên từng yếu tố đó.

Các luật gia trên thế giới đều tiến hành nghiên cứu các qui tắc tập quán theo cách thức nhƣ vậy. Chẳng hạn: (i) Theo Catherine Roche và Aurélia Potot-Nicol, tập quán quốc tế có hai yếu tố để nhận biết là yếu tố vật chất và yếu tố ý thức, mà trong đó yếu tố vật chất là sự tồn tại một thực tiễn áp dụng phổ biến, nghĩa là sự lặp đi lặp lại trong một thời gian dài những hành động, sự việc, tuyên bố hay những hành vi tích cực hoặc tiêu cực của các chủ thể pháp luật quốc tế, và yếu tố ý thức là sự tin chắc của chủ thể luật quốc tế về việc bắt buộc phải xử sự nhƣ vậy vì có qui định pháp luật nhƣ vậy [6, tr. (ii) Nhiều luật gia Việt Nam phân tích: (1) Thói quen hay tập quán phải có tính tổng quát và lâu dài, có nghĩa là cộng đồng đã cùng nhìn nhận, sử dụng tập quán đó nhƣ qui tắc ứng xử và giải quyết tranh chấp, và nó đã đƣợc hình thành dần trong thời gian có tính cách lặp đi lặp lại; và (2) Mọi ngƣời trong cộng đồng ý thức về sự cần thiết không thể thiếu đƣợc tập quán đó [28, tr. Yếu tố vật chất thƣờng bao gồm các thành tố nhƣ: tồn tại theo thời gian, tính ổn định, tính lặp đi lặp lại và tính phổ biến của qui tắc tập quán xác định.

Yếu tố tinh thần (opinio juris sive necessitatis) nói đến sự nhận thức của mọi thành viên cộng đồng về sự cần thiết ứng xử theo qui tắc đó [62]. Tập quán có sự khác biệt với thói quen đƣợc hình thành giữa các bên ở hai khía cạnh liên quan tới không gian và thời gian. Tập quán đƣợc hình thành trong một cộng đồng nhất định, trong khi đó thói quen chỉ hình thành giữa các bên trong một hoặc một số hoạt động cụ thể. Tập quán là sản phẩm của thời gian [24, tr.

52], đƣợc lặp đi lặp lại nhiều lần, còn thói quen ứng xử 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có thể đƣợc áp dụng khi chứng minh đƣợc trong cùng một hoàn cảnh trƣớc đó các bên ứng xử theo cùng một cách [10, tr. Hiểu một cách đơn giản, tập quán là thói quen ứng xử hình thành trong một cộng đồng xác định đƣợc áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan khi đã làm rõ đƣợc yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần của nó. Tuy nhiên có một vài tác giả thuộc truyền thống Civil Law đã đƣa ra luận thuyết cho rằng những án lệ ổn định là tập quán pháp. Nhƣng quan điểm đó không đƣợc chính thức công nhận [64, tr.

Khái niệm tập quán thƣơng mại Tập quán thƣơng mại là một loại tập quán đƣợc phân loại theo ngành luật, và đƣợc xác định bởi hai nhóm vấn đề: Thứ nhất, nguồn gốc phát sinh ra tập quán; và thứ hai, phân loại pháp lý của qui tắc tập quán. Tuy nhiên hai vấn đề này không có ranh giới rõ rệt mà chúng phải dựa vào nhau trong việc xác định tập quán thƣơng mại. Trong khoa học pháp lý, nhất là ở truyền thống Civil Law, ngƣời ta thƣờng có sự phân biệt giữa luật dân sự và luật thƣơng mại, do đó buộc phải phân loại các hành vi pháp lý thành hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại. Sự phân biệt này vấp phải nhiều rắc rối mà đôi khi gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật.

Tuy nhiên các luật gia thuộc truyền thống Civil Law đã cố gắng đƣa ra một số cách phân biệt hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại. Trong pháp điển hóa luật thƣơng mại các cách thức phân biệt này đƣợc sử dụng phần nào đó. Về mặt học thuật, để phân biệt hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại, ngƣời ta thƣờng đi từ việc phân tích lịch sử phát sinh ra các qui tắc của luật thƣơng mại, rồi sau đó đề cập tới các cách thức phân biệt hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại. Nguồn gốc lịch sử của luật thương mại Roger Houin và Michel Pédamon cho rằng: luật thƣơng mại không thể tự nhiên xuất hiện mà chúng chỉ có thể đƣợc hình thành khi có vài điều kiện 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lịch sử nhất định, và các yếu tố hợp nhất lại để hình thành điều kiện lịch sử cho việc ra đời của luật thƣơng mại là khi có một khối lƣợng nhất định về sản xuất và trao đổi, khi quan hệ quốc tế trở nên sôi động và khi có một sự tự do vừa đủ cho các thƣơng gia [8, tr.

Vào thế kỷ thứ XII và XIII các quy tắc thƣơng mại đƣợc hình thành ở Miền Bắc Italy khi thƣơng mại và hàng hải phát triển. Cùng thời, ở Châu Âu đã hình thành một trung tâm thƣơng mại thứ hai trong các thành phố của Flandre nhƣ Bruges, Anwers, Amsterdam với sự phát triển nghề sản xuất len và vải. Các chế định của luật thƣơng mại xuất hiện ở khắp nơi trong các hội chợ lớn để phục vụ cho việc phân phối hàng hóa khác ở Châu Âu. Khi công nghiệp và thƣơng mại có sức lớn nhất định nhiều Đạo dụ đƣợc các nhà vua ban hành để điều tiết quan hệ thƣơng mại.

Chẳng hạn: Ở Pháp có Chỉ dụ năm 1563; Đạo dụ năm 1673 (còn đƣợc gọi là Bộ luật Savary); Đạo dụ năm 1681 về luật hàng hải. Các Đạo dụ này đánh dấu sự ra đời của luật thƣơng mại với tƣ cách là một ngành luật. Đặc biệt năm 1801, một ủy ban gồm 7 thành viên bao gồm các thẩm phán và thƣơng gia soạn thảo Bộ luật Thƣơng mại Pháp và Bộ luật này đƣợc ban hành vào năm 1807 [8, tr. Đây là bộ pháp điển hóa đầu tiên của thế giới về luật thƣơng mại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