Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vị trí trọng yếu trong cơ cấu ngành nông nghiệp truyền thống và đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ từ quy mô nông hộ nhỏ lẻ sang mô hình trang trại công nghiệp tập trung. Nhiều trang trại áp dụng phương thức nuôi gia công liên kết với các tập đoàn nước ngoài nhằm tiếp nhận nguồn vốn, chuyển giao tiến bộ di truyền và quy trình quản lý hiện đại. Tuy nhiên, xu hướng phát triển chăn nuôi bền vững và an toàn sinh học đòi hỏi người sản xuất phải hạn chế tối đa việc lạm dụng hóa chất, thuốc kháng sinh trong phòng và trị bệnh, chuyển dịch sang ứng dụng các chế phẩm sinh học nhằm nâng cao năng suất, bảo vệ môi trường sinh thái ven đô và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Trong bối cảnh đó, chế phẩm sinh học Pharselenzym do Công ty Cổ phần Thú y Xanh (Pharmavet) sản xuất năm 2008 là sản phẩm kết hợp giữa vi sinh vật hữu ích (Lactobacillus acidophilus) và khoáng vi lượng thiết yếu (selen hữu cơ). Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Trang tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (chuyên ngành Chăn nuôi thú y, khóa 2010 – 2014, dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Thị Hiền Lương) đã đi sâu đánh giá hiệu quả ứng dụng thực tiễn của chế phẩm này.
Văn bản xác định rõ hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Pharselenzym đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại.
- Xác định ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Pharselenzym đến khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con giai đoạn theo mẹ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái ngoại sinh sản, đàn lợn con giai đoạn theo mẹ từ sơ sinh đến khi cai sữa, và chế phẩm sinh học Pharselenzym.
- Địa điểm nghiên cứu: Công ty Cổ phần Bình Minh, đặt tại xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Đây là cơ sở chăn nuôi lợn nái gia công liên kết với Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam (Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam), do ông Nguyễn Sĩ Bình làm chủ trại, có quy mô thiết kế 1.200 lợn nái cơ bản.
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được triển khai thực nghiệm và thu thập số liệu trong đợt thực tập tốt nghiệp năm 2014 (khóa luận hoàn thành ngày 28 tháng 5 năm 2014); các số liệu điều tra cơ bản về tình hình nông nghiệp, cơ cấu vật nuôi địa phương được tổng hợp trong giai đoạn 3 năm liên tục từ năm 2011 đến năm 2013.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên ba nhóm nội dung then chốt của khoa học chăn nuôi thú y:
- Sinh lý sinh sản của lợn nái: Khóa luận phân tích các mốc phát triển sinh học gồm tuổi thành thục về tính (6 – 7 tháng tuổi) và tuổi thành thục về thể vóc (7 – 9 tháng tuổi đối với lợn nái ngoại, khi đạt khối lượng 100 – 110 kg). Chu kỳ động dục trung bình kéo dài 21 ± 4 ngày, chia thành 4 giai đoạn: trước động dục, động dục, sau động dục và yên tĩnh. Thời điểm rụng trứng diễn ra vào 36 – 42 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng chịu đực, số lượng trứng rụng trung bình 16 – 17 tế bào trứng; thời điểm phối giống thích hợp nhất là 24 – 36 giờ sau khi bắt đầu động dục. Năng suất sinh sản được đo lường bằng số con sơ sinh còn sống sau 24 giờ, số con cai sữa/lứa, số lứa/nái/năm, khối lượng sơ sinh toàn ổ, khối lượng 21 ngày tuổi (phản ánh sản lượng sữa mẹ đạt đỉnh) và khối lượng cai sữa toàn ổ.
- Sinh lý sinh trưởng và miễn dịch của lợn con: Lợn con bú sữa có cường độ sinh trưởng rất cao: khối lượng lúc 7 – 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần khối lượng sơ sinh, 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, 30 ngày tuổi tăng gấp 5 lần và 60 ngày tuổi tăng gấp 10 – 15 lần. Ở tuần thứ 3, mỗi ngày lợn con tích lũy từ 9 – 14 g protein/kg khối lượng cơ thể. Do hàm lượng kháng thể trong máu lợn sơ sinh bằng 0, việc bú sữa đầu trong 24 giờ đầu tiên cung cấp $\gamma$-globulin đạt nồng độ 20,3 mg/100 ml máu. Sau 21 ngày tuổi, sản lượng sữa của lợn mẹ suy giảm cùng với lượng hemoglobin trong máu lợn con sụt giảm, dẫn tới giai đoạn khủng hoảng sinh trưởng.
- Đặc tính chế phẩm Pharselenzym:
- Lactobacillus acidophilus: Trực khuẩn lactic Gram dương, kích thước 0,6 – 0,9 $\times$ 1,5 – 6 $\mu$m, phát triển tối ưu ở 37°C, lên men lactic đồng hình, có khả năng sản sinh bacteriocin để ức chế vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hóa.
- Selen hữu cơ: Nguyên tố vi lượng thiết yếu đóng vai trò trung tâm hoạt động của enzyme Glutathione peroxidase (GPx), tham gia khử peroxide ($2\text{GSH} + \text{H}_2\text{O}_2 \rightarrow \text{GSSG} + 2\text{H}_2\text{O}$), ngăn ngừa peroxy hóa lipid màng tế bào, bảo vệ mô cơ tim và tăng đáp ứng miễn dịch dịch thể. Các tiêu chuẩn quốc tế được trích dẫn gồm quy định của FDA (0,1 ppm năm 1974; 0,3 ppm cho lợn cai sữa năm 1996) và FAO (cho phép bổ sung 0,3 ppm). Mức gây độc cho lợn xuất hiện khi bổ sung vượt quá 5 ppm (ở mức 7,5 – 10 ppm xuất hiện triệu chứng rụng lông, thở mùi tỏi, hoại tử móng và rối loạn thần kinh).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thực nghiệm chăn nuôi: Bố trí lô đối chứng (sử dụng khẩu phần cơ sở - KPCS) và các lô thí nghiệm (sử dụng khẩu phần thí nghiệm - KPTN có bổ sung chế phẩm Pharselenzym).
- Phương pháp theo dõi lâm sàng và bệnh học: Quan sát, ghi nhận ca bệnh viêm tử cung, viêm vú ở nái; theo dõi tỷ lệ mắc và điều trị bệnh phân trắng, viêm phổi ở lợn con theo mẹ.
- Phương pháp cân đo: Xác định khối lượng lợn con qua từng giai đoạn sinh trưởng (sơ sinh, 21 ngày, cai sữa).
- Phương pháp điều tra xã hội học và thống kê: Thu thập số liệu khí tượng, kinh tế, cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi từ UBND xã Phù Lưu Tế và sổ sách theo dõi năng suất cá thể của Công ty CP Bình Minh. Số liệu được phân tích bằng các công thức sinh trắc học thông thường trong chăn nuôi.
Nội dung chính theo từng phần
Văn bản khóa luận được kết cấu thành 2 phần nội dung chính, phản ánh quá trình rèn luyện thực tế kết hợp triển khai đề tài khoa học:
Phần 1. Công tác phục vụ sản xuất
Phần này phản ánh quá trình sinh viên trực tiếp tham gia lao động kỹ thuật và quản trị dịch tễ tại cơ sở:
- Điều tra cơ bản địa bàn xã Phù Lưu Tế (2011 – 2013): Xã có diện tích 6,71 km², đất nông nghiệp chiếm 47,45% (318,366 ha). Dân số gần 9.000 người, lao động nông nghiệp chiếm 56%. Cơ cấu cây trồng chuyển biến tích cực: diện tích lúa giảm từ 380 ha (năm 2011) xuống 186,7 ha (năm 2013) nhưng năng suất duy trì ở mức cao 7,2 tấn/ha (sản lượng 1.344 tấn). Tổng đàn lợn toàn xã tăng từ 9.898 con (năm 2011) lên trên 12.000 con (năm 2013); đàn gia cầm tăng từ 46.658 con lên trên 54.000 con.
- Khảo sát cơ sở hạ tầng Công ty CP Bình Minh: Trang trại có tổng diện tích 10,2 ha (gồm 2,5 ha đất xây dựng, 2,3 ha cây ăn quả, 2,4 ha lúa, 3,0 ha mặt nước). Quy hoạch chuồng trại khép kín nuôi 1.200 lợn nái cơ bản, gồm 6 chuồng đẻ (56 ô chuồng/chuồng, làm mát bằng giàn mát và 3 quạt hút), 2 chuồng nái chửa (560 ô chuồng/chuồng, 8 quạt hút), 3 chuồng cách ly và 1 chuồng nuôi 18 đực giống ngoại thuộc 2 giống Pietrain và Duroc để khai thác tinh thụ tinh nhân tạo.
- Quy trình kỹ thuật chăn nuôi:
- Lợn nái chửa: Nuôi bằng thức ăn hỗn hợp mã hiệu 566 từ tuần 1 đến tuần 12 (định mức 1,5 – 2,0 kg/ngày), tuần 13 – 14 (định mức 2,5 – 3,0 kg/ngày), và chuyển sang cám 567SF từ tuần 15 đến trước đẻ (3,5 – 4,0 kg/ngày).
- Lợn nái đẻ và nuôi con: Chuyển lên chuồng đẻ trước 7 – 10 ngày; giảm thức ăn trước đẻ 3 ngày (0,5 kg/bữa); sau đẻ 2 ngày tăng dần từ 0,5 đến 5,0 – 6,0 kg/ngày chia làm 2 bữa.
- Lợn con theo mẹ: Cắt rốn, bấm nanh ngay sau sinh; 2 – 3 ngày tuổi cắt tai, cắt đuôi, tiêm sắt ($Fe + B_{12}$); 3 – 4 ngày tuổi uống Nova-Coc 5% phòng cầu trùng; 4 – 5 ngày tuổi thiến lợn đực; 4 – 6 ngày tuổi tập ăn thức ăn 550SF; 16 – 18 ngày tuổi tiêm vaccine dịch tả; cai sữa lúc 21 – 26 ngày tuổi.
- Phối giống: Áp dụng thụ tinh nhân tạo 3 lần/chu kỳ bằng liều tinh đạt thể tích 80 – 100 ml, mật độ 1,5 – 2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng.
- Quy trình vệ sinh thú y và phòng dịch: Phun sát trùng chuồng nuôi bằng hóa chất Ommicide 2 lần/ngày (tỷ lệ pha 320 ml/1.000 lít nước); ngâm tấm đan sàn chuồng đẻ bằng dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày, quét xút vôi và rắc vôi bột gầm chuồng. Thực hiện lịch tiêm phòng bắt buộc: vaccine dịch tả Coglapest, lở mồm long móng Aftopor, khô thai do Parvovirus, giả dại Begonia.
- Kết quả điều trị lâm sàng: Chẩn đoán và xây dựng phác đồ điều trị thành công 4 bệnh phổ biến tại trại: viêm tử cung ở nái (khỏi 4/5 ca = 80%), viêm vú ở nái (khỏi 3/3 ca = 100%), bệnh phân trắng lợn con do vi khuẩn E. coli (khỏi 332/348 ca = 95,4% bằng Nova-Ampicol liều 2 g/lít nước), bệnh viêm phổi do Mycoplasma hyopneumoniae (khỏi 244/254 ca = 96,06% bằng phối hợp Tylogenta và Vetrimoxin).
Phần 2. Chuyên đề nghiên cứu khoa học
Chuyên đề tập trung vào các nội dung đánh giá thực nghiệm:
- Cơ chế tác động dược lý - vi sinh của Pharselenzym: Đánh giá cơ sở việc phối hợp chủng vi khuẩn sinh acid lactic sống (L. acidophilus) với selen hữu cơ dạng sinh khả dụng cao. Hệ lợi khuẩn giúp ổn định hệ vi sinh vật đường ruột của lợn con, kích thích miễn dịch tại chỗ niêm mạc ruột. Selen hữu cơ kích hoạt hệ enzyme chống oxy hóa nội sinh, hạn chế quá trình thoái hóa cơ tim, bảo vệ gan và thúc đẩy quá trình chuyển đổi thức ăn.
- Hệ thống theo dõi thực nghiệm: Chuyên đề thiết lập các danh mục chỉ tiêu chi tiết từ Bảng 2.1 đến 2.8:
- Bố trí thí nghiệm trên các lô lợn nái ngoại mang thai và đàn con sinh ra.
- Định lượng hàm lượng selen thực tế trong khẩu phần cơ sở so với khẩu phần có bổ sung Pharselenzym.
- Theo dõi các chỉ tiêu năng suất sinh sản: số con đẻ ra, số con sơ sinh sống sau 24 giờ, số con cai sữa/lứa, khối lượng sơ sinh toàn ổ, khối lượng lúc 21 ngày tuổi và khối lượng khi cai sữa.
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn con: khối lượng tuyệt đối (g/con/ngày), sinh trưởng tích lũy (kg/con) và sinh trưởng tương đối (%).
- Đánh giá tỷ lệ mắc, mức độ tái phát của bệnh phân trắng và bệnh viêm phổi trên lợn con theo mẹ giữa các lô.
- Hạch toán kinh tế thông qua chỉ tiêu chi phí thuốc thú y trên một kilôgam khối lượng tăng thêm của lợn con.
Kết quả và đóng góp
Các kết quả thực nghiệm và công tác chuyên môn tại cơ sở được tổng hợp cụ thể qua số liệu văn bản:
1. Kết quả hoạt động thú y và chẩn đoán điều trị bệnh:
| STT |
Nội dung công việc |
Số lượng theo dõi (con) |
Số lượng khỏi / an toàn (con) |
Tỷ lệ đạt (%) |
Phác đồ / Thuốc thú y sử dụng |
| 1 |
Tiêm vaccine Lở mồm long móng (nái) |
189 |
189 |
100,00 |
Vaccine Aftopor (tiêm bắp 2 ml/con) |
| 2 |
Điều trị bệnh viêm tử cung lợn nái |
5 |
4 |
80,00 |
Oxytocin (3-5 ml) + Analgin + Vetrimoxin |
| 3 |
Điều trị bệnh viêm vú lợn nái |
3 |
3 |
100,00 |
Vắt sữa, chườm nóng, Nor 100 + Analgin + Vetrimoxin |
| 4 |
Điều trị bệnh phân trắng lợn con |
348 |
332 |
95,40 |
Nova-Ampicol (2 g/lít nước uống, 3-4 ngày) |
| 5 |
Điều trị bệnh viêm phổi lợn con |
254 |
244 |
96,06 |
Phối hợp Tylogenta (1,5 ml) và Vetrimoxin (1,5 ml) |
| 6 |
Đỡ đẻ cho lợn nái |
256 |
256 |
100,00 |
Trực tiếp hỗ trợ kỹ thuật đỡ đẻ |
| 7 |
Thụ tinh nhân tạo lợn nái |
98 |
98 |
100,00 |
Liều tinh 80-100 ml, phối lặp 3 lần/chu kỳ |
| 8 |
Tiêm Dextran - Fe cho lợn con |
1.300 |
1.300 |
100,00 |
Tiêm sắt giai đoạn 2 - 3 ngày tuổi |
| 9 |
Thiến lợn đực |
867 |
867 |
100,00 |
Thực hiện khi lợn con 4 - 5 ngày tuổi |
| 10 |
Xuất lợn con cai sữa |
2.500 |
2.500 |
100,00 |
Xuất chuyển sang trại lợn giống của CP |
2. Đóng góp về mặt kỹ thuật và thực tiễn sản xuất:
- Cung cấp dữ liệu chi tiết về năng suất sinh sản thực tế tại trại CP Bình Minh: đàn nái cơ bản đạt năng suất 2,45 – 2,47 lứa/năm; số con sơ sinh bình quân 11,23 con/đàn; số con cai sữa bình quân 10,7 con/đàn với thời gian cai sữa 21 – 26 ngày tuổi.
- Xây dựng mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học kết hợp chặt chẽ với quy trình an toàn sinh học đa lớp (tiêu độc bằng Ommicide, ngâm hóa chất kiềm NaOH 10%, vôi xút, rắc vôi bột khử trùng đường nội bộ).
- Khẳng định giá trị thực tế của việc thay thế một phần kháng sinh dự phòng bằng chế phẩm chứa probiotic Lactobacillus acidophilus và selen hữu cơ, giúp kiểm soát hiệu quả hội chứng tiêu chảy phân trắng và viêm phổi ở lợn con bú sữa, hạ thấp chi phí thuốc thú y trên mỗi kilôgam tăng khối lượng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ rõ những tồn tại thực tế và hạn chế nghiên cứu:
- Hạn chế chủ quan: Tác giả tự đánh giá đây là bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, thời gian thực tập tốt nghiệp tại trang trại ngắn.
- Hạn chế cơ sở vật chất: Hệ thống máy móc trang thiết bị tại trại CP Bình Minh qua nhiều năm vận hành đã có hiện tượng xuống cấp, hư hỏng; công tác cấp nước uống cục bộ cho lợn vào các ngày nắng nóng đỉnh điểm chưa đáp ứng kịp thời; hệ thống xử lý chất thải và nước thải chăn nuôi của trang trại với quy mô 1.200 nái còn gặp nhiều khó khăn, chưa theo kịp khối lượng phân và nước xịt gầm chuồng lớn phát sinh hàng ngày.
- Hướng nghiên cứu và kiến nghị tiếp theo:
- Cần tiếp tục theo dõi ảnh hưởng của chế phẩm Pharselenzym trên lợn con ở các giai đoạn nuôi sau cai sữa và giai đoạn lợn thịt xuất bán.
- Ban quản lý trang trại cần tăng cường công tác tập huấn phát hiện bệnh sớm cho công nhân chuồng; kiểm soát nghiêm ngặt việc sát trùng công nhân trước khi xuống chuồng.
- Nâng cấp kịp thời hệ thống đường ống cấp nước uống tự động và đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn môi trường.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo thiết thực cho các đối tượng:
- Sinh viên, học viên ngành Chăn nuôi, Thú y: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy cách bố trí thí nghiệm thức ăn bổ sung trên đàn nái ngoại và lợn con; phương pháp điều tra tình hình chăn nuôi địa phương và cách thức ghi chép sổ sách quản lý giống.
- Bác sĩ thú y, kỹ thuật viên trang trại lợn công nghiệp: Cung cấp quy trình vận hành chuồng nái khép kín (chuồng nái chửa 560 ô, chuồng đẻ 56 ô có hệ thống giàn mát và quạt thông gió); phác đồ phối hợp kháng sinh - trợ sức cụ thể trong điều trị viêm tử cung, viêm vú ở lợn nái và phân trắng, viêm phổi ở lợn con.
- Nhà chăn nuôi thương mại: Cung cấp thông số định mức ăn theo tuần chửa (cám 566 từ 1,5 – 3,0 kg/ngày; cám 567SF từ 3,5 – 4,0 kg/ngày) và lịch trình tiêm phòng vaccine phòng bệnh truyền nhiễm chuẩn hóa cho trang trại gia công.
Câu hỏi thường gặp
1. Chế phẩm sinh học Pharselenzym gồm các thành phần hoạt chất chính nào và do đơn vị nào sản xuất?
Chế phẩm sinh học Pharselenzym do Công ty Cổ phần Thú y Xanh (Pharmavet) sản xuất năm 2008. Hai thành phần hoạt chất chính của chế phẩm là vi khuẩn có lợi Lactobacillus acidophilus (thuộc họ vi khuẩn lactic, có khả năng sinh acid lactic và bacteriocin ức chế hại khuẩn) và khoáng vi lượng selen hữu cơ (thành phần cấu tạo enzyme chống oxy hóa Glutathione peroxidase).
2. Trang trại Công ty CP Bình Minh có quy mô đàn và bố trí cơ sở vật chất như thế nào?
Trang trại có quy mô nuôi 1.200 lợn nái cơ bản trên tổng diện tích 10,2 ha. Khu chuồng nuôi khép kín gồm: 6 chuồng đẻ (56 ô chuồng/chuồng, làm mát bằng giàn mát và 3 quạt hút), 2 chuồng nái chửa (560 ô chuồng/chuồng, 8 quạt hút), 3 chuồng cách ly và 1 chuồng đực giống nuôi 18 cá thể thuộc giống Pietrain và Duroc để khai thác tinh thụ tinh nhân tạo.
3. Phác đồ điều trị bệnh viêm phổi trên lợn con do Mycoplasma hyopneumoniae tại trại được thực hiện ra sao?
Phác đồ sử dụng hai loại thuốc tiêm bắp: Tylogenta với liều lượng 1,5 ml/con (tiêm 1 lần/ngày) kết hợp với Vetrimoxin liều 1,5 ml/con (tiêm 1 lần cách ngày, 2 ngày tiêm 1 lần). Quá trình điều trị duy trì liên tục từ 3 đến 6 ngày. Trong số 254 lợn con mắc bệnh được điều trị, đã chữa khỏi 244 con, đạt tỷ lệ khỏi 96,06%.
4. Khóa luận trích dẫn quy định của các tổ chức quốc tế (FDA, FAO) về mức bổ sung selen trong khẩu phần lợn như thế nào?
Khóa luận tổng hợp: Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) năm 1974 quy định mức bổ sung selen là 0,1 ppm trong thức ăn lợn; năm 1996 FDA quy định mức 0,3 ppm cho lợn cai sữa đến 40 pound và 0,1 ppm cho lợn trên 40 kg cũng như lợn nái sinh sản. Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) cho phép mức bổ sung 0,3 ppm vào các năm 1982 và 1987. Ngưỡng bắt đầu xuất hiện triệu chứng ngộ độc selen trên lợn là trên 5 ppm (từ 7,5 đến 10 ppm).
5. Năng suất sinh sản của đàn lợn nái cơ bản tại cơ sở thực nghiệm đạt mức nào theo số liệu điều tra?
Theo số liệu theo dõi của trang trại Công ty CP Bình Minh, đàn nái đạt năng suất bình quân từ 2,45 đến 2,47 lứa/năm. Số lợn con sơ sinh đạt bình quân 11,23 con/đàn và số con sống nuôi đến khi cai sữa đạt bình quân 10,7 con/đàn; lợn con được nuôi theo mẹ từ 21 ngày đến chậm nhất 26 ngày tuổi thì tiến hành cai sữa để chuyển sang các cơ sở nuôi giống.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Trang là công trình thực nghiệm chăn nuôi thú y kết hợp phục vụ sản xuất có kết cấu hoàn chỉnh, phản ánh chân thực số liệu điều hành và dịch tễ tại một trang trại chăn nuôi lợn nái quy mô 1.200 con. Nghiên cứu đã làm rõ cơ sở lý thuyết về sinh lý sinh sản, sinh trưởng lợn con cũng như cơ chế tác động của vi sinh vật probiotic và selen hữu cơ trong chế phẩm Pharselenzym. Toàn bộ số liệu tiêm phòng, phác đồ điều trị các bệnh truyền nhiễm đường ruột, hô hấp và sinh sản được kiểm chứng qua thực tế điều trị quy mô lớn, đem lại tài liệu tham khảo có giá trị kỹ thuật cao cho sinh viên ngành thú y và người quản lý trang trại chăn nuôi công nghiệp.