CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN HÌNH ẢNH TRÊN MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK CHO WEBSITE 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Khái niệm chung Theo Philip Kotler, Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi. Marketing trực tuyến (Internet Marketing hay Marketing Online hay E- Marketing) là việc ứng dụng công nghệ mạng máy tính, các phương tiện điện tử vào việc nghiên cứu thị trường, hỗ trợ phát triển sản phẩm, phát triển các chiến lược chiến thuật marketing.
nhằm mục đích cuối cùng là đưa sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đến người tiêu dùng nhanh chóng và hiệu quả. Marketing trực tuyến (Philip Kotler) là quá trình lập kế hoạch về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân dựa trên các phương tiện điện tử và Internet. Mohammed et al (2001) định nghĩa marketing trực tuyến là “quá trình xây dựng và duy trì mối quan hệ khách hàng thông qua các hoạt động trực tuyến nhằm tạo điều kiện để trao đổi những ý tưởng, sản phẩm và dịch vụ thỏa mãn mục tiêu của cả hai bên tham gia vào các hoạt động này”. Strauss et al (2003) lại cho rằng marketing trực tuyến bao phủ một lĩnh vực IT (Information Technology – Công nghệ thông tin) rộng lớn có liên quan đến các ứng dụng với ba mục tiêu sau: - Biến đổi các chiến lược marketing để tạo ra giá trị cho khách hàng nhiều hơn bằng các chiến lược phân khúc, mục tiêu, khác biệt và định vị hiệu quả hơn.
- Xây dựng các kế hoạch tối ưu, thực hiện việc thiết kế, phân phối, tiếp thị và xây dựng giá cho hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng. - Tạo ra sự trao đổi nhằm thỏa mãn từng khách hàng cá nhân và những mục tiêu có tổ chức của khách hàng. 3 Mạng xã hội Facebook (Wikipedia) là một website truy cập miễn phí do công ty Facebook, Inc điều hành. Người dùng có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo thành phố, nơi làm việc, trường học và khu vực để liên kết và giao tiếp với người khác.
Mọi người cũng có thể kết doanh nghiệp và gửi tin nhắn cho họ, và cập nhật trang hồ sơ cá nhân của mình để thông báo cho doanh nghiệp bè biết về chúng. Tên của website nhắc tới những cuốn sổ lưu niệm dùng để ghi tên những thành viên của cộng đồng các chi nhánh của trường mà một số trường đại học và cao đẳng tại Mỹ đưa cho các sinh viên mới vào trường, phòng ban, và nhân viên để có thể làm quen với nhau tại khuôn viên trường. Sau đó nó được mở rộng hơn nữa cho sinh viên thuộc bất kỳ trường đại học nào, rồi đến học sinh phổ thông và cuối cùng là bất cứ ai trên 13 tuổi. Tính đến tháng 9 năm 2012, Facebook hiện có hơn một tỷ thành viên tích cực trên khắp thế giới.
Facebook Marketing là việc doanh nghiệp có sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp tìm ra nhu cầu của người dùng, khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp là gì, họ thực sự cần điều gì hoặc có thể nhận được gì từ sản phẩm dịch vụ đó, và đáp ứng nhu cầu của họ, nhằm tăng lợi nhuận hoặc tăng lợi ích, thông qua mạng xã hội Facebook. Khái niệm phát triển hình ảnh website trên mạng xã hội Facebook Bản chất của phát triển hình ảnh website trên mạng xã hội là phát triển thương hiệu cho website. Phát triển hình ảnh cho website trên mạng xã hội Facebook là tập hợp các hoạt động sử dụng, phối hợp các công cụ của Facebook Marketing để nhằm gia tăng sức mạnh và khả năng bao quát các tác động của cộng đồng người dùng đến tâm trí và hành vi khách hàng, công chúng nhằm giới thiệu, lan tỏa, định vị hình ảnh của website trong tâm trí của khách hàng trực tuyến. MỘT SỐ LÝ THUYẾT VÈ FACEBOOK MARKETING 1.
Lợi ích và hạn chế của Facebook marketing 1. Lợi ích - Luôn hướng đến đúng đối tượng là khách hàng tiềm năng. Doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến hoàn toàn có thể điều chỉnh đối tượng cho các chiến dịch quảng cáo facebook của mình. Trong đó bao gồm việc định hướng các đối tượng nào sẽ thấy được quảng cáo như: giới tính, độ tuổi, địa lý, ngôn ngữ, sở thích.
Hay nhắm trực tiếp đến những đối tượng người dùng mà doanh nghiệp chỉ định. - Tiết kiệm chi phí: Doanh nghiệp chỉ trả tiền khi có người mong muốn sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp. Facebook cho doanh nghiệp lựa chọn hình thức quảng cáo CPC (cost per click) hoặc CPM (cost per impression). Với CPC, doanh nghiệp chỉ phải trả tiền cho những người click vào quảng cáo của doanh nghiệp mà thôi.
Với CPM, doanh nghiệp cũng chỉ phải trả tối thiểu từ 0.03$/1000 lần hiển thị mẫu quảng cáo (tương đương với khoảng hơn 600đ/1000 lần hiển thị). Đây là mức chi phí rất hợp lý và khá là tiết kiệm so với việc doanh nghiệp thuê làm 1 tấm poster quảng cáo mà chỉ có thể đặt tại 1 vị trí địa lý nhất định. -Tính linh hoạt cao: Điều chỉnh chiến dịch dễ dàng. Doanh nghiệp hoàn toàn có thể chuyển đổi giữa hai hình thức trả phí từ CPC sang CPM và ngược lại.
Hơn nữa, các thông số khác cũng được điều chỉnh dễ dàng để chiến dịch của doanh nghiệp tối ưu hơn. - Nội dung quảng cáo facebook hiển thị hình ảnh và lời giớ thiệu kèm theo. Đây là một hình thức quảng cáo tiên tiến và được nhiều công ty áp dụng để đưa hình ảnh doanh nghiệp đến với nhiều người. Nội dung quảng cao có thể kèm theo cả các tương tác của doanh nghiệp bè người dùng với sản phẩm/dịch vụ đó để tăng độ tin cậy.
- Không phụ thuộc ngân sách: Doanh nghiệp không nhất thiết phải trả một ngân sách cố định. Tùy vào tình hình thực tế, doanh nghiệp có thể yêu cầu điều 5 chỉnh ngân sách hàng ngày hoặc hàng tháng cho phù hợp với chiến dịch của mình. - Phân phối quảng cáo hợp lý: Facebook luôn đảm bảo rằng quảng cáo trên facebook được phân bổ đều đặn dựa trên ngân sách của doanh nghiệp. Sẽ không có trường hợp quảng cáo tập trung quá nhiều vào người này và không xuất hiện ở người khác.
Do đó, quảng cáo của doanh nghiệp sẽ luôn xuất hiện đến các khách hàng tiềm năng. Hạn chế - Đảm bảo tính riêng tư: Là một trong những phương tiện của TMĐT nên việc truyền thông qua mạng xã hội facebook cũng gặp phải khó khăn mà chưa có hướng giải quyết tốt nhất trong TMĐT, đó là đảm bảo tính an toàn, riêng tư cá nhân. Các thông tin về người tham gia: tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại, email, … không phải là những thông tin khuyến khích quảng bá, nhưng nó vẫn không thể đảm bảo là an toàn, và người khác không thể không biết được. Chính điều đó làm cho người tham gia facebook khó và ít “like”, tham gia các trang fanpage hơn, và nó cũng là một trong những nguyên nhân các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu hút lượng khách hàng đến với fanpage, yêu thích fanpage và đặt fanpage làm mục yêu thích của họ.
- Nguồn nhân lực chưa có đủ trình độ, kỹ năng: Truyền thông qua mạng xã hội facebook đã đem lại khá nhiều thành công cho các doanh nghiệp trên thế giới. Tuy nhiên ở nước ta đây là một hoạt động khá mới mẻ và nguồn nhân lực đáp ứng và hiểu biết về facebook còn quá mỏng, trong khi đó cũng như CNTT và Inetrnet kênh mạng xã hội này cũng thường xuyên có những bước cải biến mới, nguồn nhân lực khó có thể đuổi bắt được, am hiểu hết được công cụ truyền thông này. Ví dụ như vấn đề tương tác hai chiều giữa hai người với nhau, hoặc giữa doanh nghiệp với khách hàng. Phần lớn các doanh nghiệp vẫn chỉ thực hiện “tương tác đơn”: sử dụng avata girl xinh, add nhiều doanh nghiệp bè để spam dẫn đường link về website, tag nhiều người vào hình ảnh của mình,….
Mà quên đi việc thường xuyên trao đổi, thực hiện comment với các khách hàng để tạo 6 dựng mối quan hệ. Việc thiếu nguồn lực có trình độ, kỹ năng là một điểm khó khăn lớn của các doanh nghiệp. - Đường truyền facbook của nước ta thường khó khăn trong việc truy cập: Trong thời gian gần đây, việc đường truyền faceook thường xuyên bị chặn làm cho các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức gặp khó khăn trong việc đăng nhập, tham gia hoạt động trên faceook. Nó cũng tạo cho người tham gia cảm giác khó chịu, và có ý định rời bỏ kênh truyền thông này 1.
Các công cụ của Facebook marketing 1.1 App Facebook Chiến lược Facebook Marketing có sử dụng App là chiến dịch rất hiệu quả và cũng rất dài hơi. Trong chiến dịch Facebook Marketing Application thường sẽ có 3 nhóm chính: User-Marketer-Developer App. Facebook Application sẽ được chia làm 2 loại chính theo nhu cầu của Facebook Marketer: - App Quality: Với những app chất lượng, chi phí và thời gian bỏ ra là rất lớn, vì thế nên việc của người làm Facebook Marketer là nghiên cứu đặc tinh sản phẩm/dịch vụ, tìm ra điểm khác biệt. Nghiên cứu sâu về hành vi và nhận thức của người dùng trên Facebook, thể hiện rõ thông điệp, điểm khác biệt, hay việc đáp ứng được nhu cầu người dùng ra bên ngoài, mọi thứ đều cần phải đúng quy trình và chuẩn xác.
Vì không có ai muốn tiền của mình bỏ ra nhiều mà không thu về được nhiều cả. Đặc điểm của những App này là mang lại giá trị cho người dùng (tiền thưởng, quà tặng,…), chi phí đầu tư lớn, đầu tư xây dựng nội dung, giao diện đồ họa đẹp mắt, có khả năng tương tác, có yếu tố lan truyền cao, hiệu ứng tích cực, và ứng dụng hoạt động ngay trên nền facebook… - App Low: Với những app kém chất lượng, chi phí và thời gian bỏ ra là ít, không đáng kể, app dạng này mọc ra như nấm, biến thiên đủ các trò, nhưng biến kiểu gì thì biến cũng chỉ dừng lại ở mức hiển thị định dạng Text, hoặc Image. Những app dạng này thường có xu hường “lừa” người chơi, tạo cho họ một cảm xúc tò mò, ví dụ như những app: “Lúc nào doanh nghiệp chết, Ai hay vào tường nhà doanh nghiệp, Mách nhỏ,…” 7 Tuy không mang lại giá trị cho người dùng nhưng những app dạng này cũng đánh được vào tâm lý của người dùng, cộng với việc sử dụng một số thủ thuật, app low có yếu tố lan truyền khá cao, và ứng dụng thường không hoạt động trên nền facebook mà hoạt động ở một trang nào đó, nền trắng tinh và có 1 hình có nhiệm vụ CTA (Call to action) ở chính giữa màn hình.