Đồ án hcmute ảnh hưởng của thành phần đến cơ tính và độ tan của màng tinh bột gelatin glycerol bổ sung curcumin

Đồ án nghiên cứu hcmute ảnh hưởng của thành phần đến cơ tính và độ tan của màng tinh bột gelatin glycerol bổ sung, thiết kế chi tiết, tính toán kỹ thuật theo tiêu chuẩn, đánh giá

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

117
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Polymer phân hủy sinh học

1.2. Giới thiệu tinh bột

1.3. Polymer tinh bột

1.4. Thành phần hóa học của tinh bột

1.5. Thành phần cấu trúc của amylose

1.6. Thành phần cấu trúc của amylopectin

1.7. Cấu trúc hạt tinh bột

1.8. Tính chất của tinh bột

1.9. Tính chất hấp thụ

1.10. Độ hòa tan của tinh bột

1.11. Sự trương nở và hiện tượng hồ hóa của tinh bột

1.12. Độ nhớt của hồ tinh bột

1.13. Khả năng tạo gel và sự thoái hóa gel tinh bột

1.14. Phản ứng với iot

1.15. Khả năng tạo phức

1.16. Tinh bột nhiệt dẻo

1.17. Định nghĩa gelatin

1.18. Cấu tạo gelatin

1.19. Phân loại gelatin

1.20. Tính chất của gelatin

1.21. Tính chất vật lý

1.22. Khả năng tạo màng của gelatine với các phụ gia khác

1.23. Tính chất của glycerol

1.24. Lĩnh vực ứng dụng của glycerol

1.25. Các ứng dụng của acid acetic

1.26. Ứng dụng trong chế biến mủ cao su

1.27. Ứng dụng trong công nghệ thực phẩm

1.28. Ứng dụng trong các ngành công nghiệp khác

1.29. Tính chất lý – hóa của curcumin

1.30. Sự hấp thụ ánh sáng

1.31. Tác dụng với kiềm

1.32. Tính không bền

1.33. Chức năng sinh học của curcumin

1.34. Hoạt động chống ung thư

1.35. Khả năng kháng viêm vượt trội

1.36. Các chức năng sinh học khác

1.37. Ứng dụng của curcumin

1.38. Trong công nghiệp thực phẩm

1.39. Trong công nghiệp mỹ phẩm và dược phẩm

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. Nội dung đề tài

2.2. Hóa chất và thiết bị

2.3. Xác định tỷ lệ thành phần hỗn hợp

2.4. Tạo màng tinh bột

2.5. Các phương pháp phân tích

2.6. Xác định độ dày màng

2.7. Phương pháp xác định tính chất cơ học của màng polymer

2.8. Xác định độ tan của màng polymer

2.9. Khảo sát sự thay đổi màu theo pH môi trường

2.10. Kính hiển vi điện tử quét SEM

2.11. Phương pháp phân tích bằng phổ hồng ngoại

2.12. Phương pháp xử lí và đánh giá kết quả

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của thành phần đến cơ tính

3.2. Mô đun đàn hồi (Modulus Young)

3.3. Ảnh hưởng của thành phần đến độ tan

3.4. Khảo sát sự thay đổi màu của màng theo pH môi trường

3.5. Phân tích phổ hồng ngoại FTIR của màng

3.6. Hình chụp SEM mặt cắt của màng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC HÌNH

PHỤ LỤC BẢNG

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

0.6. Cấu trúc báo cáo

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của thành phần đến cơ tính

Nghiên cứu về màng tinh bột/gelatin/glycerol bổ sung curcumin cho thấy rằng các thành phần này có ảnh hưởng đáng kể đến cơ tính của màng. Cụ thể, gelatinglycerol được xác định là hai yếu tố chính trong việc cải thiện độ dẻo dai và độ bền kéo của màng. Glycerol đóng vai trò như một chất hóa dẻo, giúp tăng cường tính linh hoạt của màng, trong khi gelatin cung cấp cấu trúc và độ bền. Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng tỷ lệ giữa các thành phần này cần được tối ưu hóa để đạt được tính chất cơ học tốt nhất. Theo phân tích, mô đun đàn hồi (Modulus Young) của màng tăng lên khi hàm lượng gelatinglycerol được điều chỉnh hợp lý. Điều này cho thấy rằng việc lựa chọn tỷ lệ thành phần là rất quan trọng trong việc phát triển các loại màng sinh học có tính chất cơ học tốt. Như một ví dụ, một nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ 70% tinh bột và 30% gelatin cho kết quả tốt nhất về độ bền kéo và độ dãn dài của màng.

