Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây bầu sao [ Lagenaria siceraria (Molina) Standl] là loại rau ăn quả thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae) có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao và sở hữu tiềm năng canh tác tốt trong điều kiện giáp vụ. Mặc dù là cây trồng quen thuộc mang lại giá trị dinh dưỡng và dược liệu phong phú, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về quy trình bón phân cho bầu sao tại Việt Nam còn tương đối hạn chế. Trong thực tế sản xuất, việc lạm dụng phân bón hóa học kéo dài đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đất, thoái hóa độ phì nhiêu và tồn dư hóa chất trong nông sản. Xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững đòi hỏi phải thay thế một phần hoặc toàn bộ phân hóa học bằng phân bón hữu cơ nhằm cải tạo đất, duy trì độ tơi xốp, cân bằng dinh dưỡng và nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh của cây trồng.

Phân hữu cơ Hải Dương do Công ty Cổ phần Quốc tế Hải Dương sản xuất là dòng sản phẩm hữu cơ công nghiệp chứa hàm lượng hữu cơ cao cùng các dưỡng chất khoáng thiết yếu. Tuy nhiên, hiệu lực của loại phân này trên cây bầu sao chưa được đánh giá đầy đủ qua các khảo nghiệm thực địa. Do đó, việc nghiên cứu xác định liều lượng bón phù hợp là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định được liều lượng phân hữu cơ Hải Dương thích hợp cho cây bầu sao trồng tại Châu Thành, Tây Ninh nhằm giúp cây sinh trưởng, phát triển mạnh, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua các yêu cầu sau:

  1. Bố trí thí nghiệm đồng ruộng đúng phương pháp khoa học chuyên ngành nông học.
  2. Theo dõi, thu thập các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng, phát dục, các chỉ tiêu sinh trưởng thân lá cành (chiều dài thân chính, số cành cấp 1, số lá), và tình hình phát sinh sâu bệnh hại chính trên đồng ruộng.
  3. Đo đạc các yếu tố cấu thành năng suất và xác định năng suất thực tế của các công thức thí nghiệm.
  4. Sơ bộ lượng toán hiệu quả kinh tế, hiệu suất phân bón và tỷ số hoàn vốn (VCR) khi bón 5 mức phân hữu cơ Hải Dương khác nhau cho cây bầu sao.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây bầu sao lai F1 BATO 447 (do Công ty Hạt giống Én Vàng cung ứng) và phân bón hữu cơ Hải Dương dạng hạt nén.
  • Phạm vi không gian: Thí nghiệm thực hiện tại đồng ruộng ấp Thanh Bình, xã An Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Vụ canh tác từ tháng 02 năm 2023 đến tháng 06 năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài dựa trên cơ sở sinh học thực vật học của cây họ Bầu bí, nguyên lý dinh dưỡng khoáng cây trồng và các văn bản quy chuẩn phân bón của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT, 2019). Phân bón hữu cơ được định nghĩa là phân bón có nguồn gốc chỉ từ chất hữu cơ tự nhiên với hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 20%. Sản phẩm phân hữu cơ Hải Dương được chế biến theo tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt, có thành phần công bố gồm: 60% chất hữu cơ, 3% Nitơ tổng số ($N_{ts}$), 2% Lân hữu hiệu ($P_2O_{5hh}$), 2% Kali hữu hiệu ($K_{2Ohh}$), tỷ lệ C/N = 12, pH = 5, độ ẩm 30%. Tác giả kế thừa các nghiên cứu về phân bón hữu cơ trên cây bầu bí của Kameswari và cộng sự (2011), Mukesh và cộng sự (2017) trên thế giới, cũng như khảo nghiệm của Võ Minh Thứ (2016) tại Bình Định.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng được áp dụng:

