Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội mua bán trái phép chất ma túy 1. Khái niệm tội mua bán trái phép chất ma túy Theo Từ điển bách khoa Công an nhân dân thì “ma túy” được hiểu là hợp chất khi đưa vào cơ thể sống có tác dụng làm thay đổi một hay nhiều chức năng của cơ thể [45, tr. Theo luật phòng chống ma túy năm 2000 thì “chất ma túy” được hiểu là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành.
Hiện nay, khái niệm “chất ma túy” không được quy định trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 – Sau đây thống nhất gọi là BLHS năm 2015) và các chất ma túy cụ thể được quy định trong các tình tiết định khung tăng nặng của các điều luật trong Chương XX “Các tội phạm về ma túy”. Ma túy bao gồm: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao coca, hêrôin, côcain, lá, hoa, quả cây cần sa, lá cây côca, quả thuốc phiện khô, các chất ma túy khác ở thể rắn, các chất ma túy khác ở thể lỏng. Trong đó, các chất ma túy khác là những chất ma túy không được nêu trong BLHS nhưng nằm trong các danh mục được quy định tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Trong khoa học pháp lý hình sự, có một số tác giả đưa ra khái niệm về tội MBTPCMT như sau: Tác giả Trần Văn Luyện cho rằng “Tội mua bán trái phép chất ma túy là hành vi mua bán, trao đổi trái phép chất ma túy” [25, tr.
8 Qua các ý kiến nêu trên, chúng ta nhận thấy đặc trưng của hành vi mua bán chất ma túy là hành vi bán hoặc nhằm bán trái phép chất ma túy cho người khác dưới bất kỳ hình thức nào. Nội hàm đầy đủ về hành vi MBTPCMT sẽ được làm rõ hơn hơn phần nghiên cứu dấu hiệu pháp lý của tội MBTPCMT. Dựa trên khái niệm “tội phạm” được quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 và đặc trưng của hành vi MBTPCMT, có thể đưa ra khái niệm về tội MBTPCMT như sau: “Tội mua bán trái phép chất ma túy là hành vi mua bán, trao đổi trái phép chất ma túy cho người khác dưới bất kỳ hình thức nào, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà theo quy định của BLHS phải xử lý hình sự”. Là một loại tội phạm cụ thể, tội MBTPCMT có các dấu hiệu chung của tội phạm: Thứ nhất, về tính nguy hiểm cho xã hội: Hành vi nào đó sở dĩ bị quy định trong Luật hình sự là tội phạm và phải chịu TNHS vì nó có tính nguy hiểm cho xã hội [38, tr.
Cho nên, tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm. Xét về mặt khách quan, hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho những quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ. Hành vi MBTPCMT đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, đây là những quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, MBTPCMT là hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Thứ hai, về tính có lỗi của tội MBTPCMT, đó là thái độ tâm lý đối với hành vi phạm tội MBTPCMT do người có năng lực TNHS thực hiện và đối với hậu quả của hành vi đó, được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý [41, tr. 9 Thứ ba, về tính trái pháp luật hình sự của tội này được hiểu là tội MBTPCMT phải được quy định trong BLHS, đây là biểu hiện của nguyên tắc pháp chế thể hiện tại Điều 2 BLHS “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”, tính trái pháp luật hình sự chính là hình thức pháp lý của tính nguy hiểm cho xã hội của tội MBTPCMT, giữa hai đặc tính này có mối quan hệ chặt chẽ, gắn liền với nhau, thể hiện thông qua việc đe dọa áp dụng chế tài hình sự đối với người thực hiện hành vi MBTPCMT với mức nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì hành vi đó là trái pháp luật hình sự và người thực hiện hành vi phải chịu TNHS [41, tr. Thứ tư, về tính chịu hành phạt của tội này được hiểu là hành vi MBTPCMT gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội khi đủ yếu tố cầu thành tội phạm được BLHS quy định là tội phạm, thì có khả năng bị áp dụng hình phạt, thể hiện sự đe dọa áp dụng việc trừng phạt bằng các chế tài hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội MBTPCMT. Hình phạt đối với hành vi MBTPCMT là hình thức thể hiện bản chất nguy hiểm của tội MBTPCMT, thể hiện tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất nhằm răn đe và phòng ngừa đối với loại hành vi nguy hiểm đáng kể này [41, tr.
