PHẦN MỞ ĐẦU Ở chương thứ nhất này, khóa luận đã đưa được ra vấn đề, tầm quan trọng và sự cần thiết phải nghiên cứu của đề tài. Qua đó, khóa luận cũng chỉ ra mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể đi kèm với phương pháp tiếp cận, cũng như phương pháp nghiên cứu và nội dung của khóa luận. Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7 Chương thứ hai cung cấp những đánh giá về các tài liệu của đề tài bao gồm một số định nghĩa cụ thể, nguồn gốc lý thuyết và kết quả thực nghiệm. Các lý thuyết nền tảng giúp tóm tắt và hệ thống một số lý thuyết liên quan ,sau đó giải thích mối quan hệ giữa quyền sở hữu quản lý và tỷ lệ nợ.
Theo đó, kết quả thực nghiệm cung cấp cái nhìn tổng quan về cả các nghiên cứu quốc tế và các nghiên cứu Việt Nam về đề tài và qua đó nhìn nhận được khoảng cách nghiên cứu ở trong và ngoài nước. Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tiếp sau nội dung tổng quan , chương 3 mô tả phương pháp trong nghiên cứu bao gồm quá trình thu thập dữ liệu, đo lường các biến và dấu hiệu dự đoán của đối tượng nghiên cứu trong hồi quy. Hơn nữa, phương pháp này cũng tóm tắt ngắn gọn và định nghĩa một số thử nghiệm giả định trong nghiên cứu này. Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Sau đó, chương 4 đưa ra kết quả và thảo luận cho các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 5: KẾT LUẬN Cuối cùng, trong chương 5, khóa luận đưa ra các giới hạn được liệt kê trong quá trình nghiên cứu và kết quả của nó. Qua đó cung cấp thêm các đề xuất nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYÊT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU QUẢN TRỊ ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP Trong chương 2, tác giả sẽ giới thiệu một cách tổng quát về cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu này. Đầu tiên, thông qua việc cung cấp những định nghĩa cơ bản về cấu trúc vốn cũng như sở hữu quản lý trong một doanh nghiệp thông qua các cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, tác giả sẽ tổng hợp và xây dựng nền tảng lý luận vững chắc cho bài nghiên cứu của mình. Tiếp theo, chương 2 của khóa luận sẽ chỉ ra khoảng trống nghiên cứu trong các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan để đưa đến khảo hướng tiếp cận phù hợp nhất cho nghiên cứu của tác giả.
Lý luận chung về Cấu trúc vốn Có một số định nghĩa về cơ cấu vốn do một số nhà nghiên cứu tài chính đưa ra.Chandra (2011), cấu trúc vốn được định nghĩa là “Cách công ty quyết định chia dòng tiền của mình thành hai phần, một thành phần cố định được dành để đáp ứng nghĩa vụ đối với vốn vay và phần còn lại thuộc về vốn chủ sở hữu cổ đông”. Hoặc những định nghĩa này có thể được giải thích một cách đơn giản “Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ vay và vốn chủ sở hữu dùng tài trợ cho tài sản của công ty” (Hampton, 2011). Mặc dù cơ cấu vốn được giải thích theo nhiều cách khác nhau bởi các chuyên gia khác nhau, ý nghĩa cốt lõi vẫn là tài trợ cho hoạt động tài chính và quỹ, các công ty cần tăng số nợ hoặc vốn chủ sở hữu. Điều làm thay đổi tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu hoặc tỷ lệ nợ trên vốn.
Công ty sẽ xem xét liệu họ có tăng nợ hay vốn chủ sở hữu và quản lý giúp xác định số dư của hai nguồn này để đạt được cơ cấu vốn tối ưu dẫn đến chi phí vốn trung bình thấp nhất (WACC) và tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp. Tóm lại, dựa vào 9 các định nghĩa về cấu trúc vốn để đo biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ trên quy mô vốn hóa của doanh nghiệp trong nghiên cứu này. Lý luận chung về Sở hữu quản trị Theo Holderness (2003), một định nghĩa về sở hữu quản trị diễn giải tỷ lệ phần trăm vốn chủ sở hữu của người trong nội bộ công ty. Nội bộ ở đây bao gồm các viên chức và giám đốc của một công ty và quyền sở hữu của nó được định nghĩa là "Phần cổ phần, không bao gồm các quyền, được giữ bởi các cán bộ và giám đốc của hội đồng quản trị" (Cho, 1998).
Nói cách khác, như McConnell và Servaes (1990) tuyên bố, quyền sở hữu quản lý là “Tỷ lệ phần trăm cổ phần của các giám đốc và các thành viên trong hội đồng quản trị của công ty”. Lý luận chung về Quyền quản trị Nghiên cứu này đưa ra giả thuyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu của quản trị và mức nợ dựa trên một số lý thuyết bao gồm cả hiệu quả quản lý (Fama và Jensen, 1983) được tóm tắt chi tiết ở phần sau. Để chuẩn bị cho phần tóm tắt, một định nghĩa ngắn gọn về quản lý cố thủ được giới thiệu trong phần này. Đối với Michael Weisbach, một tác giả và giáo sư tài chính, đã xác định rằng "Quản lý cố thủ xảy ra khi các nhà quản lý đạt được nhiều quyền lực để họ có thể sử dụng công ty nhằm phục vụ lợi ích của họ hơn là lợi ích của cổ đông".