1.1 Mô đun đàn hồi Modulus Young

Mô đun đàn hồi là một chỉ số quan trọng để đánh giá tính chất cơ học của màng tinh bột. Nghiên cứu cho thấy rằng mô đun đàn hồi của màng tăng lên khi hàm lượng gelatinglycerol được điều chỉnh. Cụ thể, khi tăng tỷ lệ gelatin, mô đun đàn hồi của màng cũng tăng, cho thấy rằng gelatin có khả năng cải thiện độ cứng và độ bền của màng. Điều này có thể được giải thích bởi cấu trúc mạng lưới của gelatin, giúp tăng cường khả năng chịu lực của màng. Hơn nữa, việc bổ sung curcumin cũng góp phần làm tăng mô đun đàn hồi, nhờ vào khả năng tạo liên kết với các thành phần khác trong màng. Kết quả này cho thấy rằng việc tối ưu hóa tỷ lệ các thành phần là cần thiết để phát triển các loại màng sinh học có tính chất cơ học tốt hơn.

II. Ảnh hưởng của thành phần đến độ tan

Độ tan của màng tinh bột/gelatin/glycerol bổ sung curcumin là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá khả năng ứng dụng của màng trong bảo quản thực phẩm. Nghiên cứu cho thấy rằng độ tan của màng phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng tinh bộtglycerol. Khi hàm lượng tinh bột tăng, độ tan của màng giảm, điều này cho thấy rằng tinh bột có khả năng tạo ra một cấu trúc vững chắc hơn, giúp giảm thiểu sự hòa tan trong nước. Ngược lại, khi tăng hàm lượng glycerol, độ tan của màng tăng lên, do glycerol làm giảm độ liên kết giữa các phân tử tinh bột. Kết quả này cho thấy rằng việc điều chỉnh tỷ lệ giữa tinh bộtglycerol là rất quan trọng để đạt được độ tan mong muốn cho các ứng dụng cụ thể. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ 60% tinh bột và 40% glycerol cho độ tan tối ưu, phù hợp cho việc bảo quản thực phẩm.

2.1 Khả năng hòa tan

Khả năng hòa tan của màng là một yếu tố quan trọng trong việc xác định tính chất của màng sinh học. Nghiên cứu cho thấy rằng curcumin không chỉ ảnh hưởng đến màu sắc mà còn có tác động đến độ tan của màng. Khi curcumin được bổ sung vào màng, độ tan của màng có xu hướng tăng lên, điều này có thể do sự tương tác giữa curcumin và các thành phần khác trong màng. Hơn nữa, việc khảo sát sự thay đổi màu theo pH môi trường cũng cho thấy rằng curcumin có khả năng tạo ra các phản ứng hóa học, làm thay đổi tính chất của màng. Điều này mở ra khả năng ứng dụng của màng trong các lĩnh vực như bao bì thực phẩm, nơi mà độ tan và khả năng tương tác với môi trường là rất quan trọng.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Polymer phân hủy sinh học 1. Định nghĩa Trong thời gian gần đây, polymer sinh học (biopolymer) là polymer có khả năng phân hủy sinh học (biodegradable polymer) ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhằm làm giảm tác hại đến môi trường và làm giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu dầu khí. Các nhà khoa học cùng với những nghiên cứu trong công nghiệp cần phát triển vật liệu mới “thân thiện với môi trường” hơn, tức là vật liệu được tạo thành từ nguồn tái tạo được (như từ phế phẩm nông nghiệp), tiêu thụ ít năng lượng hơn, có khả năng phân hủy sinh học và không thải chất độc hại ra môi trường ngoài.

