Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về hoa đồng tiền 1.1 Nguồn gốc và phân loại Cây hoa đồng tiền thuộc lớp hai lá mầm (Dicotyledoneae), phân lớp cúc (Asreroideae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), chi đồng tiền (Gerbera L. Hoa đồng tiền có nguồn gốc ở Nam Phi, được phát hiện bởi Robert Jamerson, người Scotsland vào năm 1880 khi đang làm ở bãi khai thác vàng gần Bardedton vùng Trausval ở Nam Phi. Ông đã tặng cây này cho vườn thực vật Dudan và người phụ trách khu vườn này là ông John Med Leywood đã gửi cây mẫu đến Harry Bolies ở thị trấn Cape Nam Phi. Sau đó, ông Bolies đã đưa những cây này tới vườn thực vật Hoàng Gia Anh dé phân loại và nhận biết.
Năm 1890, nhà thực vật học người Anh Richart Irwin Lynch đã tiến hành lai tạo các giống hoa đồng tiền với nhau và đã tạo rất nhiều các giống cải tiến. Sau đó người Pháp và người Hà Lan cũng tiến hành lai tao và dan dan hai nước này trở thành trung tâm tạo giống đồng tiền của thế giới. Tại Việt Nam giống hoa đồng tiền được nhập về trồng đầu tiên khoảng từ những năm 1940 và được phát triển cho đến nay (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004).2 Đặc điểm thực vật học Theo Dang Văn Đông và Dinh Thế Lộc (2004), hoa đồng tiền có đặc điểm thực vật học: Ré hoa đồng tiền thuộc loại rễ chùm, phát triển khỏe, rễ hình ống ngang và nỗi phía trên mặt luống, rễ ăn nông, thường lan rộng theo diện tích lá. Thân của cây hoa đồng tiền là dạng thân thảo, có thân ngầm, không phân cảnh mà chỉ đẻ nhánh, lá và hoa phát triển từ thân.
Lá hoa đồng tiền mọc chếch so với mặt đất một góc 15 - 45 độ, lá có hình lông chim, xẻ thùy nông hoặc sâu, mặt lưng lá có lớp lông nhung. Hoa đồng tiền có dạng hoa tự đơn hình đầu và được tạo bởi hai loại cánh hoa hình lưỡi và hình ống. Cánh hình lưỡi lớn hơn, xếp thành một vòng phía ngoài; cánh hình ống nhỏ hơn được gọi là mắt hoa hoặc tâm hoa. Hoa nở theo thứ tự từ ngoài vào trong theo từng vòng một.
Qua đồng tiền thuộc dang quả bế có lông, không có nội nhũ, hạt nhỏ, một gam hạt có khoảng 288 - 300 hạt.3 Yêu cầu ngoại cảnh của hoa đồng tiền 1.1 Nhiệt độ Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự sinh trưởng, phát triển, nở hoa va chất lượng hoa đồng tiền. Da số các giống đồng tiền được trồng hiện nay đều ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ dé cây phát triển tốt dao động từ 18 - 25°C. Nhiệt độ lý tưởng dé ra hoa là 22°C, lá non mở là 22 - 25°C. Tuy nhiên cây có thé chịu được nhiệt độ từ 13 - 32°C.
Nếu nhiệt độ dưới 12°C và cao hơn 35°C kéo đài cây sẽ sinh trưởng chậm, thời gian ra hoa kéo dài dẫn đến năng suất bị giảm, đồng thời hoa nhỏ, bị biến dang, mau sac nhot nhat (Nguyễn Thi Kim Lý va cs.2 Ánh sáng Hoa đồng tiền là loài cây ưa sáng, ánh sáng đầy đủ cây sẽ sinh trưởng và phát triển tốt, hoa đẹp, độ bền hoa cao, nhưng cường độ ánh sáng quá mạnh sẽ làm giảm cường độ quang hợp. Cường độ ánh sáng phù hợp là 3.000 lux, và đảm bảo thời gian chiếu sáng từ 11 - 13 giờ. Ánh sáng trong nhà dưới 70% sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển và ra hoa của cây. Vì vậy, cần phải thiết kế nhà lưới trồng hoa đồng tiền ở nơi nhận được nhiều ánh sáng nhất (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004).3 Âm độ Đồng tiền là cây trồng cạn không chịu được úng nhưng đồng thời có sinh khối lớn, bộ lá to, tiêu hao nhiều nước, do vậy cũng kém chịu hạn.
