Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu chung về cây bau sao Cây bau sao [Lagenaria siceraria (Molina) Standl], là một loại cây rau màu lưỡng bội, đơn tính cùng gốc và thụ phấn chéo thuộc chi Lagenaria của họ bầu bí (Achigan-Dako và ctv, 2018). Cây trồng được sử dụng cho các mục đích sử dụng đa dạng và có lợi, bao gồm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và mục đích y học. Những quả tươi và mềm được nấu chin làm thực pham và những quả khô chín được sử dụng dé làm hộp đựng thực phẩm và đựng ngũ céc, đồ trang tri (Kalpana va ctv, 2020).1 Phân loại thực vật học Cây bầu sao có tên khoa học [Lagenaria siceraria (Molina) StandÏ|. Bau sao thuộc họ Bau bi (Cucurbitaceae), chi Lagenaria, loài Lagenaria siceraria (Nidhi và ctv, 2012).2 Nguồn gốc cây bầu sao Cây bầu [Lagenaria siceraria (Molina) Standl] thuộc vùng nhiệt đới và có sự khác biệt lớn về hình dạng quả và hạt.
Hai phân loài hiện đang được công nhận: L. Loại bầu châu A thuộc về những cây được thuần hóa sớm nhất ở châu Mỹ. Ở Châu Âu, bầu bí chỉ xuất hiện với tần suất nhất định từ thời La Mã trở đi. Bài báo nghiên cứu về DNA cổ đại (aDNA) và hình thái hạt của một quả bau gần như hoàn chỉnh từ địa điểm La Mã ở Oedenburg/Biesheim-Kunheim, Pháp (thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên), và từ hạt riêng lẻ được tìm thấy từ cha xứ La Mã ở Petinesca-Vorderberg, Thụy Sĩ (thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên), cả hai đều được phục hôi từ các lớp ngập nước.
Các phép đo chiều rộng và chiều dai của hat cho thấy sự khác biệt lớn. Dựa vào chỉ số từ chiều rộng đến chiều dài, hạt giống từ cả hai địa điểm khác nhau đáng kế (p < 0,0001 Mann- Whitney) cho thay rang có các biến thé khác nhau hiện diện ở phía bắc của dãy núi Alps. Về mặt đi truyền, quả bầu từ Roman Oedenburg/Biesheim-Kunheim và một giống thương mại L. 'Herkuleskeule' có nguồn gốc châu A được xác định bởi ba dau hiệu lục lạp cụ thể của châu Á và châu Phi.
Những kết quả này hỗ trợ sự hiện diện sớm và lâu dài của loại bầu nội địa châu Á ở châu Âu. Không có dấu hiệu lục lạp nào được tìm thấy trong hạt từ Petinesca-Vorderberg. Tuy nhiên, các đoạn 5,8S rDNA nhân ban cao được bảo quản phù hợp chính xác với Cucurbitaceae, hỗ trợ thêm bằng chứng cho việc bảo quản DNA trong di tích thực vật ngập nước (Angela, 2012).3 Đặc điểm thực vật học của cây bầu sao Thân: thân thảo, có đặc tính bò leo, dài từ 1 - 20 m, có tua cuốn, phân nhánh nhiều, nhiều lông, thân màu xanh. Lá: có lá mầm và lá thật, lá mầm hình trứng tròn dài, lá thật hình tim rộng, không xẻ thùy hoặc xẻ thùy rộng, có lông mịn như nhung màu trắng.
Rễ: rễ chùm gồm có rễ chính và rễ phụ, rễ chính tương đối phát triển phân bố chủ yếu ở tang canh tác ở độ sâu từ 0 - 50 em rộng 50 - 100 em, rễ chính có thé ăn sâu từ 1 - 1,5 m, rễ phụ phân bố tương đối nông chủ yếu ở tang đất 10 - 50 cm Hoa: là hoa đơn tính, tự thụ phan nhờ gió và côn trùng, hoa có mau trắng, có năm cánh, có cuốn hoa dai tới 20 cm. Quả và hạt: quả lai hình trụ, dài khoảng 35 - 40 cm, màu xanh nhạt, thịt trắng, có nhiều bông trắng (sao), khi già vỏ trái hóa gỗ. Trong quả có nhiều hạt, khi còn non có màu trắng, chín chuyên sang màu vàng (Trần Văn Dư và ctv, 2012).4 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển Bầu sao là cây hằng niên, loại cây có thé sinh trưởng và phát triển tốt trên nhiều loại đất. Bầu trồng được quanh năm, mùa nắng cho trái nhiều hơn mùa mưa.