  • Kiểu bố trí: Thí nghiệm đơn yếu tố bố trí theo khối đầy đủ ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design - RCBD) với 3 lần lặp lại, bao gồm 6 nghiệm thức:
    • Nghiệm thức 1 (NT1 - Đối chứng): Bón nền vô cơ + 0 kg phân hữu cơ Hải Dương/ha.
    • Nghiệm thức 2 (NT2): Bón nền vô cơ + 500 kg phân hữu cơ Hải Dương/ha.
    • Nghiệm thức 3 (NT3): Bón nền vô cơ + 1.000 kg phân hữu cơ Hải Dương/ha.
    • Nghiệm thức 4 (NT4): Bón nền vô cơ + 1.500 kg phân hữu cơ Hải Dương/ha.
    • Nghiệm thức 5 (NT5): Bón nền vô cơ + 2.000 kg phân hữu cơ Hải Dương/ha.
    • Nghiệm thức 6 (NT6): Bón nền vô cơ + 2.500 kg phân hữu cơ Hải Dương/ha.
  • Mức bón nền đồng nhất cho tất cả các nghiệm thức: 700 kg vôi/ha + 146,5 kg N/ha + 164,4 kg $P_2O_5$/ha + 121,9 kg $K_2O$/ha (dựa trên kết quả điều tra nhanh tập quán của 5 hộ nông dân địa phương).
  • Quy chuẩn phương pháp thu thập số liệu:
    • Lấy mẫu đất theo tiêu chuẩn TCVN 7538-2:2005, phân tích tại Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học & Môi trường.
    • Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng theo tiêu chuẩn TCVN 12719:2019/BNNPTNT về khảo nghiệm phân bón cho cây trồng hằng năm. Chọn 10 cây chỉ tiêu trên mỗi ô theo đường zic-zac.
    • Điều tra sâu bệnh hại theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 13268:2021/BNNPTNT ở các thời điểm 15, 30 và 45 ngày sau gieo.
  • Xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được tổng hợp sơ bộ bằng Microsoft Excel, sau đó phân tích phương sai (ANOVA) và trắc nghiệm so sánh phân hạng trung bình bằng phần mềm R ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ và $\alpha = 0,01$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các đặc điểm thực vật học, sinh lý, yêu cầu sinh thái của cây bầu sao, giá trị dinh dưỡng (theo dữ liệu USDA, 2016 chứa 96% nước, giàu vitamin B, C, khoáng vi lượng) và dược liệu trị bệnh (Đỗ Tất Lợi, 2001). Cây bầu sao ưa nhiệt (thích hợp 20 - 30°C), chịu hạn kém do hệ số thoát hơi nước cao, có bộ rễ tương đối yếu phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt 0 - 50 cm nên đòi hỏi đất tơi xốp, giữ ẩm tốt, pH từ 5,5 - 7,0.

Chương 1 cũng phân tích hiện trạng phân bón hữu cơ tại Việt Nam theo văn bản của Bộ NN&PTNT (2019), phân loại nguồn nguyên liệu từ chất thải chăn nuôi (ước tính 85 triệu tấn/năm nhưng mới tận dụng 20%), phụ phẩm rơm rạ (đốt bỏ 40 triệu tấn/năm gây lãng phí dưỡng chất), phế phẩm chế biến nông thủy sản và mỏ than bùn (trữ lượng khoảng 7,1 triệu tấn). Tác giả tổng kết các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước khẳng định việc phối hợp phân bón hữu cơ với phân khoáng giúp kéo dài thời gian sinh trưởng, kích thích phân cành, cải thiện tính chất hóa lý của đất và gia tăng năng suất cây bầu bí. Đồng thời, chương trình bày chi tiết về thông số kỹ thuật của phân hữu cơ Hải Dương và kết quả điều tra mức phân bón thực tế của 5 hộ dân tại xã An Bình, huyện Châu Thành.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết điều kiện tự nhiên khu vực thí nghiệm và toàn bộ quy trình thực nghiệm. Điều kiện khí tượng thời vụ thí nghiệm (tháng 02 - 05/2023) có nhiệt độ trung bình từ 27,4 - 29,9°C, số giờ nắng từ 207,5 - 285,2 giờ/tháng, tổng lượng mưa dao động 83,0 - 187,5 mm, độ ẩm trung bình 69 - 84%.

Chỉ tiêu phân tích đất Giá trị đo được Đơn vị tính
Cát 80,44 %
Thịt 8,69 %
Sét 10,87 %
$pH_{H_2O}$ 5,69 -
$pH_{KCl}$ 4,12 -
Chất hữu cơ tổng số (OM) 1,03 %
Dung tích hấp thu (CEC) 1,23 meq/100g
Đạm tổng số ($N_{ts}$) 0,059 %
Lân tổng số ($P_2O_{5ts}$) 0,037 %
Kali tổng số ($K_{2Ots}$) 0,052 %
Lân dễ tiêu 4,08 mg/100g
Kali dễ tiêu 3,87 mg/100g

Kết quả phân tích mẫu đất trước thí nghiệm cho thấy thành phần cơ giới thuộc nhóm đất cát pha (cát chiếm 80,44%), đất chua, hàm lượng hữu cơ và dinh dưỡng khoáng tổng số cũng như dễ tiêu đều ở mức rất nghèo, dung tích hấp thu CEC thấp (1,23 meq/100g), đặt ra yêu cầu bắt buộc phải bón vôi và bổ sung phân hữu cơ để nâng cao độ phì.