Độ 4m dat từ 60 - 70%, độ am không khí từ 55 - 65% thuận lợi cho đồng tiền sinh trưởng, độ âm tốt sẽ góp phần làm cuống hoa kéo dai (Đặng Văn Đông va Dinh Thế Lộc, 2004). Vào giai đoạn ra hoa am độ khoảng 70%. Đặc biệt vào thời gian thu hoạch cần am độ vừa phải để tránh nước đọng trên các vết cắt, gây thối hoa và sâu bệnh phát sinh phát triển. Trong quá trình sinh trưởng tùy theo thời tiết mà phải luôn cung cấp đủ lượng nước cho hoa đồng tiền (Nguyễn Thi Kim Lý và cs.4 Dat trồng và giá thé Cây hoa đồng tiền thích hợp trồng trên đất tơi xốp nhiều mùn, độ pH trung bình (6 - 6,5), đất thoát nước tốt, mực nước ngầm thấp va ồn định.
Mực nước ngầm cao thường dé đọng nước, rễ cây dé thối và bị bệnh nên phải có hệ thống thoát nước tốt. Xung quanh dao rãnh thoát nước sâu từ 0,7 - 1,0 m và lên luống cao, tránh trồng đồng tiền tại nơi đất trăng (Nguyễn Thị Kim Ly và cs. EC của đất không nên vượt quá 1 mS/cm (Maitra và cs. Yêu cầu giá thé trồng đồng tiền chậu phải tơi xốp, thoát nước tốt, không chứa mam bệnh hại, pH = 6 - 6,5.
Có nhiều loại giá thể trồng đồng tiền nhưng giá thé tốt nhất là: 1/3 đất phù sa + 1/3 trấu hun + 1/3 xơ dừa (Nguyễn Thị Tan và cs.4 Nhu cầu dinh dưỡng Theo Nguyễn Thi Kim Lý va cs. (2012), yêu cầu đinh dưỡng đối với nhóm hoa họ cúc: Phân đạm (N): Đạm giúp thúc đây quá trình tăng trưởng và phát triển, giúp cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra nhiều lá, liên quan đến màu sắc và kích thước hoa. Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, cho hoa nhỏ và nhanh tàn, lá vàng úa nếu thiếu trầm trọng cây sẽ ngừng sinh trưởng và chết. Tuy nhiên, thừa đạm thân lá phát triển mạnh nhưng mềm, yếu, dé bị đỗ ngã, ra hoa muộn hoặc không ra hoa, sâu bệnh phát triển mạnh.
Lượng đạm nguyên chất cần cho 1.000 chậu là 1,4 kg. Phân lân (PzOs): Lân giúp cho bộ rễ khỏe sinh trưởng mạnh, kích thích quá trình đẻ nhánh, nay chdi, thúc đây cây ra hoa, hoa đẹp, bền màu. Thiếu lân lá già tăng, cánh nhánh ít hoa, hoa nhỏ, cuồng ngắn, nhanh tàn, màu sắc nhợt nhạt, kha năng chống chịu kém. Lượng lân nguyên chất cần cho 1.000 chậu là 1,4 kg.
Phan kali (KzO): Kali đảm bảo quá trình quang hợp của cây có hiệu quả, giúp cây tăng cường tính chịu rét chịu hạn và chịu sâu bệnh. Thiếu kali chóp lá già, lá vàng chết khô đồng thời xuất hiện các đốm, cuống hoa mềm, màu sắc hoa kém, cánh mềm, mau tàn. Cây cần kali vào thời kì kết nụ và ra hoa. Lượng kali nguyên chất cho 1.000 chậu là 1,05 kg.
Canxi (Ca): Canxi rất cần thiết cho sự sinh trưởng của bộ rễ. Thiếu canxi trên lá non xuất hiện những đốm màu xanh nhạt, nghiêm trọng hơn lá non và đỉnh sinh trưởng bị chết khô, nhưng lá già vẫn bình thường, thiếu canxi còn dẫn đến cuống hoa và cuống 5 lá bị mềm không đứng được. Canxi cũng giúp cho hoa đồng tiền tăng khả năng chịu nhiệt, hạn chế được tác dụng độc của các axit hữu cơ. Ngoài các yếu tố đa lượng trên, một số nguyên tô vi lượng khác như Mg, Fe, Cu, Na cũng rất cần cho cây, được bổ sung qua phân hữu cơ, phân vi sinh hoặc các loại phân bón lá.