Polymer được gọi là polymer phân hủy sinh học khi polymer đáp ứng một số tiêu chuẩn quan trong như sau: - Polymer phân hủy sinh học được sản xuất phải phân hủy được với tốc độ phù hợp khi xử lý bằng các biện pháp xử lý chất thải thông thường như ủ thành phân, xử lý nước thải, khử nitrat, xử lý bùn kỵ khí. - Sản phẩm phân hủy cuối cùng của polymer phân hủy sinh học phải là cacbon dioxide, nước, khoáng chất, sinh khối, đất mùn. - Quá trình phân hủy phải an toàn, không gây hại đến môi trường cũng như các sản phẩm khác của quá trình xử lý chất thải [1]. Phân loại Hiện nay, polymer phân hủy sinh học được đa số các nhà khoa học phân loại theo nguồn gốc như sau: - Polymer phân hủy sinh học có nguồn gốc tự nhiên được chia làm sáu nhóm: polysaccharides (tinh bột, cellulose, lignin, chitin); proteins (gelatin, casein, gluten lúa mì, tơ và len); lipid (dầu động và thực vật); polyester từ thực vật (polyhydroxyalcanoates, poly-3-hydroxybutyrate); polyester tổng hợp từ các monomer dẫn xuất sinh học (polylactic acid) và cao su tự nhiên.

1 do an - Polymer phân hủy sinh học có nguồn gốc từ dầu mỏ được chia làm bốn nhóm: polyester béo (polyglycolic acid, polybutylene succinate, polycaprolactone); polyester thơm (terephthalate); polyvinylalcohol; polyolefin được biến tính (polyethylene hay polypropylene được bổ sung chất nhạy sáng hoặc nhạy nhiệt độ) [1]. Polymer sinh học có thể tái tạo do nguồn gốc từ thực vật. Ngoài ra, polymer sinh học không làm tăng lượng CO2 trong khí quyển do khi phân hủy chúng thải ra CO2 sau đó lại được thực vật tiêu thụ trong quá trình phát triển. Nhựa phân hủy sinh học là các loại nhựa phân hủy trong môi trường tự nhiên hiếu khí (ủ) hay yếm khí (chôn lấp).

Có thể thực hiện quá trình phân hủy sinh học nhựa bằng cách thúc đẩy vi sinh vật trong môi trường chuyển hóa cấu trúc của màng nhựa để tạo ra vật liệu giống như mùn trơ, ít tác hại đến môi trường hơn. Các loại nhựa này có thể có thể là nhựa phân hủy sinh học (có nguồn gốc từ nguyên liệu tái tạo) hoặc nhựa từ dầu khí có thêm phụ gia. Sử dụng các hợp chất có hoạt tính sinh học phối trộn với các chất có khả năng trương nở nhằm đảm bảo dưới tác động của nhiệt và hơi ẩm, cấu trúc phân tử nhựa được trương nở cho phép các hợp chất có hoạt tính sinh học chuyển đổi nhựa. Tác nhân gây phân hủy sinh học của các loại polymer này cũng khá đa dạng, có thể phân hủy bởi enzyme hoặc sản phẩm của enzyme, vi sinh vật.

Ngay cả các sinh vật cũng có thể góp phần vào quá trình phân hủy polymer bằng cách ăn, tiêu hóa, làm đứt mạch giảm cơ tính, lão hóa. Thường quá trình phân hủy sinh học bao gồm hai bước chính. Bước một là sự giảm cấp của polymer. Bước hai là quá trình khoáng hóa chuyển thành các hợp chất như CO2, CH4, H2, H2O, N2, sinh khối, khoáng,… Nhìn chung thì các tác nhân chủ yếu do sự xúc tác phân hủy của các enzyme.

Enzyme là chất xúc tác sinh học có tác dụng làm giảm năng lượng hoạt hóa của các phản ứng phân hủy. Enzyme là các protein hoặc dây polypeptide của amino acid với cấu trúc ba chiều khá phức tạp. Khả năng hoạt động của enzyme phụ thuộc nhiều vào cấu trạng. Enzyme có một bề mặt hoạt động.

Bề mặt này tương tác với chất nền dẫn đến phản ứng hóa học xảy ra hoặc có thể làm thay đổi sản phẩm của phản ứng. Do đó, mỗi enzyme thường chỉ xúc tác được một phản ứng nhất định. Thông thường, để hoạt động hiệu quả, 2 do an các enzyme thường kết hợp với các tác nhân đồng xúc tác như ion kim loại hoặc các hợp chất hữu cơ. Tùy thuộc vào cơ chế hoạt động của enzyme, ta có hai cơ chế khác nhau gây phân hủy sinh học polymer.