Từ 43 - 45 ngày sau khi trồng, bầu bắt đầu cho thu hoạch (Trần Văn Dư và ctv, 2012).5 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây bầu sao 1.1 Nhiệt độ Cây bau sao thuộc nhóm cây ưa nhiệt. Hạt có thể nảy mam ở nhiệt độ 12 - 13°C. Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian ra hoa của cây. Ở nhiệt độ thích hợp cây sẽ ra hoa cái ở ngày thứ 26 sau khi nảy mầm.
Nhiệt độ càng thấp, cây sẽ chậm ra hoa. Tổng tích ôn từ lúc nảy mầm đến thu hoạch quả lần đầu ở các giống địa phương là 900°C đến thu hoạch là 1.2 Nước Khả năng chịu hạn của cây bầu sao rất kém. Thiếu nước cây không những sinh trưởng kém làm cho cây không ra hoa, tạo quả. Nhu cầu về nước của cây bầu sao ở thời kỳ cây ra hoa, tạo quả là cao nhất.
Quả bầu chứa tới 90% nước nên yêu cầu về độ ẩm của cây rất lớn, hệ số thoát nước cao trên cây bầu sao là loại cây đứng đầu về nhu cầu nước trong họ bầu bí.3 Đất Bầu sao có bộ rễ phát triển kém, sức hấp thu của rễ lại yếu cho nên yếu cầu đất trồng khắt khe hơn so với cây trồng khác trong họ. Đất trồng thích hợp là đất có thành phan cơ giới nhẹ như cát pha, đất thịt nhẹ, độ pH thích ứng 5,5 - 7. Độ am đất thích hợp cho cây bầu sao là 85 - 95%.4 Dinh dưỡng Cũng tương tự các cây trồng khác, cây bầu sao cần được cung cấp đầu đủ các nguyên tố đa lượng: N, P, K, Ca, Mg, S, C, H, O và các nguyên tố vi lượng Fe, Cu, Zn, Mn, Mo, Bo, Cl. Tùy theo từng thời kỳ sinh trưởng khác nhau mà nhu cầu dinh dưỡng cũng thay đổi.
Cây bau sao sử dụng kali với hiệu suất cao nhất, tiếp đến là dam, rồi lân. Cây bầu sao không chịu được nồng độ phân cao nhưng lại nhanh chóng phản ứng với hiện tượng thiếu dinh dưỡng (Trần Văn Dư và ctv, 2012).6 Giá trị dinh dưỡng và dược liệu Bầu sao là một nguồn tuyệt vời của vitamin B và C. Bầu sao chứa 96% nước và rat ít calo, chất béo. Tuy nhiên vẫn giàu chất xơ và cung cấp một lượng các chất đinh dưỡng khác nhau.
Ngoài ra bầu sao còn là nguồn cũng cấp flavonoid và carotenes, đây là hai chất chống oxy hóa được cho là giúp bảo vệ cơ thé chống lại tôn thương tế bào va một số bệnh như tiểu đường loại 2 và bệnh tim. Thịt bầu sao vị ngọt, tính hàn, có tác dụng giải nhiệt, trừ độc, được dùng trị phù nề, mụn lở. Vỏ bầu sao vị ngọt, tính bình, lợi tiểu, tiêu thũng nên cũng được dùng cho các chứng bệnh phù thũng, bụng trướng. Hạt bầu sao đun lẫy nước súc miệng chữa bệnh sưng mộng răng răng lợi răng lung lay.