Thông thường khi thiểu Mg lá sẽ giòn, cong queo thậm chí biến đỏ, cuống lá dài, gân lá gồ lên, sự ra hoa bị ức chế. Thiếu Fe lá có màu vàng nhạt, gân trắng. Thiếu Cu, lá non yếu dé gãy, cong, cây bắt đầu khô từ đỉnh ngọn sau đó chết cả cây.2 Giới thiệu về Axit humic Axit humic là một thành phan chính của các chất humic, là giai đoạn cuối cùng của chất hữu cơ khi chúng phân hủy đến kích thước nhỏ nhất. Chúng là những phân tử cực kỳ phức tạp, được hình thành tự nhiên theo thời gian bởi các vi sinh vật đất khi chúng phân hủy các chất dinh đưỡng và chất hữu cơ có trong vật liệu phân hủy.
Axit humic là một loại phân bón hữu cơ khoáng, được hình thành thông qua quá trình hoạt động của vi sinh vật biến xác thực vật và động vật thành mùn (Anonymous, 2010).1 Tác dụng của axit humic đối với cây trồng Axit humic giúp bẻ gãy mối liên kết giữa các chất dinh dưỡng trong đất, cung các chất dinh dưỡng cần thiết giúp cho rễ nhanh chóng hấp thu và giúp cây trồng phát triển tối ưu. Tăng hiệu quả sử dụng các loại phân bón, thúc day nhanh quá trình nảy mam hạt giống và cải thiện bộ rễ giúp tăng sức đề kháng của cây với sâu bệnh và các điều kiện bắt lợi của môi trường. Böhme và Lua (1996) đã chứng minh axit humic có lợi cho sự hấp thu chất dinh dưỡng của thực vật, và đặc biệt quan trọng đối với việc vận chuyên của vi chất dinh dưỡng. Ngoài ra, các nghiên cứu về tác động của axit humic đối với sự phát triển của thực vật cho thấy axit humic có tac dụng cải thiện tăng trưởng thực vat và han chế phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng cung cấp từ bên ngoài (Chen và cs.2 Sơ lược về phân bón axit humic sử dụng trong thí nghiệm Phân bón hữu cơ sinh học Humic Acid Powder 95% là sản phẩm của Tập đoàn Humic Growth Solutions, Hoa Kỳ, được nhập khâu và phân phối độc quyền bởi công ty TNHH Đầu Tư Nông Nghiệp Hoàng Phúc.
Sản phẩm là hỗn hợp dạng bột axit humic và acid fulvic cao, hòa tan trong nước 100%. Thanh phan bao gồm: axit humic (60%), kali hữu hiệu (12%), canxi (1%), sắt (4. Công dụng: Giúp cân bằng pH thích hợp cho cây trồng, làm cho dat tơi xốp, tăng khả năng giữ âm, tạo độ phì cho đất. Giúp cây con mau bén rễ, chống hiện tượng nghẹt rễ, von rễ, đâm chồi, cành phát trién mạnh mẽ, rễ phát trién mạnh đồng thời hap thu tối đa dinh dưỡng cho sự phát triển.
Giúp cây trồng nâng cao khả năng chống chịu với điều kiện bat lợi như phèn, mặn, hạn hán, ngập úng,. Ra hoa sớm đồng loạt, bông dài khoẻ, đậu trái nhiều, giảm hiện tượng rụng trái, nut trái. Lượng phân khuyến cáo trên cây hoa kiểng: 25 - 35 g/binh 16 lit.1 Bao bì mặt trước và mặt sau Phan bón hữu cơ sinh hoc Humic Acid Powder 95% 1.3 Một số nghiên cứu ảnh hưởng nồng độ axit humic trên hoa Nikbakht và cs. (2008) tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của axit humic đối với sự phát triển của thực vật, sự hấp thu chất dinh dưỡng và thời gian sống sau thu hoạch của hoa đồng tiền.
Kết qua cho thay ở mức nồng độ 1.000 mg/L axit humic sự phát triển của rễ tăng lên, hàm lượng dinh dưỡng đa lượng, vi lượng của lá va thân được tăng cường đáng kể.