Về quy mô, thí nghiệm gồm 18 ô, diện tích mỗi ô là 26,4 $m^2$ (12 m x 2,2 m), trồng 2 hàng/ô với 15 cây/hàng (mật độ 30 cây/ô; khoảng cách hàng cách hàng 1,8 m, cây cách cây 0,8 m; tương đương 6.944 cây/ha). Tổng diện tích thực nghiệm (cả đường đi và hàng bảo vệ) là 663,48 $m^2$. Toàn bộ lượng phân hữu cơ Hải Dương và vôi được bón lót cùng 30 kg N + 46 kg $P_2O_5$ + 22,5 kg $K_2O$/ha; lượng phân hóa học còn lại được chia bón thúc qua 5 đợt (ở các ngày 15, 25, 35, 45 và 60 sau gieo). Quy trình chăm sóc áp dụng kỹ thuật làm giàn chữ A bằng cây chà cao 2,0 - 2,5 m kết hợp dây cước, cắt tỉa toàn bộ nhánh dưới mắt lá thứ 3, bắt nhánh bám đều dạng xương cá và tiến hành bấm ngọn chính cùng tất cả ngọn nhánh ở thời điểm 21 ngày sau trồng (NST) để kích thích phân hóa hoa cái.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương này đánh giá toàn diện ảnh hưởng của các mức phân hữu cơ Hải Dương thông qua các bảng số liệu đo đạc cụ thể:

Thời gian sinh trưởng và phát dục:

Nghiệm thức (kg phân Hải Dương/ha) Ngày ra hoa cái (NST) Ngày bắt đầu thu quả (NST) Ngày kết thúc thu quả (NST) Thời gian thu quả (ngày) Tổng thời gian sinh trưởng (ngày)
NT1: 0 (ĐC) 23,7 a 30,3 84,3 d 54,0 d 94,3 d
NT2: 500 22,7 b 30,3 86,0 cd 55,7 cd 96,0 cd
NT3: 1.000 22,3 b 30,0 88,3 bc 58,3 bc 98,3 bc
NT4: 1.500 22,3 b 30,3 91,7 ab 61,3 ab 101,7 ab
NT5: 2.000 22,0 b 30,0 94,0 a 64,0 a 104,0 a
NT6: 2.500 22,0 b 30,0 88,7 bc 58,7 bc 98,7 bc
Mức ý nghĩa F * ns ** ** **
Hệ số biến động CV (%) 2,4 1,2 0,7 1,1 0,6

Việc bón phân hữu cơ Hải Dương thúc đẩy cây ra hoa cái sớm hơn đối chứng từ 1,0 - 1,7 ngày (khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức $\alpha = 0,05$). Thời gian bắt đầu thu quả giữa các nghiệm thức không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (dao động 30,0 - 30,3 NST). Bón phân hữu cơ từ 500 đến 2.000 kg/ha giúp kéo dài ngày kết thúc thu quả (từ 86,0 lên 94,0 NST so với 84,3 NST của đối chứng) và gia tăng thời gian thu quả (từ 55,7 lên 64,0 ngày so với 54,0 ngày của đối chứng). Tuy nhiên, khi tăng lượng bón lên mức cao nhất 2.500 kg/ha, ngày kết thúc thu quả lại rút ngắn còn 88,7 NST và thời gian thu quả giảm còn 58,7 ngày.

