Đặt vấn đề Rau quả là loại thực phẩm không thể thiếu trong khẩu phần ăn hàng ngày của các hộ gia đình. Đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì nhu cầu về rau quả lại càng cần thiết hơn để cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ cho con người. Hàng năm, ngành sản xuất rau quả không những cung cấp sản phẩm cho thị trưởng trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta. Dưa lê (Cucumis melo L.) thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng nhiều vụ trong năm và cho năng suất khá cao.
Dưa lê có nguồn gốc từ Châu Phi sau đó được trồng lan rộng ra các nước Ai Cập, Ấn Độ. Trung Quốc và ngày nay được trồng ở tất cả các nước trên thế giới (Vũ Văn Liết, 2012). Diện tích trồng dưa không ngừng tăng lên, năm 2014 diện tích trồng dưa trên thế giới khoảng 1.808 nghìn ha với năng suất đạt 23,84 tấn ha sản lượng đạt 29,626,335 tấn (FAO. Dưa lê là loại cây ăn quả, có thể dùng ăn tươi hoặc chế biến các món ăn khác, giá thành hợp lý, màu sắc và hình dạng quả đa dạng.
Trong quả dưa có chữa nhiều hàm lượng các chất vitamin A, B, C và chất khoáng. Khi chín trong quả có chứa thành phần dinh dưỡng cao giúp chống oxy hoá, ngăn ngừa bệnh tim mạch và ung thư, như nước chiếm 95%, đạm 0,6%, chất béo 0,11%, chất xơ 0,33%, vitamin A, vitamin B 0,03mg, vitamin C 1,5-2mg và nhiều khoáng chất. Ở Việt Nam hiện nay, dưa được trồng ở 1 số tỉnh như: Hải Dương, Hà Nội, Bắc Ninh,. Mặc dù nhu cầu về tiêu dùng dưa khá lớn song diện tích trồng dưa tăng chậm, chủ yếu diện tích trồng dưa còn nhỏ lẻ, manh mún với quy mô nhỏ, chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ rất lớn của người tiêu dùng, do vậy các sản phẩm dưa vẫn được nhập khẩu tràn lan không rõ nguồn gốc, xuất xứ từ các nước khác.
Nguyên nhân chủ yếu là thiếu bộ giống tốt, thích nghi cho từng vùng sinh thái. Giống dưa hiện đang trồng ngoài sản xuất chủ yếu là các giống dưa địa phương như dưa lê 1 Hà Nội, dưa lê vàng Hải Dương. Các giống dưa lê nhập nội từ Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan,… cho năng suất và chất lượng khá nhưng khả năng chống chịu và khả năng thích ứng của giống với từng vùng sinh thái còn là một trở ngại. Việc nghiên cứu ứng dụng các biện pháp kĩ thuật trồng trọt, chăm sóc, thăm canh và chọn tạo những giống dưa lê có chất lượng cao, phù hợp với các điều kiện sinh thái đáp ứng được nhu cầu của thị trường là sức cần thiết, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cho người nông dân.
Hiện nay diện tích trồng dưa tại khu vực Gia Lâm được tăng lên nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng nhiều. Tuy nhiên năng suất của các giống dưa lê được áp dụng trong sản xuất chưa cao. Bởi một trong những nguyên nhân như: Biện pháp kỹ thuật canh tác chưa áp dụng đúng, sâu bệnh hại xâm nhập, thiếu giống tốt cho các vùng trồng. Hơn nữa, dưa lê rất khó tính nếu như canh tác ngoài đồng gặp mưa giai đoạn gần thu hoạch, thường xảy ra ở vụ Xuân Hè.