Như vậy, tội MBTPCMT mang đầy đủ các dấu hiệu chung của tội phạm, đây là tiền đề quan trọng để luận văn phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội này. Các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội mua bán trái phép chất ma túy - Khách thể của tội MBTPCMT. Khách thể của tội phạm là yếu tố không thể tách rời của tội phạm, tội phạm bao giờ cũng xâm hại đến một hoặc một số quan hệ xã hội được Nhà nước xác định bảo vệ bằng luật hình sự. Tội MBTPCMT tại Điều 251 BLHS 2015 có khách thể trực tiếp là chế độ độc quyền và thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.
10 Việc Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý các chất ma túy là dễ hiểu bởi các tác hại, độ nguy hiểm của nó cho xã hội là rất lớn. Nếu sử dụng chất ma túy vào mục đích tốt như: khoa học, công nghiệp, y tế. thì nó lại trở thành hữu ích, có lợi cho con người. Ngược lại, nếu sử dụng các chất ma túy vào mục đích xấu, như: nhằm thỏa mãn cơn nghiện, những vui thú sa đọa.
thì nó lại trở thành vật nguy hại cho xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm, thậm chí nó còn hủy hoại cả nhiều thế hệ con người, hủy hoại tương lai của đất nước. Chỉ những cá nhân, cơ quan có thẩm quyền thực hiện đúng chức năng, nhiệm, vụ, quyền hạn của mình thực hiện các hoạt động liên quan đến ma túy. Ngoài những chủ thể được phép thì những chủ thể khác thực hiện hành vi hoạt động liên quan đến chất ma túy đều là vi phạm pháp luật. Chính vì vậy, để kiểm soát được các chất ma túy này, không một chủ thể nào có điều kiện, có phương tiện, có nhân lực hơn Nhà nước, bởi Nhà nước là chủ thể duy nhất có đầy đủ hệ thống các cơ quan quản lý toàn diện từ cấp cơ sở đến cấp trung ương và quản lý mọi mặt trong lĩnh vực đời sống xã hội.
“Đối tượng tác động của tội phạm này là các chất ma túy và các nguyên liệu thực vật có chứa chất ma tuý” [46; tr18]. Các chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành. Còn các loại tiền chất ma túy thì không phải là đối tượng của tội MBTPCMT, nó chỉ là đối tượng của tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 253 BLHS 2015. Do đó, cần lưu ý và phân biệt rõ về đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này.
- Mặt khách quan của tội phạm MBTPCMT. Mặt khách quan là những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các dấu hiệu biểu hiện sự thực hiện hành vi phạm tội và gắn liền với hành vi như: công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ 11 đoạn phạm tội, thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội. MBTPCMT là hành vi trao đổi trái phép chất ma túy dưới bất kì hình thức nào như mua để bán lại, vận chuyển ma túy để bán cho người khác, tàng trữ ma túy để bán dần, dùng ma túy để đổi lấy hàng hóa hoặc dùng hàng hóa để đổi lấy ma túy, xin chất ma túy rồi mang bán lại cho người khác. Căn cứ vào hướng dẫn tại tiểu mục 3.
3, Mục 3 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP xác định hành vi khách quan của tội Mua bán trái phép chất ma tuý có 3 nhóm hành vi chính, đó là: Nhóm hành vi “Bán” trái phép chất ma tuý (gồm các điểm a, b, c, e, g mục 3. 3, phần II, Thông tư 17): Hành vi này có thể là mua, xin, trộm cắp, cướp giật, chiếm đoạt, nhặt được nhưng đều nhằm mục đích để bán. Tóm lại, không cần xét đến nguồn gốc ma tuý do đâu mà có, chỉ cần có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho người khác là đã cấu thành tội này. Kể cả hành vi bán hộ ma tuý thì cũng thuộc nhóm hành vi “bán” trái phép chất ma tuý.
Nhóm hành vi “Trao đổi” trái phép chất ma tuý (gồm các điểm d, đ mục 3. 3): Việc trao đổi chất ma tuý này có thể là đổi ma tuý để lấy tài sản của người nhận ma tuý (việc trao đổi có thể ngang giá hoặc không ngang giá), hoặc có thể là dùng ma tuý để thanh toán khoản nợ, trừ nợ. Trường hợp này cũng không cần xét đến nguồn gốc ma tuý. Nhóm hành vi “Hỗ trợ” việc bán, trao đổi trái phép chất ma tuý (phần cuối mục 3.
3): Đây là các hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức cho hành vi bán, trao đổi chất ma tuý - gọi chung là trường hợp đồng phạm với hành vi bán, trao đổi ma tuý. Điểm cần lưu ý trong dấu hiệu khách quan của tội MBTPCMT là: Tất cả các hành vi bán, trao đổi chất ma túy nêu trên, phải có tính “trái phép”. Tính “trái phép” ở đây là trái với pháp luật, trái với những quy định do Nhà nước ban hành.