Chỉ tiêu sinh trưởng thân lá cành:

  • Chiều dài thân chính: Ở giai đoạn 7 NST, cây mới bén rễ, chiều dài thân chính đạt từ 4,9 - 5,0 cm (khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê). Đến 14 NST, chiều dài thân tăng nhanh, nghiệm thức bón 2.500 kg/ha đạt cao nhất (76,1 cm), khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (59,5 cm). Đến thời điểm bấm ngọn (21 NST), chiều dài thân chính của các nghiệm thức bón phân hữu cơ dao động từ 194,5 đến 211,5 cm; trong đó NT6 (2.500 kg/ha) đạt 211,5 cm, NT5 (2.000 kg/ha) đạt 208,3 cm, NT3 (1.000 kg/ha) đạt 201,1 cm, đều vượt mức đối chứng (194,7 cm).
  • Khả năng phân cành cấp 1: Ở 14 NST, số cành cấp 1 dao động từ 3,8 - 4,6 cành/cây (chưa có sai khác thống kê). Đến 21 NST, số cành cấp 1 tăng mạnh theo mức phân bón, dao động từ 7,9 đến 10,6 cành/cây; nghiệm thức 2.500 kg/ha đạt cao nhất với 10,6 cành/cây, nghiệm thức 2.000 kg/ha đạt 9,8 cành/cây, nghiệm thức 1.000 kg/ha đạt 8,3 cành/cây, trong khi đối chứng và mức 500 kg/ha chỉ đạt 7,9 cành/cây.
  • Số lá: Tại 21 NST, số lá/cây của các nghiệm thức có bón phân dao động từ 115,2 đến 126,4 lá/cây; cao nhất ở nghiệm thức 2.000 và 2.500 kg/ha (cùng đạt 126,4 lá/cây), nghiệm thức 1.000 kg/ha đạt 118,7 lá/cây, vượt trội so với đối chứng (114,0 lá/cây) ở mức ý nghĩa $p < 0,01$.

Tình hình sâu bệnh hại: Thí nghiệm ghi nhận sự xuất hiện của các đối tượng gây hại gồm: sâu xanh ăn lá (Diaphania indica), bọ phấn trắng (Bemisia tabaci), bọ trĩ (Thrips palmi) và bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani). Tỷ lệ sâu xanh ăn lá ở 15 NST có sự sai khác thống kê giữa các công thức ($p < 0,05$), thấp nhất ở mức bón 1.500 kg/ha và 2.500 kg/ha (cùng 4,7%), đối chứng và mức 1.000 kg/ha ghi nhận 11,0%. Tỷ lệ lá bị bọ phấn trắng ở 30 NST dao động 4,7 - 8,0% (thấp nhất ở NT 1.000 kg/ha với 4,7%). Tỷ lệ lá bị bọ trĩ ở 15 NST dao động từ 5,0 - 9,0%. Tỷ lệ bệnh lở cổ rễ ở 5 NST duy trì thấp từ 2,0 - 3,0%. Các chỉ tiêu bọ phấn trắng, bọ trĩ và lở cổ rễ không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả định lượng về hiệu quả của việc bón phân hữu cơ Hải Dương đối với giống bầu sao F1 BATO 447 trên đất cát pha tại Châu Thành, Tây Ninh:

  • Nghiệm thức tối ưu được xác định là NT3 với mức bón 1.000 kg phân hữu cơ Hải Dương/ha trên nền bón vô cơ quy chuẩn. Ở mức bón này, cây bầu sao đạt:
    • Thời gian ra hoa cái sớm (22,3 NST), bắt đầu thu quả ở 30 NST và tổng thời gian sinh trưởng 98,3 ngày.
    • Chiều dài thân chính đạt 201,1 cm, số cành cấp 1 đạt 8,3 cành/cây, số lá đạt 118,7 lá/cây tại thời điểm 21 NST.
    • Tỷ lệ bọ phấn trắng hại lá thấp nhất trong thí nghiệm (4,7%).
    • Năng suất thực tế đạt 44,9 tấn/ha, tăng 12,7% so với nghiệm thức đối chứng không bón phân hữu cơ.
    • Hiệu quả kinh tế đạt cao nhất với lợi nhuận đạt 68.072.000 đồng/ha/vụ (trong văn bản tóm tắt ghi 68.072 đồng/ha/vụ theo đơn vị nghìn đồng), hiệu suất phân bón đạt 5,8 kg quả/kg phân và tỷ suất lợi nhuận trên chi phí phân bón gia tăng (chỉ số VCR) đạt 1,4.

Các mức bón cao hơn (2.000 - 2.500 kg/ha) tuy làm tăng sinh khối thân lá (chiều dài thân đạt 208,3 - 211,5 cm, số cành đạt 9,8 - 10,6 cành/cây) nhưng làm đội chi phí đầu tư phân bón, không tối ưu hóa được chỉ số kinh tế VCR.

Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật của tác giả:

  • Khuyến nghị nông dân vùng Châu Thành, Tây Ninh và các khu vực có điều kiện thổ nhưỡng cát pha tương đồng áp dụng mức bón 1.000 kg phân hữu cơ Hải Dương/ha để bón lót toàn bộ khi làm đất kết hợp với 700 kg vôi/ha và nền phân vô cơ (146,5 kg N + 164,4 kg $P_2O_5$ + 121,9 kg $K_2O$/ha).
  • Thực hiện nghiêm ngặt quy trình làm giàn chữ A, bấm ngọn chính và các cành cấp 1 ở thời điểm 21 NST để điều tiết dinh dưỡng tập trung phát triển hoa quả thương phẩm.

Đóng góp của đề tài: Cung cấp dẫn liệu khoa học thực nghiệm đầu tiên về liều lượng bón phân hữu cơ Hải Dương trên giống bầu sao lai F1 BATO 447 tại vùng đất cát pha tỉnh Tây Ninh. Kết quả nghiên cứu chứng minh tính khả thi của việc sử dụng phân hữu cơ công nghiệp để cải thiện năng suất, tối ưu hóa chi phí đầu tư và từng bước giảm phụ thuộc vào phân bón hóa học trong sản xuất rau màu thương phẩm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của khóa luận:

  • Thí nghiệm mới chỉ được tiến hành trong phạm vi một vụ canh tác duy nhất (từ tháng 02/2023 đến tháng 06/2023) trên một loại đất cụ thể (đất cát pha tại ấp Thanh Bình, xã An Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh) và trên một giống bầu sao duy nhất (F1 BATO 447).
  • Do giới hạn về nguồn kinh phí nghiên cứu, tác giả chưa tiến hành phân tích lại các chỉ tiêu lý hóa tính của đất sau khi thu hoạch để đánh giá mức độ cải tạo đất của phân hữu cơ.
  • Chưa thực hiện phân tích các chỉ tiêu sinh hóa và phẩm chất quả thương phẩm sau thu hoạch (như hàm lượng đường, vitamin C, chất xơ hay dư lượng hóa chất).

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Cần tiếp tục lặp lại thí nghiệm trong nhiều vụ khác nhau (đặc biệt là vụ mưa/nghịch vụ) để kiểm chứng tính ổn định của liều lượng phân bón.
  • Mở rộng khảo nghiệm trên các loại đất khác nhau của vùng Đông Nam Bộ.
  • Bổ sung các chỉ tiêu phân tích phẩm chất quả và theo dõi sự biến động độ phì, hệ vi sinh vật đất sau nhiều vụ bón phân liên tục.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp này là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn cho sinh viên, học viên chuyên ngành Nông học, Khoa học cây trồng và Quản lý nông nghiệp trong việc thiết kế phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên RCBD và xử lý thống kê nông học bằng phần mềm R.

Nội dung quy trình kỹ thuật canh tác (lên luống, đục lỗ bạt nilon bằng lon than nóng đường kính 10 cm, mật độ 1,8 m x 0,8 m, làm giàn chữ A cắm cọc 2,0 - 2,5 m kết hợp dây cước, cắt bấm ngọn ở 21 NST) và công thức bón phân chi tiết ở Chương 2 là tài liệu hướng dẫn kỹ thuật hữu ích cho cán bộ khuyến nông cùng các hộ nông dân trồng bầu sao thương phẩm tại khu vực Tây Ninh và các địa phương có thổ nhưỡng tương tự.

Câu hỏi thường gặp

1. Thành phần lý hóa của phân hữu cơ Hải Dương sử dụng trong thí nghiệm gồm những gì?

Theo công bố của nhà sản xuất (Công ty Cổ phần Quốc tế Hải Dương), phân hữu cơ Hải Dương sản xuất theo tiêu chuẩn châu Âu và Mỹ ở dạng hạt nén, có thành phần gồm 60% chất hữu cơ, 3% đạm tổng số ($N_{ts}$), 2% lân hữu hiệu ($P_2O_{5hh}$), 2% kali hữu hiệu ($K_{2Ohh}$), tỷ số C/N = 12, pH = 5 và độ ẩm 30%. Liều lượng nhà sản xuất khuyến cáo chung cho cây rau màu và hoa quả là 1,5 - 2,0 tấn/ha/vụ.