Chính vì vậy chúng tôi đã quyết định đưa ra phương pháp nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của vòm che và biện pháp phủ luống đến sinh trưởng và phát triển Dưa lê Happy 6 trồng vụ Xuân Hè tại Gia Lâm, Hà Nội” nhằm tìm ra phương pháp có khả năng thích nghi tốt nhất với đặc trưng của giống Dưa lê. Mục đích, yêu cầu 1. Mục đích - Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp phủ mặt luống đến thời gian sinh trưởng, động thái sinh trưởng qua các giai đọan của Dưa lê Happy6 - Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp phủ mặt luống đến khả năng ra hoa đậu quả và chất lượng quả của Dưa lê Happy6 - Nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại trên các biện pháp phủ mặt luống của cây Dưa lê vàng Happy6 - Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp phủ mặt luống đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của dưa lê vàng Happy 6 trồng vụ Xuân hè 2022. 2 - Nghiên cứu ảnh hưởng của vòm che đến thời gian sinh trưởng, động thái sinh trưởng qua các giai đọan của Dưa lê Happy6.
- Nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại trên công thức vòm che của cây Dưa lê vàng Happy6. - Nghiên cứu ảnh hưởng của vòm che đến khả năng ra hoa đậu quả và chất lượng quả của Dưa lê Happy6. - Nghiên cứu ảnh hưởng của vòm che đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của dưa lê vàng Happy 6 trồng vụ Xuân hè 2022. Yêu cầu - Biết cách thiết kế thí nghiệm, thu thập và phân tích dữ liệu để trả lời các câu hỏi đã đặt ra của đề tài.
- Có thể nhận biết và mô tả các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây dưa lê Happy 6 trong điều kiện trồng khác nhau. - Biết cách ghi nhận, so sánh và đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của dưa lê Happy 6 trong các điều kiện thí nghiệm khác nhau. - Nhận biết được các loại sâu bệnh hại thông thường xuất hiện trên dưa lê mức độ gây hại của chúng. - Có khả năng viết và trình bày báo cáo khoa học khi kết thúc khoá luận.
3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, xuất xứ và phân loại của dưa lê 2. Nguồn gốc của dưa lê Dưa lê có tên khoa học là Cucumis melo L. , là rau ăn quả thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), cây có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao.
Nguồn gốc cây dưa lê tính đến nay cũng chưa thực sự rõ ràng (Robinsion & Decker- Walters D. Theo Zeven & Zhukovsky (1975) dưa có nguồn gốc từ Châu Phi hoặc trong các thung lũng nóng bức của Tây Nam Á, đặc biệt là Iran và Ấn Độ, sau đó lan truyền sang Châu Á, từ đây chúng dần dần bắt đầu xuất hiện ở Châu Âu vào cuối thời Tây La Mã. Dưa được biết là được trồng bời người Ai Cập cổ đại. Việc di chuyển dưa đến các khu vực này vẫn chưa xác định được rõ mốc thời gia, nhưng một số nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng dưa không ngọt trong nhóm Chate và các nhóm Flexuosus sớm nhất là vào năm 1350 trước Công nguyên (Janick et al., 2007), nghiên cứu trên được biết trong bản thảo Kinh thánh tiếng Do Thái và hình ảnh tài liệu từ nền văn hóa thời cổ đại.Văn học La Mã và thời kỳ trung cổ tiết lộ rằng dưa đã được biết đến ở Trung Á trong giữa thế kỷ thứ 9, xuất hiện ở Khorasan (Turkmeni- stan, Uzbekistan, Tajikistan và Đông bắc Iran) và ở Ba Tư vào giữa thế kỷ thứ 10, và ở Andalusia (Tây Ban Nha) vào giữa thế kỷ 11 (Paris et al.
Dưa là một trong những loài thực vật sớm nhất được thuần hóa ở cả Cựu thế giới và là một trong những loài cây trồng đầu tiên được người phương Tây mang đến Tân thế giới. Việc thuần hóa dưa đã phát triển ở Đông Nam Á, Ấn Độ và Đông Á (Esquinas-Alcazar and Gulick, 1983; Pitrat, 2012). Theo Kerje & Grum (2000) và nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng dưa lê là cây trồng nhiệt đới, loài cổ đại có nguồn gốc từ Châu Phi. Trung tâm đa dạng nguồn gen sơ cấp và thứ cấp nằm từ Đông Á đến Biển địa trung Hải (Afghanistan, Iran, Irắc, Ả rập xê út, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Liên Bang Nga, 4 Ấn Độ).