Trước tiên cần kể đến cơ chế thủy phân. Cơ chế này phù hợp cho các polymer có liên kết glycoside (liên kết giữa các phân tử đường), peptide và ester. Các liên kết này dễ bị thủy phân bởi một số enzyme xúc tác cho phản ứng oxi hóa. Các enzyme này thường tạo ra các chất oxi hóa trong quá trình hoạt động như O2, H2O2 hoặc chính enzyme đóng vai trò như chất oxi hóa [2].

Giới thiệu tinh bột Tinh bột là nguồn nguyên liệu rẻ tiền và được sử dụng rộng rãi, có tiềm năng ứng dụng cao. Tinh bột được tổng hợp nhờ năng lượng mặt trời và được giữ lại trong quá trình quang hợp. Tinh bột là nguồn cung cấp năng lượng chính cho con người và gia súc thuộc loại động vật không nhai lại. Nó cũng là nguồn nguyên liệu có thể tái tạo (renewable source) được sử dụng trong nhiều lĩnh vực công nghiệp.

Lượng tinh bột từ lúa mì, gạo, bắp (ngô), khoai tây vượt quá con số một tỷ tấn một năm. Ở Mỹ khoảng 20 triệu tấn tinh bột-chủ yếu từ bắp-được sử dụng trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Tại châu Âu, một lượng đáng kể tinh bột được thu từ khoai tây. Phần nhỏ hơn nhưng ngày một tăng trên thị trường toàn cầu là tinh bột gạo, lúa mì và đặc biệt từ sắn (khoai mì).

Tinh bột xuất hiện khắp nơi trên thế giới thực vật nhưng chỉ có một số nguyên liệu được dùng phổ biến trong thương mại. Trên 90% tinh bột sản xuất tại Mỹ từ lúa mì, ngô, khoai tây. Khoai tây cũng đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp tinh bột của Châu Âu như: Pháp, Đức, Hà Lan và Thụy Điển. Tinh bột sắn và tinh bột cọ (Sago starch) được sản xuất nhiều ở các quốc gia nhiệt đới như Brazil, miền đông nước Mỹ, Châu Phi,.

Có giá trị nhất là tinh bột huỳnh tinh được sản xuất ở Châu Phi, St. Theo tài liệu được cung cấp bởi A.C năm 1996 thì sản lượng nguyên liệu và sản phẩm tinh bột trên thế giới và EU năm 1995 xấp xỉ 37 x 106 tấn được sản xuất từ ngô, sắn, lúa 3 do an mì và khoai tây, trong đó 27.6 x 106 tấn (74%) là tinh bột ngô, 3,7.106 tấn (10%) là tinh bột sắn, 2.9 x 106 tấn (8%) là tinh bột lúa mì và 2.7 x 106 tấn (7%) là tinh bột khoai tây. Tinh bột được sản xuất vượt trội ở các nước công nghiệp hóa cao như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản. Ở nước ta lương thực chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là nguồn nguyên liệu quan trọng cho nhiều ngành công nghiệp, trong đó có công nghiệp sản xuất tinh bột và các dẫn xuất của tinh bột.

Nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất tinh bột là các loại củ như sắn, khoai lang, khoai tây, dong riềng, huỳnh tinh.và các nguyên liệu hạt như hạt gạo, ngô.Trong những năm gần đây, năng suất và diện tích trồng các cây lương thực trên ngày càng tăng. Năm 1997 diện tích trồng ngô là 12253 ha với sản lượng 1034200 tấn/năm, diện tích trồng khoai lang là 4018 ha với sản lượng 2399900 tấn/năm, diện tích trồng sắn 277400 ha với sản lượng 2211500 tấn/năm. Như vậy hằng năm nước ta có 2 triệu tấn cây lương thực. Hiện nay chính phủ đang tập trung nỗ lực đẩy mạnh thâm canh để tăng sản lượng lúa ngô, mở rộng diện tích cây trồng sản lượng từ 2 triệu tấn năm 2000 tăng lên 2183 triệu tấn năm 2003, đầu tư và phát triển vùng nguyên liệu cho 41 nhà máy chế biến sắn, sản lượng phấn đấu đạt 3.