2. Vì sao mức bón 1.000 kg phân hữu cơ Hải Dương/ha được chọn là tối ưu thay vì mức 2.000 hoặc 2.500 kg/ha?

Mặc dù các mức bón 2.000 và 2.500 kg/ha giúp thân chính dài hơn (208,3 - 211,5 cm), số lá nhiều hơn (126,4 lá/cây) và số cành cấp 1 nhiều hơn (9,8 - 10,6 cành/cây), nhưng mức bón 1.000 kg/ha đem lại sự cân đối tốt nhất giữa sinh trưởng sinh dưỡng và sinh sản, cho năng suất thực tế đạt 44,9 tấn/ha (tăng 12,7% so với đối chứng), đạt lợi nhuận kinh tế cao nhất (68.072.000 đồng/ha/vụ) cùng chỉ số hiệu quả kinh tế phân bón VCR đạt 1,4 và hiệu suất phân bón đạt 5,8 kg quả/kg phân. Mức bón 2.500 kg/ha còn làm rút ngắn thời gian thu quả (xuống còn 58,7 ngày so với 64,0 ngày ở mức 2.000 kg/ha) và gia tăng chi phí vật tư không cần thiết.

3. Nền phân bón chung áp dụng cho tất cả các nghiệm thức trong nghiên cứu được tính toán như thế nào?

Nền phân bón được xây dựng dựa trên kết quả điều tra tập quán canh tác của 5 hộ nông dân tại xã An Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Toàn bộ 6 nghiệm thức (kể cả đối chứng) đều nhận chung một mức bón nền gồm: 700 kg vôi/ha + 146,5 kg N/ha + 164,4 kg $P_2O_5$/ha + 121,9 kg $K_2O$/ha. Toàn bộ vôi và phân hữu cơ được bón lót cùng một phần NPK; lượng vô cơ còn lại chia bón thúc qua 5 thời điểm (15, 25, 35, 45 và 60 ngày sau gieo).

4. Tác giả đã thực hiện biện pháp kỹ thuật cắt bấm ngọn ở thời điểm nào và nhằm mục đích gì?

Tác giả tiến hành bấm ngọn thân chính và tất cả các cành ở thời điểm 21 ngày sau trồng (sau khi hoàn thành đợt theo dõi sinh trưởng thứ 3). Mục đích của biện pháp này là khống chế sự sinh trưởng sinh dưỡng quá mức, tập trung nguồn dinh dưỡng dự trữ của cây để nuôi quả và kích thích phát triển nhiều chồi mang hoa cái ở các nách lá, từ đó nâng cao tỷ lệ đậu trái và năng suất thương phẩm.

5. Đặc điểm đất tại khu vực thí nghiệm có thuận lợi và khó khăn gì đối với cây bầu sao?

Kết quả phân tích mẫu đất (TCVN 7538-2:2005) cho thấy khu đất thí nghiệm là đất cát pha (80,44% cát, 8,69% thịt, 10,87% sét), thoát nước tốt nhưng giữ ẩm kém, có phản ứng chua ($pH_{H_2O} = 5,69$, $pH_{KCl} = 4,12$), dung tích hấp thu CEC rất thấp (1,23 meq/100g), nghèo mùn hữu cơ (OM = 1,03%) và có hàm lượng dinh dưỡng khoáng đa lượng ở mức nghèo ($N_{ts} = 0,059%$, $P_{2O5ts} = 0,037%$, $K_{2Ots} = 0,052%$, lân dễ tiêu 4,08 mg/100g, kali dễ tiêu 3,87 mg/100g). Vì vậy, việc bón 700 kg vôi/ha để khử chua và bổ sung phân bón hữu cơ là yếu tố bắt buộc để cải thiện kết cấu đất và bảo đảm năng suất.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Minh Tâm đã thực hiện thành công khảo nghiệm đồng ruộng đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ Hải Dương trên cây bầu sao lai F1 BATO 447 tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Kết quả nghiên cứu xác định mức bón 1.000 kg phân hữu cơ Hải Dương/ha trên nền phân bón cân đối là công thức tối ưu, giúp cây phát dục thuận lợi, sinh trưởng khỏe mạnh, đạt năng suất thực tế 44,9 tấn/ha và mang lại lợi nhuận cao nhất. Đề tài đóng góp dẫn liệu thực nghiệm có giá trị cho việc hoàn thiện quy trình canh tác bầu sao theo hướng giảm thiểu phân bón hóa học và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân vùng đất cát pha Đông Nam Bộ.