Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Trinh bày tổng quan các công trình nghiên cứu trước có thé làm nền móng và định hướng tốt cho các nghiên cứu, đánh giá những đóng góp cũng như những hạn chế của các nghiên cứu trước về đề ảnh hưởng của truyền thông mạng xã hội đến ý định sử dụng dịch vụ văn phòng chia sẻ của người tiêu dùng tại Hà Nội Đưa ra cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của truyền thông mạng xã hội đến ý định sử dụng văn phòng chia sẻ của người tiêu dùng tại Hà Nội. Từ tổng quan về các công trình nghiên cứu và cơ sở lý luận, đưa ra các giả thuyết dé nghiên cứu cho đề tài, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Xây dựng phiếu điều tra dựa vào tong quan nghiên cứu và điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu ở thị trường Việt Nam, xác định tổng thé nghiên cứu là những người đang và có ý định sử dụng dịch vụ văn phòng chia sẻ tại Hà Nội, hoặc những người đang làm việc trên địa bàn Hà Nội. Từ đó kết hợp phương pháp thu thập dit liệu để xác định mô hình; sử dụng thang đo và biến khảo sát, tiến hành điều tra mẫu và điều chỉnh mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phân tích Dữ liệu hợp lệ được phân tích qua các bước: ¡) Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu; 11) Đánh gia độ tin cậy của thang do; I1 iii) Phân tích nhân tố khám phá (EFA); iv) Phân tích mối tương quan giữa các thang do; v) Phân tích hồi quy nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 4: Thảo luận, giải pháp và kiến nghị Đánh giá của tác giả về van đề nghiên cứu và đưa ra một số đề xuất dé định hướng cho doanh nghiệp trong tương lai 12 PHAN II. NOI DUNG CHUONG I. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu: 1.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài: Với đề tài “Anh hưởng của truyền thông mang xã hội đến ý định sử dụng dịch vụ văn phòng chia sé” thực té có khá ít tác giả nghiên cứu chuyên sâu về vấn dé này. Nghiên cứu điển hình của tác giả Travis Howell (2011) trong nghiên cứu về văn phòng chia sẻ đã đưa ra các nhân tố liên quan khi tham khảo dịch vụ văn phòng chia sẻ như: Sự liên kết giữa cộng đồng sử dụng văn phòng chia sẻ và đặc biệt là những tương tác của mạng xã hội (nhóm những người tương tác với nhau trên mạng xã hội dé tìm kiếm về dịch vu văn phòng chia sẻ). Tác giả cho rằng, “Bởi tinh thần kinh doanh đôi khi bị cô lập và cô đơn, do đó, tương tác trên mang xã hội mang lại sự liên kết giữa các doanh nghiệp, hỗ trợ khi gặp khó khăn, hoặc đơn giản là giúp các doanh nhân làm việc thú vị hơn”. Nhân tố về sự liên kết giữa cộng đồng này giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện các công tác truyền miệng điện tử (eWom) tốt hơn trên mạng xã hội và từ đó thu hút được các khách hàng quan tâm trên các nền tảng này.
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu “Kỷ nguyên cua văn phòng ao” của tác giả Qurashi (2010) đã chỉ ra hai yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ văn phòng chia sẻ bao gồm: môi trường làm việc linh động và ứng dụng công nghệ (bao gồm ứng dụng về quảng cáo trên mạng xã hội). Tác giả cũng chỉ ra rằng, yếu tố về mạng xã hội giúp khách hàng có thé dé dàng tìm kiếm thông tin trước khi quyết định sử dụng dich vụ. Những đánh giá tốt sẽ đảm bảo được ý định sử dụng dịch vụ văn phòng hiệu quả hơn. Ngoài ra, đối với đề tài về ảnh hưởng của truyền thông mạng xã hội đối với ý định sử dụng dịch vụ, đã có rât nhiêu tác giả đưa ra bài nghiên cứu liên quan.
13 Nhóm tác giả Anam Yasir và cộng sự (2021) nói về truyền thông xã hội và ý định sử dụng dịch vụ trong nhà hàng có nhắc tới các yếu tô khiến khách hàng cân nhắc như: Mối quan hệ thân thiện giữa nhà hàng và khách hàng, Những đánh giá tốt của khách hàng đối với nhà hàng trên các phương tiện truyền thông, Sự hài lòng của khách hàng có quan hệ thuận chiều với ý định hành vi của khách hàng, Nhà hàng tạo ra thông tin liên lạc trên phương tiện truyền thông xã hội có liên quan tích cực đến ý định hành vi của khách hàng,. và yếu tố về những đánh giá tốt của khách hàng trên phương tiện truyền thông là ảnh hưởng trực tiếp đến ý định sử dụng dịch vụ ăn uống tại nhà hàng. Bài nghiên cứu của tác giả nhóm tác giả HerbJørn Nysveen, Per E. Pedersen và Helge Thorbjørnsen (2005) với đề tài: “Y định sử dụng Dịch vụ: Ý định sử dụng và So sánh giữa các dịch vu” đã phát triển và thử nghiệm một mô hình dé giải thích ý định sử dụng dich vụ di động của người tiêu dùng.
Thông qua các lý thuyết từ các lĩnh vực đa dạng của nghiên cứu hệ thống thông tin, nghiên cứu sử dụng và hài lòng cũng như nghiên cứu thuần hóa, các tác giả đã đưa ra một mô hình tích hợp giải thích ý định sử dụng dịch vụ đi động. Mô hình đề xuất bốn ảnh hưởng tông thê đến ý định sử dụng: ảnh hưởng động cơ, ảnh hưởng thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức. Các tác giả nghiên cứu các nhân tố này và đưa ra các đặc điểm mối quan hệ giữa nhân tổ đến ý định sử dụng. Kết quả từ các nghiên cứu thực nghiệm về 4 nhân tố này cho thấy sự tác động mạnh mẽ đối với ảnh hưởng động cơ, ảnh hưởng thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức đối với ý định sử dụng dịch vụ di động của người tiêu dùng.
Bài nghiên cứu của nhóm tác giả Janeaya Revels, Dewi Tojib va Yelena Tsarenko với đề tài: “Tim hiểuý định sử dung dich vụ di động của người tiêu dùng” (2010) đã chỉ ra răng: Với tốc độ tăng trưởng nhanh của các dịch vụ công nghệ di động ở một số quốc gia và tốc độ tăng trưởng tương đối chậm trong những người khác, điều quan trọng là phải hiểu các yếu tô góp phan vào việc áp dụng các ứng dụng này trong Châu Uc. Rút ra từ Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), Nghiên cứu thuần hóa và Nghiên cứu sử dụng và hài lòng. Bài nghiên cứu này phát triển một mô hình cho ý định sử dụng dich vu di 14 động (M-service) của người tiêu dùng. Các động lực chính của ý định sử dụng dịch vụ di động của người tiêu dùng là sự hài lòng cùng với nhận thức tính hữu ích.
Ngoài ra, nghiên cứu này cho thấy rằng tinh dé sử dụng được cảm nhận là một yếu tố dự báo mạnh mẽ về tính hữu dụng được cảm nhận. Nghiên cứu này cho thấy răng nhận thức về tính hữu ích, nhận thức về tinh dé sử dụng và nhận thức về sự thích thú một cách tích cực ảnh hưởng đến sự hai lòng với dịch vụ di động trong khi chi phí cảm nhận có tác động tiêu cực. Trên một lưu ý khác, đó là đã chứng minh rằng hình ảnh cảm nhận không có tác động đáng kể đến sự hài lòng của khách hàng đối với dich vụ di động. Những phát hiện tổng thể của nghiên cứu này cung cấp một số đóng góp cho cơ quan nghiên cứu đang phát triển trong khu vực của M-services và cung cấp một số hỗ trợ cho các học viên trong việc xây dựng các chiên lược tot hơn đê gitt chân người dùng M-service hiện tại.
Tình hình nghién CỨU trong nưóc: Các đề tài về văn phòng chia sẻ tại Việt Nam cũng rất ít tác giả nghiên cứu, tuy nhiên một trong những tác giả với bài nghiên cứu nỗi bật là TS Bùi Thanh Tráng với nghiên cứu: Ý định cho thuê văn phòng ảo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (2014) đã chỉ ra có 5 nhân tổ tác động đến ý định thuê văn phòng tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đó là: Sự linh hoạt, Chi phi, Cân bang công việc va cuộc song, Ung dụng công nghệ và Vị trí. Ứng dụng công nghệ số trong giới thiệu dịch vụ, tiếp cận đến khách hàng tiềm năng trên mạng xã hội được coi là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ văn phòng chia sẻ. Nhân tố này có ảnh hưởng đến ý định sử dụng dich vụ, giúp khách hàng có thé dé dàng tìm hiểu về công ty và các đánh giá liên quan về chất lượng dịch vụ. Một số bài nghiên cứu về ý định sử dụng dịch vụ khác như: Bài nghiên cứu về: “S dụng mô hình TPB (thuyết hành vi dự định) mở rộng dé nghiên cứu các yếu tô ảnh hưởng đến ý định lựa chọn khách sạn xanh cua du khách khi đến Đà Nang” của tác giả Phạm Thị Tú Uyên (2020) đã chỉ ra 4 nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ, 15 trong đó có 3 nhân tố: Thái độ, Chuẩn chủ quan và Kiểm soát hành vi đều có ảnh hưởng tích cực đến Ý định hành vi lựa chọn Khách sạn Xanh, duy nhất một nhân tố không ảnh hưởng đến Ý định hành vi này là Niềm tin với môi trường.
Điều này có nghĩa răng, bên cạnh những mong muốn, sự chủ động và ý định xuất phát từ bản thân người tiêu dùng, họ sẽ tìm hiểu, tham khảo những người xung quanh, người thân về dịch vụ trước khi đưa ra lựa chọn. Bên cạnh đó, có bài nghiên cứu về: “Những nhân tổ ảnh hưởng ý định sử dụng dich vụ vận tải ứng dụng công nghệ tại Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn Việt Dũng va Trần Thị Ngoc Hà (2019) đã đề xuất các yếu tô liên quan như: Thái độ có tác động đến ý định sử dụng, Nhận thức dễ sử dụng có tác động tới thái độ, Nhận thức hữu ích có tác động tới ý định sử dụng, Nhận thức hữu ích có tác động tới thái độ, Nhận thức dễ sử dụng có tác động tới nhận thức hữu ích, Chuan mực chủ quan có tác động tới ý định sử dụng, Kiểm soát hành vi có tác động tới ý định sử dụng, Hình ảnh thương hiệu có tác động tới ý định sử dụng, Giá cả cảm nhận có tác động tới ý định sử dụng, An toàn sử dụng có tác động tới ý định sử dụng, Ý định sử dụng có tác động tới hành vi sử dụng.