Nói cách khác, nó được hiểu đơn giản như một hành động hướng đến tăng giá trị nhận thức của nhà quản trị hơn là tối đa hóa lợi ích tài chính của công ty. Trong trường hợp này, dễ sinh ra vấn đề cá nhân vì nó xung đột lợi ích giữa các nhà quản trị và cổ đông. Điều có thể phản ánh thông qua sự tương quan giữa hệ số nợ và quyền sở hữu quản trị. Lý thuyết đại diện (Agency Theory) Stephen Ross và Barry Mitnick (1973) được xem là cha đẻ của Lý thuyết đại diện.
Hai tác giả đã độc lập nghiên cứu và công bố kết quả đồng thời vào năm 1973. Trong đó, Ross đưa ra các vấn đề đại diện liên quan đến lĩnh vực kinh tế (Economic sector), Mitnick lại nghiên cứu các vấn đề đại diện của các tổ chức (Entities) nói chung; tuy vậy những tư tưởng cơ bản chính của cả hai tác giả thì tương tự nhau. Tuy nhiên, sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới học thuật của Jensen và Mecking (1976) qua bài nghiên cứu “Theory of the firm: Managerial Behaviour, Agency Costs and Ownership Structure” – “Lý thuyết công ty: Hành vi của nhà quản lý, chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu”; đã khiến ngày nay hầu hết nhiều nhà nghiên cứu vẫn cho lý thuyết đại diện là do Jensen và Meckling khởi xướng. Lý thuyết đại diện phân chia rủi ro giữa người ủy quyền (chủ sở hữu) và người đại diện (nhà quản lý) do hai bên có mục tiêu và sự phân công lao động khác nhau.
Người ủy quyền ủy thác nhiệm vụ điều hành, quản lý tài sản cho người đại diện thông qua một hợp đồng. Khi lợi ích của người ủy quyền và người đại diện có sự khác nhau và giữa họ có thông tin không hoàn hảo về trạng thái của tác nhân, thông tin không đối xứng giữa các tác nhân sẽ dẫn đến hành vi cơ hội của người đại diện, có thể gây thiện hại đến lợi ích của người ủy quyền. Để hạn chế hành vi cơ hội của người đại diện, hợp đồng giữa hai bên luôn phát sinh một khoảng chi phí gọi là chi phí đại diện (Agency costs), bao gồm: (1) (Monitoring costs)-Chi phí kiểm soát và động viên khen thưởng – do người ủy quyền bỏ ra để định hướng hành vi của người đại diện; (2) (Bonding Costs) - Chi phí giao kèo - do người đại diện gánh chịu nếu gây ra những hành vi thiệt hại đến người ủy quyền; (3) (Residual loss) - Tổn thất lợi ích – là những tổn thất xảy ra do sự khác biệt trong thực tế của các nhà quản lý và những quyết định nhằm tối đa hóa lợi ích cho người ủy quyền. Tóm lại, theo lý thuyết của Jensen và Meckling (1976), bất cứ khi nào có sự 11 hiện diện của vấn đề đại diện vì xung đột lợi ích hoặc thông tin bất đối xứng, chi phí đại diện cho một tổ chức sẽ phải bao gồm các thành phần sau đây: Chi phí đại diện = Chi phí kiểm soát + Chi phí giao kèo + Tổn thất lợi ích Mối quan hệ đại diện được định nghĩa là “một hợp đồng mà theo đó một hoặc nhiều người (bên khởi xướng - the principal(s)) liên hệ với một hoặc nhiều người khác (bên đại diện-the agent(s)) để yêu cầu bên thực hiện một số nghĩa vụ thay mặt bên khởi xướng liên quan đến ra quyết định trong tổ chức (Jensen and Meckling, 1976).
Vấn đề đại diện xảy ra do sự tách biệt giữa tỷ lệ sở hữu và người quản lý. Trong một số trường hợp, để tối đa lợi ích của chính mình, các nhà quản lý (người đại diện) đưa ra quyết định đầu tư có thể gây xung đột lợi ích với quyền lợi của cổ đông. Nghiên cứu thực nghiệm của Lý thuyết đại diện tập trung tìm hiểu cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty cổ phần để nhận biết tình huống có thể xảy ra mâu thuẫn về quyền lợi giữa người ủy quyền và người đại diện và mô tả những cơ chế quản lý hạn chế hành vi cơ hội của người đại diện. Jensen và Meckling (1976) đã đưa ra một số kết luận, trong đó có kết quả “sở hữu của người đại diện trong công ty tăng lên thì hành vi cơ hội của người đại diện giảm xuống”.
Kết quả này của lý thuyết đại diện thường được viện dẫn trong các tình huống nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của công ty. Cụ thể, sở hữu của nhà quản trị có thể làm giảm sự tách biệt giữa bên đại diện và bên ủy quyền và phần nào giải thích được tỷ lệ sở hữu này sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc vốn tức mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính trong một doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong môi trường thực nghiệm đưa ra những kết quả không nhất quán khi có hai luồng ý kiến chính cho rằng: tỷ lệ sở hữu của nhà quản trị càng cao thì mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính trong doanh nghiệp càng lớn và ngược lại. Ủng hộ cho quan điểm tỷ lệ sở hữu của nhà quản trị tỷ lệ thuận với mức độ sử dụng đòn bẩy của doanh nghiệp, Harris và Raviv (1988) và Stulz (1988) cho rằng quyền 12 lực có thể khiến các nhà quản lý được khuyến khích nhiều hơn để tăng mức nợ để duy trì quyền biểu quyết của mình trong việc nắm giữ vốn chủ sở hữu.