Đặt vấn đề Dê là loài gia súc nhai la ̣i nhỏ đươ ̣c nuôi ở nhiề u nước trên thế giới bởi lẽ dê ăn đươ ̣c nhiề u loa ̣i lá cây , cỏ, không tranh giành lương thực với con người. Dê có sức chiụ đựng tố t , sức đề kháng cao với bê ̣nh tâ ̣t và thời tiế t , khí hâ ̣u, ít bệnh tật. Đầu tư ban đầu cho nuôi dê không cao, quay vòng vố n nhanh, giá cả khá ổn định lại tận dụng được lao động và sản phẩm phụ nông nghiệp , phù hợp với vùng trung du, đồ i núi. Tuy dê là đô ̣ng vâ ̣t ăn chủ yế u là cỏ , các loại lá cây nhưng trong cấu tạo dạ dày của dê chia là 4 túi gồm: dạ cỏ, dạ tổ ong , dạ lá sách và dạ múi khế.
Trong đó da ̣ múi khế có tuyế n tiế t men tiêu hoá tương tự da ̣ dày của gia súc dạ dày đơn, tức là tiêu hoá thức ăn bằ ng dich ̣ vi ̣ (chứa HCl và men pepsin). Vì vâ ̣y chúng cũng có khả năng tiêu hoá và hấ p thu khá tố t đố i với mô ̣t lươ ̣ng vừa đủ các loa ̣i thức ăn giàu tinh bô ̣t. Do đó viê ̣c bổ xung thức ăn tinh giàu tinh bô ̣t cho dê là quan tro ̣ng giúp cung cấ p mô ̣t lươ ̣ng dinh dưỡng dồ i dào cho con vâ ̣t đồ ng thờ i tâ ̣n du ̣ng tố t khả năng tiêu hoá thức ăn của da ̣ dày dê. Nhưng trong thực tế ở các điạ phương , viê ̣c bổ xung thức ăn giàu tinh bô ̣t cho dê còn chưa đươ ̣c chú tro ̣ng.
Với lơ ̣i thế có nhiề u đồ i núi , huyê ̣n Yên Thuỷ , tỉnh Hoà Bình đ ã hình thành nghề chăn nuôi dê rấ t sớm. Dê thường đươ ̣c các nông hô ̣ cho ̣n nuôi là loại dê cỏ, có tầm vóc nhỏ nhưng khả năng leo đồi núi tự kiếm ăn tốt phù hợp với điạ hin ̀ h chăn thả là đồ i , núi đá ở địa phương. Cô ̣ng thêm đ ầu ra cho sản n 9 phẩ m thuâ ̣n lơ ̣i là gầ n điạ bàn tiêu thu ̣ thiṭ dê lớn nhấ t nhì cả nước là tỉnh Ninh Bình, giá cả thường xuyên ổn định ở mức cao đã tạo điều kiện cho nghề nuôi dê phát triể n ổ n đinh ̣ ta ̣i điạ phương. Tuy nhiên đàn dê tại địa phương chủ yếu được nuôi thành các đàn nhỏ trong nông hô ,̣ kiế n thức về dinh dưỡng cho gia súc , cụ thể là cho dê còn hạn chế nên viê ̣c chăn nuôi chưa đa ̣t hiê ̣u quả cao.
Chủ yếu là chăn thả tự do trên các sườn đồi, vách núi để dê tự kiếm thức ăn , không có sự bổ xung thêm dinh dưỡng cho dê từ các nguồ n tinh bô ̣t sẵn có ta ̣i điạ phương như cám ngô , sắ n, gạo.do đó đàn dê phát triể n khá châ ̣m, hiê ̣u quả chăn nuôi thấ p .Vì vậy, để có cơ sở khoa học trong việc bổ sung thức ăn tinh cho dê đang sinh trưởng nhằm tăng khả năng sinh trưởng của dê đáp ứng yêu cầ u sản xuấ t phát triể n đà n dê thịt tại địa phương, chúng tôi tiế n hành đề tài :“Ảnh hưởng của việc b ổ sung thức ăn tinh đ ến khả năng sinh trưởng của dê địa phương giai đoạ n từ 3 đến 9 tháng tuổi”. Mục đích của đề tài - Đánh giá được việc bổ sung thức ăn tinh đến khả năng sinh trưởng của dê địa phương giai đoạn từ 3 đến 9 tháng tuổi. - Đánh giá đươ ̣c hi ệu quả kinh tế của viê ̣c bổ sung thức ăn tinh cho dê điạ phương giai đoạn từ 3 đến 9 tháng tuổi. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học quan trọng trong việc bổ sung thức ăn tinh cho dê địa phương giai đoạn sinh trưởng.
n 10 - Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn cung cấp thông tin về nuôi dưỡng dê địa phương giai đoạn 3 đến 9 tháng tuổi cho giảng viên và sinh viên ngành chăn nuôi tham khảo. Ý nghĩa trong thực tiễn - Ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài vào thực tiễn chăn nuôi dê sẽ nâng cao thu nhâ ̣p cho người chăn nuôi dê ta ̣i điạ phương từ đó thúc đẩ y nghề chăn nuôi dê phát triển hơn nữa tại huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. n 11 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa họccủa vấn đề nghiên cứu 2.
