Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng nồng độ natri 4 chlorophenoxyacetate 4 cpa na đến ra hoa đậu trái trên cây sầu riêng monthong durio zibethinus murr tại huyện đức linh tỉnh bình thuận

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp nông học ảnh hưởng nồng độ natri 4 chlorophenoxyacetate 4 cpa na đến ra hoa đậu trái, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

76
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về cây sầu riêng

1.1.1. Nguồn gốc

1.1.2. Phân loại

1.1.3. Đặc điểm hình thái

1.2. Điều kiện ngoại cảnh

1.2.1. Nhiệt độ, độ ẩm

1.2.2. Lượng mưa

1.2.3. Đất đai

1.2.4. Gió và ánh sáng

1.2.5. Quang kỳ

1.3. Điều kiện để cây ra hoa

1.3.1. Quan điểm về sự ra hoa sầu riêng

1.3.2. Sự khô hạn

1.3.3. Nhiệt độ và âm độ không khí

1.4. Sâu bệnh hại thường gặp trên sầu riêng

1.4.1. Bệnh gây hại do “nam” (Phytophthora palmivora)

1.5. Thông tin về hoạt chất Natri 4 — Chlorophenoxyacetate (4 — CPA — Na)

1.6. Một số nghiên cứu về hoạt chất 4 — CPA — Na và xử lý ra hoa

1.6.1. Nghiên cứu về hoạt chất 4 — CPA — Na

1.6.2. Nghiên cứu về xử lý ra hoa

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm thí nghiệm

2.2. Điều kiện tự nhiên

2.3. Thuốc bảo vệ thực vật

2.4. Phương pháp thí nghiệm

2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

2.4.2. Quy mô thí nghiệm

2.5. Chỉ tiêu phát triển của mầm hoa

2.6. Chỉ tiêu phát triển trái

2.7. Chỉ tiêu về sâu hại

2.8. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của nồng độ Natri 4 — Chlorophenoxyacetate (4 — CPA — Na) đến sự phát triển của cây sầu riêng

3.1.1. Số nụ và tỷ lệ rụng nụ

3.1.2. Chiều dài nụ

3.1.3. Đường kính nụ

3.1.4. Đường kính cuống nụ

3.1.5. Số hoa nở, đường kính cuống hoa và tỷ lệ hoa nở

3.2. Ảnh hưởng của nồng độ (4 — CPA — Na) đến sinh trưởng và phát triển trái

3.2.1. Số trái/cành và tỷ lệ rụng trái

3.2.2. Chiều dài trái

3.2.3. Đường kính trái

3.2.4. Đường kính cuống trái

3.3. Ảnh hưởng của nồng độ (4 — CPA — Na) đến tình hình sâu hại

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC BẢNG

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Đề tài "Ảnh hưởng nồng độ 4-CPA Na đến tỷ lệ ra hoa, đậu trái trên cây sầu riêng Monthong (Durio zibethinus Murr.) tại huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận" được thực hiện nhằm xác định nồng độ 4-CPA Na thích hợp cho sự ra hoa và đậu trái của cây sầu riêng. Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 11 đến tháng 3 năm 2024, với mục tiêu cung cấp thông tin hữu ích cho nông dân trong việc áp dụng kỹ thuật trồng cây sầu riêng hiệu quả hơn. Kết quả cho thấy nồng độ 4-CPA Na 12,5 ppm mang lại hiệu quả tốt nhất trong việc tăng tỷ lệ ra hoa và đậu trái, với tỷ lệ nở hoa đạt 95,3% và số trái/cành cao hơn so với nghiệm thức đối chứng.

II. Tác động của nồng độ 4 CPA Na đến sự ra hoa

Nghiên cứu cho thấy nồng độ 4-CPA Na có ảnh hưởng rõ rệt đến sự ra hoa của cây sầu riêng Monthong. Cụ thể, khi phun 4-CPA Na ở nồng độ 12,5 ppm, chiều dài nụ, đường kính nụ và tỷ lệ nở hoa đều cao hơn so với nghiệm thức đối chứng. Kết quả cho thấy chiều dài nụ đạt 2,2 cm, đường kính nụ 1,5 cm, và tỷ lệ nở hoa đạt 95,3%. Điều này chứng tỏ rằng việc sử dụng 4-CPA Na có thể giúp tăng cường khả năng ra hoa của cây sầu riêng, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng trái. Việc áp dụng nồng độ này trong thực tiễn có thể giúp nông dân giảm thiểu tình trạng rụng hoa và trái non.

III. Ảnh hưởng đến sự phát triển trái

Nồng độ 4-CPA Na không chỉ ảnh hưởng đến tỷ lệ ra hoa mà còn tác động tích cực đến sự phát triển của trái. Kết quả cho thấy ở nồng độ 12,5 ppm, chiều dài trái đạt 22,6 cm, đường kính trái 16,8 cm, và đường kính cuống trái 1,7 cm, cao hơn so với nghiệm thức đối chứng. Điều này cho thấy rằng việc sử dụng 4-CPA Na có thể cải thiện kích thước và chất lượng trái sầu riêng, từ đó nâng cao giá trị kinh tế cho nông dân. Việc áp dụng nồng độ này trong sản xuất có thể giúp tăng cường năng suất và chất lượng trái, đáp ứng nhu cầu thị trường.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ 4-CPA Na 12,5 ppm là nồng độ tối ưu cho sự ra hoa và đậu trái trên cây sầu riêng Monthong tại huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Việc áp dụng nồng độ này không chỉ giúp tăng tỷ lệ ra hoa mà còn cải thiện sự phát triển của trái, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Khuyến nghị cho nông dân là nên áp dụng nồng độ này trong quá trình chăm sóc cây sầu riêng để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. Nghiên cứu này có thể là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về việc sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng trong nông nghiệp.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây sầu riêng 1.1 Nguồn gốc Sau riêng có nguồn gốc ở vùng Đông Nam A và mọc đại trong rừng ở Malaysia. Tên khoa học Durio zibethinus, chỉ Durio có nhiều loài, nhưng chỉ có một loài quan trọng nhất, kinh tế nhất được trồng rộng rãi ở các nước Đông Nam Á và các nước khác là Durio zibethinus Murr. Một số loài khác cũng cho quả ăn được nhưng cùi mỏng, phẩm chất kém được trồng ít hơn như Durio oxleyanus, D. Xuất xứ từ vùng đất thấp nhiệt đới âm ở Đông Nam A nên sầu riêng được trồng nhiều ở Indonesia, Malaysia, Philippin, Myanma, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia.

Ngoài ra, còn được trồng ở một số nước nhiệt đới Trung Nam Mỹ, một số nước ở Châu Phi và Châu Đại Dương (Trần Thế Tục và Chu Doãn Thành, 2004).2 Phan loại Theo Nguyễn Văn Kế (2014) cây sầu riêng được phân loại thực vật học: Tên tiếng Anh: Durian Giới: Plantae Bộ: Malvales Họ: Malvaceae Bombacaceae Chi: Durio Loài: Durio zibethinus Murr. Cac giông sâu riêng Trước đây sầu riêng ở nước ta được trồng bằng hạt, qua quá trình trồng trọt nhiều năm sự phân ly các đặc tính di truyền rất rõ, do đó các giống/dòng sầu riêng ở các vùng trồng trong nước rất da dạng. Điều tra nghiên cứu sầu riêng ở Nam Bộ cho thấy có 59 giống/dòng (Nguyễn Minh Châu, 1999), ở Đắk Lắk có 24 dòng (Trần Vinh, 1996). Trong số đó, các giống sầu riêng ngon được thị trường ưa chuộng là: sầu riêng Sữa Hạt Lép Bến Tre (Chin Hóa), sầu riêng Ri — 6 và sầu riêng Monthong (Thái).3 Đặc điểm hình thái Theo Nguyễn Văn Kế (2014), cây sầu riêng có một số đặc điểm hình thái như sau: Tán cây: sầu riêng trồng bằng hạt có thể cao từ 20 m — 40 m, cây ghép chỉ cao 8 m- 12 m.

Đường kính gốc lớn nhất là 1,2 m. Thân mọc thang, phân nhánh thấp và có nhiêu cành. Khi lớn tán cây rộng trên 10 m với nhiêu cành phân bô đêu về mọi hướng. Rễ: sâu riêng có rễ cọc đâm sâu, rễ bàn ít.

Sự phân bồ rễ phụ thuộc vào tính chat dat và mực thủy cấp. Sầu riêng hút nước và chất dinh dưỡng qua rễ nam (Fungus roots) phân bố chủ yếu ở tầng dat 0 em - 50 cm. Lá: lá sầu riêng là lá đơn, mọc cách, bìa nhẫn. Lá dai 12 cm — 20 cm, rộng 4 cm - 6 cm, mặt trên màu xanh sáng, mặt dưới có lông min màu nâu.

Hoa: sầu riêng là loại cây có hoa mọc ra từ thân và các cành lớn từng chùm từ 1 — 80 hoa (thông thường 20 — 30 hoa). Hoa sau riêng là hoa lưỡng tính có đài xanh, cánh hoa màu trắng sữa. Hoa nở và thụ phấn vào ban đêm nhờ dơi và các côn trùng ăn về đêm. Trái: sầu riêng là dạng trái nang (capsule).

Trái có nhiều hình dang: tròn, trứng, dai, có gai to và cứng tùy vào giống va kỹ thuật canh tác mà trái có màu sắc khác nhau: xanh, vàng, nâu, môi trái có 5 ngăn to nhỏ không đêu. 1 Cây sâu riêng Mơuthong 1.2 Điều kiện ngoại cảnh 1.1 Nhiệt độ, độ 4m Sau riêng là loại cây ăn quả nhiệt đới điển hình nên sầu riêng ưa khí hậu nóng và có độ 4m cao, ồn định quanh năm. Sầu riêng sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ từ 24 °C — 30 °C am độ không khí 75 — 80%. Khi nhiệt độ xuống thấp hơn 22 °C hoặc cao hơn 40 °C sầu riêng sẽ bị giới hạn sinh trưởng.

Tuy nhiên, khi sầu riêng ra hoa cần có nhiệt độ không khí từ 20 °C — 22 °C, âm độ từ 50 — 60% (Nguyễn Văn Kế, 2014).2 Lượng mưa Lượng mưa thích hợp cho sự sinh trưởng và sự phát triển của sầu riêng là từ 2000 — 3000 mm/năm và phân bố đều quanh năm. Tuy nhiên, sầu riêng cần 1 — 2 tháng khô han dé kích thích cây ra hoa (Nguyễn Văn Ké, 2014).3 Đất đai Sầu riêng là cây ưa âm nhưng không chịu được úng nên sầu riêng cần sự thoát nước tốt, sự thoát nước kém còn tạo điều kiện cho bệnh thối rễ phát triển. Với đặc tính là cây to, có rễ cọc đâm sâu nên sầu riêng cần có tầng đất day (tang đất canh tác > 1,5 m), pH thích hợp từ 5,5 — 6,5. Ngoài ra, cây sầu riêng cũng không chịu được đất nhiễm mặn và phèn (Nguyễn Văn Kế, 2014).4 Gió và ánh sáng Khi lớn, sầu riêng cần nhiều ánh sáng để sinh trưởng và phát triển nên không được trồng sầu riêng với mật độ dày.

Khi còn nhỏ sầu riêng ưa bóng râm, trước khi đạt độ cao 0,8 m sầu riêng cần che bớt từ 30 — 50% ánh sáng. Ngoài ra, gió mạnh gây ra gãy nhánh và rụng quả nhiều ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng của cây. Những vùng hàng năm có gió mạnh cần có đai rừng chắn gió để giảm bớt thiệt hại do gió gây ra (Nguyễn Văn Kế, 2014).5 Quang kỳ Trong những vùng thuộc xích đạo sầu riêng không bị ảnh hưởng bởi quang kỳ hay cảm ứng nhiệt dé phân hóa mam hoa. Ở những vùng thuộc vĩ độ 10 — 18° Bắc hay Nam xích đạo thường thấy hoa xuất hiện vào mùa xuân và thu hoạch quả giữa hè đến mùa thu.3 Điều kiện để cây ra hoa 1.1 Quan điểm về sự ra hoa sầu riêng Dua ra quan điềm về sự ra hoa trên cây sau riêng, Salakpetch (2005) cho rang: sầu riêng ra hoa phải thỏa mãn đầy đủ hai yếu tố bên trong và bên ngoài.

Yếu tố bên trong là cung cấp đầy đủ chất đồng hóa và sự cân bằng của các chất điều hòa sinh trưởng và yếu tô bên ngoài chủ yếu là thời gian khô hạn liên tục từ 7 — 14 ngày. Dựa vào khái niệm nay tác giả chia quá trình ra hoa của sầu riêng thành năm giai đoạn: Giai đoạn 1: Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng (vegetative period), cây tạo ra nhiều sản phẩm quang hợp dự trữ cần thiết cho quá trình ra hoa. Thời kỳ này cây sầu riêng được tỉa cành, bón phân, tưới nước đề kích thích cho cây ra nhiều đọt, sinh trưởng mạnh. Lá có khả năng quang hợp tạo ra nguồn dinh dưỡng dự trữ cho quá trình ra hoa.

Giai đoạn 2: Thời kỳ kích thích ra hoa (induction period). Khi có điều kiện khô hạn liên tục thích hợp sẽ tạo ra sự cân băng của các chât điêu hòa sinh trưởng và sự tương tác của những yếu tố này với các chất đồng hóa dự trữ bên trong sẽ gây ra sự kích thích ra hoa. Giai đoạn 3: Thời kỳ cảm ứng, dưới điều kiện kích thích thích hợp, hàng loạt các phan ứng sinh lý và sinh hóa ở cấp phân tử bên trong cây sẽ xảy ra và sẽ khởi mầm hoa bên dưới vỏ của cành cây. Giai đoạn 4: Thời kỳ phân hóa tế bào (cell differentiation period).

Ở cuối giai đoạn nay mâm hoa sẽ xuat hiện, nhà vườn thường gọi là nhú “mat cua”. Giai doan 5: Giai đoạn mam hoa phát triển (bud swell). “Mắt cua” sẽ phát triển thành chùm hoa. Năng lượng được dự trữ ở ở đoạn đầu sẽ được sử dụng liên tục trong quá trình phát triển mầm hoa.2 Sự khô hạn Nhiệt độ và quang kỳ không phải là yếu tô khởi phát hoa trên cây sầu riêng (Janick và Paull, 2008) mà sự khô hạn là yếu tố quang trọng quyết định sự ra hoa sau riêng.

Salakpetch (2005) cũng cho rằng yếu tố ngoại sinh quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự ra hoa của sầu riêng là thời gian khô hạn liên tục trong khoảng từ 7 — 14 ngày (tiềm thé nước trong lá đạt - 0,8 MPa) dé thúc day sự xuất hiện mam hoa trên giống Chanee. Do đòi hỏi phải có sự khô hạn mới ra hoa nên hoa sầu riêng thường xuất hiện trong hoặc gần cuối mùa khô, khi sự sinh trưởng của chỗi đã suy giảm. Nếu mùa khô quá ngắn hay không có mùa khô cây sâu riêng sẽ không ra hoa. Sau khi đã trải qua điều kiện khô hạn, lá sẽ rũ xuống, cây cần được tưới lần đầu với lượng nước tưới tương đương 10 mm (1 mm =1 lít nước trên mỗi m? diện tích tán cây).

Bảy ngày sau khi tưới lần đầu, cây cần được tưới 3 ngày/lần cho đến khi mầm hoa xuất hiện (Salakpetch, 2005). Sau khi xuất hiện, mầm hoa “mắt cua” sầu riêng có thể bị miên trạng nếu gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi như có lượng mưa chỉ 10 mm/ngày (Chandraparmik và ctv, 1992). Hiện tượng miên trạng làm gián đoạn sự phát triển của mầm hoa nhưng vẫn có một số hoa phát triển nên sẽ cho nhiều đợt trái (Janick và Paull, 2008).3 Nhiệt độ và âm độ không khí Janick và Paull (2008), cho rằng nhiệt độ không có vai trò trong việc khởi tạo mam hoa. Tuy nhiên, khi nghiên cứu sự ra hoa của sầu riêng Monthong 6 Darwin, Uc, Lm và Luder (2000) nhận thấy nhiệt độ ban đêm thấp 15 °C có thể gây ra sự ra hoa sau 1— 2 tuần.

Nhiệt độ không khí và âm độ tương đối không khí không những ảnh hưởng lên cây sầu riêng có xử lý hóa chất mà cũng ảnh hưởng lên cây không xử lý hóa chất. Mầm hoa sẽ xuất hiện khi nhiệt độ giảm từ 26 °C — 33 °C xuống 20 °C — 25 °C và âm độ giảm xuống 50 — 70% sẽ xuất hiện mầm hoa. Salakpatch (2005) cũng cho rằng nhiệt độ từ 20 °C — 22 °C, âm độ 50 — 60% là các yêu tố cần thiết cho sự hình thành và phát triển của hoa. Sau khi hoa xuất hiện, nhiệt độ thấp (15 °C, buổi tối) làm cho hoa rụng đối với giống Monthong (Kozai và ctv, 2014) do hoa không được thu tinh.

Mặc dù ống phan vươn dài ra trong vòi nhụy, noãn vẫn không phát triển và ở tình trạng giống như trước khi tiếp nhận ống phan.4 Âm độ đất Am độ dat có vai trò rat quan trọng đôi với sự ra hoa của cây sâu riêng (Ketsa và ctv, 2020), cho rắng âm độ đât giữ vai trò quan trọng đôi với sự ra hoa sâu riêng. Khô hạn 3 — 4 tuần sẽ kích thích sầu riêng ra hoa. Đề đảm bảo sự thành công của quá trình xử lý ra hoa, nông dân thường phủ gốc hay phủ liép bang plastic để làm giảm âm độ ở vùng rễ cây. Mục đích chính của việc phủ plastic là nhằm hạn chế, không cho nước mưa đi vào vùng rễ cây dẫn đến làm tăng độ âm đất.4 Sâu bệnh hại thường gặp trên sầu riêng 1.1 Rép sáp (Planococcus sp.) Rệp sáp cũng là côn trùng gây hại trái non và trái sầu riêng đang phát triển ở Philippines (Morton, 1987).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh hưởng nồng độ 4-CPA Na đến ra hoa đậu trái sầu riêng Monthong tại Đức Linh, Bình Thuận" tập trung nghiên cứu tác động của chất điều hòa sinh trưởng 4-CPA Na lên quá trình ra hoa và đậu trái của giống sầu riêng Monthong. Kết quả cho thấy việc sử dụng 4-CPA Na ở nồng độ phù hợp giúp tăng tỷ lệ ra hoa, đậu trái và cải thiện năng suất cây trồng. Đây là thông tin hữu ích cho nông dân và nhà nghiên cứu trong việc tối ưu hóa quy trình canh tác sầu riêng.

Để mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất cây trồng, bạn có thể tham khảo thêm nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp bón phân kết hợp đến sinh trưởng và năng suất của cây bưởi sửu. Ngoài ra, nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón vi lượng đến sinh trưởng và năng suất ổi Đài Loan cũng cung cấp góc nhìn sâu hơn về vai trò của dinh dưỡng trong canh tác cây ăn trái. Cuối cùng, nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón qua lá đến năng suất đậu tương cũng là tài liệu tham khảo giá trị cho những ai quan tâm đến kỹ thuật bón phân hiệu quả.