Lá bầu sao có vị ngọt, tính bình có thể làm thức ăn. Tua cuốn và hoa bầu sao có tác dụng giải thải nhiệt độc, nấu tắm phòng ngừa đâu, sởi, lở ngứa. Quả bau sao già sắc lay nước uống có tác dụng lợi tiêu, chữa bệnh phối phù nước (Đỗ Tắt Lợi, 2001).1 Thành phần dinh dưỡng chứa trong 100 ø bầu sao Thành phần siete RDA Thành phần sie RDA Nang luong 14 Keal 1% Natri 2 mg 1% Chat xo 0,52 1% Kali 150 mg 3% Vitamin B9 ; (Folate) 6 ug 1,5% Canxi 26 mg 2,6% Vitamin B3 0,320 mg 2% Dong 0,034 mg 4% Vitamin BS 0,152 mg 3% Sắt 0,20 mg 2,5% Vitamin B6 0,040 mg 3% Magiê 11 mg 3% Vitamin B2 0,022 mg 2% Mangan 0,089 mg 4% Vitamin B1 0,029 mg 2,5% Phot pho 13 mg 2% Vitamin A 16 IU 0,5% Selen 0,2 mg 1% Vitamin C 10,1 mg 17% Kém 0,70 mg 6,5% (Cơ sở đữ liệu dinh dưỡng của USDA, 2016) 1,2 Tổng quan về phân bón hữu cơ 1.1 Khái niệm phần bón hữu cơ Theo Bộ NN&PTNT (2019), phân bón hữu cơ là phân bón có thành phan chỉ là chất hữu cơ tự nhiên và có chỉ tiêu chất lượng chính đáp ứng quy định (cụ thể là có hàm 6 lượng chất hữu cơ tổng số không thấp hon 20%).2 Phân bón hữu cơ tại Việt Nam 1.1 Phan loại phần hữu cơ Theo Bộ NN&PTNT (2019), phân bón hữu cơ bao gồm hai nhóm: phân bón hữu cơ truyền thống và phân bón hữu cơ công nghiệp. Phân bón hữu cơ truyền thống là loại phân bón có nguồn gốc từ chất thải của động vật hoặc phế phụ phẩm trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông lâm thủy sản, phân xanh, rác thải hữu cơ, các loại than bùn được chế biến theo phương pháp ủ truyền thống.
Trong nhóm này có thể chia thành 5 nhóm nhỏ là: phân chuồng, phân rác, than bùn, phân xanh và phân hữu cơ khác. Phân bón hữu cơ công nghiệp là loại phân bón được chế biến từ các nguồn hữu cơ khác nhau dé tạo thành phân bón tốt hon so với nguyên liệu thô ban đầu. Hiện nay, phân bón hữu cơ công nghiệp chia thành các loại: phân hữu cơ, phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ sinh học và phân hữu cơ vi sinh. Phân bón hữu cơ khoáng là phân bón trong thành phần có chất hữu cơ và nguyên tố đinh dưỡng đa lượng là chỉ tiêu chất lượng chính, cụ thé: hàm lượng chất hữu cơ tổng số không thấp hơn 15%; hàm lượng hoặc tổng hàm lượng đạm tổng số, lân hữu hiệu, kali hữu hiệu trong thành phần đăng ký > 8,0 và < 18,0; mỗi hàm lượng đạm tổng số, lân hữu hiệu, kali hữu hiệu trong thành phần đăng ký > 2,0.2 Nguồn nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ Theo Bộ NN&PTNT (2019), các nguồn nguyên liệu dé sản xuất phân bón hữu cơ ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng, phong phú bao gồm chất thải từ chăn nuôi, thủy sản, chế biến nông san, phụ phẩm cây trồng, than bùn, rác thai sinh hoạt và các chế pham vi sinh, các nguyên tố khoáng, chất sinh học bổ sung dé nâng cao chất lượng, hiệu qua sử dụng phân bón.
Chất thải chăn nuôi: Tính đến tháng 4 năm 2017 tổng đàn gia súc, gia cầm tập trung của Việt Nam có 2.083 con lợn va 341.000 con gia cầm và ước tính thải ra khoảng 85 triệu tân chất thải rắn (trâu: 13 7 triệu tấn, bò: 20 triệu tan, lợn: 26 triệu tan, gia cầm: 26 triệu tan), trong đó mới có 20% chất thải được khai thác sử dụng hiệu quả vào các mục đích khác nhau như làm khí sinh học, phân bón, thức ăn cho cá. Chất thải chăn nuôi có hàm lượng chất hữu cơ, các nguyên tố khoáng đa lượng khá cao và có cả các chất đinh dưỡng trung vi lượng giúp độ phì nhiêu của đất. Như vậy 80% chất thải chưa được sử dụng hiệu quả là do nguồn nguyên liệu có giá trị tiềm năng rất lớn dé sản xuất phân hữu cơ nếu được quản lý, sử dụng hiệu quả.