Theo Milind & Kulwant (2011) dưa thơm đầu tiên được khám phá bởi Linné vào năm 1753. Nguồn gốc của dưa thơm vẫn còn nhiều tranh cãi, nhưng những nghiên cứu gần đây chỉ ra rõ ràng nguồn gốc của dưa thơm là ở phía Nam và phía Đông châu Phi. Dưa lê được trồng tại Trung Quốc và Iran từ cách đây 3.000 năm trước và ở Ấn Độ 2000 17 năm trước, ở Ai Cập 1500 năm trước công nguyên và ở phía Tây Nhật Bản vào 100 năm trước công nguyên. Phân loại dưa Dưa lê (Cucumis melo L.) thuộc: Bộ bầu bí (Cucurbitales), họ bầu bí (Cucurbitaceae), chi (Cucumis), loài (Cucumis melo L.) Theo kết quả nghiên cứu, dưa lê có số nhiễm sắc thể 2n=24.
Dưa lê Hàn Quốc (Cucumis melo L. makuwa) hay còn gọi bằng tiếng Hàn là “chamoe” là một loại dưa được trồng phổ biến ở Hàn Quốc. Các nghiên cứu về sự phân bào theo dõi dòng di truyền của cây cho thấy rằng dưa lê Hàn Quốc có thể có nguồn gốc ở miền Đông Ấn Độ. Sau đó họ được được đưa vào Trung Quốc qua con đường tơ lụa, từ đó chúng được du nhập vào Hàn Quốc và Nhật Bản.
Các loài khác nhau có sự biến đổi hình thái quả ở các đặc điểm như kích thước, hình dạng, màu sắc, kết cấu, hương vị và thành phần các chất dinh dưỡng. melo được coi là loài đa dạng nhất trong chi Cucumis (Whitaker and Davis, 1962; Jeffrey, 1980; Kirkbride, 1993). Có rất nhiều tác giả tiến hành phân loại dưa lê trên nhiều quan điểm khác nhau. Theo Munger và Robinson (1991) sử dụng mô tả của Naudin (1959), Grebenscikove (1953), Pangalo (1929), Hammer và cộng sự (1986) nghiên cứu và sắp xếp các mẫu nguồn gen dưa lê vào 7 nhóm như sau: 1.
agrestis: Quả rất nhỏ (<5 cm) không ăn được, cùi rất mỏng và hạt rất nhỏ. thân mảnh, là cây đơn tính cùng gốc, đều có hoa đực và hoa cái trên cùng một thân phát triển như có dại ở Châu Phi và các nước Châu Á. cantalupensis: Hoa đơn tính đực và lưỡng tính ở hầu hết các kiểu gen, có lông ở bầu nhuỵ, quả có kích thước trung bình lớn, bóng, mịn, màu sắc vỏ biến động có vảy hoặc vân. Quả có mùi thơm, vị ngọt khi chín.
Gồm có dạng reliculatus. inodorus: Dưa lê mùa Đông quả lớn, không thơm, bảo quản dài, cùi dày, mịn hay vân đốm. Bao gồm các loại dưa ngọt Châu Á và Tây Ban Nha như giống dưa ruột xanh và dưa vàng, thường đơn tính và lưỡng tính, có lông trên bầu nhụy. flexuosus: Được tìm thấy ở Trung Đông và Châu Á, thường có hoa đơn tính cùng gốc.
Có quả dài, không ngọt, ăn non như dưa chuột. makuwa: Là hoa đơn tính đực và lưỡng tính. Lá có lông, nhụy có lông rất mịn. Các giống vùng Viễn Đông, vỏ trơn, thịt mỏng, trắng, quả có vân nhỏ cùng gồm loại ngọt và loại ăn xanh giòn.