Polymer tinh bột Tinh bột gồm 2 thành phần chính: amylose (khoảng 20%) và amylopectin (khoảng 80%). Cấu trúc chủ yếu của amylose và amylopectin rất giống nhau. Cả hai đều là các chuỗi dài bao gồm các đơn vị glucose mà không có bất cứ phân tử đường nào. Các đơn vị glucose nối với nhau bằng nối 𝛼-(1,4).

Một số chuỗi có các nhánh nối với các chuỗi khác bằng nối 𝛼-(1,6). Amylose và amylopectin được phân biệt bằng kích thước và hình dạng khác nhau. Tỷ lệ amylose và amylopectin thay đổi tùy theo loại thực vật [3]. Tinh bột là một trong những loại carbonhydrate đáng chú ý bởi vì nó tìm thấy trong tự nhiên giống các hạt riêng rẽ.

Điều này là do sự kết tinh của các mạch nhánh ngắn amylopectin hình thành các cấu trúc xoắn ốc. Các hạt tinh bột thể hiện các đặc tính ưa nước và sự liên kết mạnh giữa các phân tử qua nối hydro của các nhóm hydroxyl trên bề mặt hạt. Điểm nóng chảy của tinh bột tự nhiên cao hơn nhiệt độ phân hủy nhiệt nên 4 do an tính ổn định nhiệt của tinh bột tự nhiên kém. Trong các chất dẻo, các hạt tinh bột kết tinh có thể được sử dụng như những chất làm đầy hoặc bị biến đổi thành tinh bột dẻo có thể gia công riêng hoặc kết hợp với các polymer tổng hợp khác [5].

Các polymer tinh bột được tạo ra từ việc chiết tinh bột. Lấy ví dụ ở ngô: tinh bột được chiết từ hạt bằng cách nghiền ướt. Đầu tiên hạt được làm mềm bằng cách ngâm nó trong dung dịch acid loãng, sau đó được nghiền thô để làm vỡ hạt và khử mầm chứa dầu. Việc nghiền mịn hơn làm tách rời cấu trúc từ nội nhũ (phần mà được quay ly tâm để tách protein) có tỷ trọng nhỏ hơn, từ tinh bột có tỷ trọng lớn hơn.

Sau đó tinh bột dạng huyền phù đặc được rửa trong một máy ly tâm, khử nước và được sấy khô. Trước hoặc sau khi sấy khô, tinh bột có thể được xử lý để bằng một số cách để cải thiện các tính chất của nó. Việc thêm các chất hóa học dẫn đến sự biến đổi cấu trúc tinh bột thường được cho là “biến tính hóa học”. Tinh bột được biến tính là tinh bột được xử lý bằng các chất hóa học để thay thế các nhóm hydroxyl bằng các nhónm như este hoặc ete.

Các chất dẻo với hàm lượng tinh bột cao có tính ưa nước cao và dễ dàng phân hủy khi tiếp xúc với nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Ảnh hưởng của thành phần đến cơ tính và độ tan của màng tinh bột gelatin glycerol bổ sung curcumin" khám phá mối liên hệ giữa các thành phần trong màng tinh bột gelatin glycerol và các đặc tính cơ học cũng như độ tan của nó. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà curcumin có thể cải thiện tính chất của màng mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các sản phẩm thực phẩm và bao bì an toàn hơn. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ các thành phần này có thể giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về ứng dụng của các màng bảo quản trong thực phẩm, hãy tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ứng dụng hộp tích hợp màng map bảo quản quả xoài và bơ. Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về quy trình chế biến các sản phẩm thực phẩm khác, bạn có thể đọc Luận văn nghiên cứu chế biến sản phẩm kẹo jelly dâu tằm. Cuối cùng, nếu bạn quan tâm đến các quy trình sản xuất thực phẩm an toàn, hãy xem qua Luận văn tìm hiểu và haccp và xây dựng hệ thống haccp cho quy trình sản xuất bánh snack. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về lĩnh vực công nghệ thực phẩm.