Cơ sở di truyền của các tính trạng Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc như: sinh trưởng, sinh sản, cho lông, cho thịt, cho sữa. phần lớn đều là các tính trạng số lượng (Quantitative Character). Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó là sự sai khác nhau về mức độ các cá thể rõ nét hơn là sự sai khác về chủng loại. Vì vậy khi nghiên cứu các tính trạng về năng suất của gia súc khác trong điều kiện chăn nuôi cụ thể thực chất là nghiên cứu đặc điểm di truyền và ảnh hưởng của môi trường xung quanh tác động lên các tính trạng đó.
Tính trạng số lượng hay còn gọi là tính trạng đo lường như: kích thước các chiều đo, khối lượng cơ thể… Theo Nguyễn Văn Thiện(1995)[10] thì bộ phận di truyền có liên quan đến tính trạng số lượng được gọi là di truyền học số lượng hay di truyền học sinh trắc. Giá trị đo lường của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình (Phenotypic value) của cá thể đó. Các giá trị có liên quan tới kiểu gen là giá trị kiểu gen (Genotypic value) và giá trị có liên hệ với môi trường là sai lệch môi trường (Environmental deviation). Như vậy kiểu gen quy định một giá trị nào đó của kiểu hình và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc hướng khác.
Tính trạng có lợi ích kinh tế như: tăng trọng, sức sống, tiêu tốn thức ăn… đều phụ thuộc vào n 12 tính trạng số lượng mà tính trạng số lượng phải có môi trường thích hợp mới biểu hiện hoàn toàn. Theo quy luật di truyền: Sự biểu hiện kiểu hình chính là kiểu gen và chịu sự tác động của môi trường. P=G+E Trong đó: P: Là giá trị kiểu hình G: Là giá trị kiểu gen E: Là sai lệch môi trường Mà giá trị kiểu gen lại hoạt động theo 3 phương thức: cộng gộp, trội và át gen. Nên: G=A+D+I Trong đó: G: Là giá trị kiểu gen A: Là giá trị cộng gộp (Additive value) D: Là giá trị sai lệch trội (Dominance deviation) I: Là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation).
Ngoài ra, các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của yếu tố môi trường trong đó có hai loại môi trường chính: - Sai lệch môi trường chung (General environmental deviation) (Eg) là sai lệch do các yếu tố tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại này có tính chất thường xuyên và không cục bộ như: Thức ăn, khí hậu. Do vậy đó là sai lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể và giữa các phần khác nhau trên một cơ thể. n 13 - Sai lệch môi trường riêng (Special Environmental deviation) (Es) là các sai lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng nhóm cá thể vật nuôi hoặc một giai đoạn nào đó trong đời một con vật hay các phần khác nhau của con vật.
Loại yếu tố này có tính chất không thường xuyên và cục bộ như các thay đổi về thức ăn, khí hậu, trạng thái sinh lý. Do vậy, đó là sai lệch trong nhóm, trong cá thể trên một cơ thể. Tóm lại: Quan hệ giữa kiểu gen, kiểu hình và môi trường của một cá thể được thể hiện như sau: P = A + D + I + Eg + Es Trong đó: P: Là giá trị kiểu hình (phenotyp Value) A: Là giá trị cộng gộp (Additive Value) D: Là giá trị sai lệch trội (Dominance Value) I: Là sai lệch tương tác hay sai lệch át gen (Epistatic deviation) Eg: Là sai lệch môi trường chung (General enviromental deviation) Es: Là sai lệch môi trường riêng (Special enviromental deviation). Vì vậy, muốn nâng cao năng suất của vật nuôi thì phải tác động về mặt di truyền dưới hai hình thức: - Tác động vào hiệu ứng cộng gộp bằng cách chọn lọc.
- Tác động vào hiệu ứng trội và át gen bằng cách cho phối giống tạp giao. n 14 Bên cạnh đó, cần tác động về mặt môi trường bằng cách cải thiện điều kiện chăn nuôi như: Thức ăn, thú y, chuồng trại. Trong cùng một điều kiện môi trường, giống nào có giá trị kiểu hình cao hơn sẽ biểu hiện giá trị kiểu gen (kiểu gen di truyền) tốt hơn. Khả năng sinh trưởngvà các yếu tố ảnh hưởng 2.
Khả năng sinh trưởng Sinh trưởng là sự tăng lên về thể tích, khối lượng, kích thước của từng bộ phận hay của toàn bộ cơ thể con vật. Phát dục là quá trình thay đổi tăng thêm hoặc hoàn thiện thêm tính chất, chức năng của các cơ quan bộ phận trong cơ thể vật nuôi. Sinh trưởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước. Sự sinh trưởng chính là sự tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein.
Tốc độ và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể. Chambers (1990) [16] đã định nghĩa sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng. Sự tăng trưởng thực sự khi các tế bào mô cơ tăng thêm về khối lượng, số lượng và các chiều đo.
Vì vậy béo mỡ không phải là tăng trưởng, nó được gọi là sự tăng trọng của cơ thể, vì béo mỡ chủ yếu là tích lũy nước, không có sự phát triển của thân, mô, cơ. n 15 Sự tăng trưởng của sinh vật bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi cơ thể đã trưởng thành và được chia thành hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ).