Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sầu riêng (Durio zibethinus Murr.) là cây ăn trái nhiệt đới có giá trị kinh tế cao, được ưa chuộng tại các quốc gia Đông Nam Á và là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chính ngạch chủ lực của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc. Trong giai đoạn 2014–2024, diện tích canh tác sầu riêng tại Việt Nam mở rộng nhanh chóng từ vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ lên khu vực Tây Nguyên. Mặc dù mang lại hiệu quả kinh tế lớn, cây sầu riêng đòi hỏi quy trình kỹ thuật canh tác nghiêm ngặt. Trong đó, tình trạng rụng hoa và rụng trái non sinh lý là trở ngại kỹ thuật phổ biến, làm suy giảm nghiêm trọng năng suất và chất lượng thương phẩm. Để hạn chế hiện tượng rụng, người trồng sầu riêng thường sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng như Gibberellic Acid ($GA_3$) hoặc Natri 4-Chlorophenoxyacetate (4-CPA-Na). Tuy nhiên, chi phí sử dụng $GA_3$ tương đối cao, trong khi hoạt chất 4-CPA-Na có tiềm năng kinh tế và hiệu quả sinh lý rõ rệt nhưng chưa được xác định nồng độ xử lý tối ưu tại vùng sinh thái Nam Trung Bộ.

Đề tài "Ảnh hưởng nồng độ Natri 4 – Chlorophenoxyacetate (4 – CPA – Na) đến tỷ lệ ra hoa, đậu trái trên cây sầu riêng Monthong (Durio zibethinus Murr.) tại huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận" được thực hiện nhằm xác định nồng độ 4-CPA-Na phù hợp nhất để kích thích phát triển nụ hoa, tăng tỷ lệ đậu trái và giảm rụng trái non trên giống sầu riêng Monthong.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 3 yêu cầu cụ thể:

  1. Bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo phương pháp khoa học chuẩn tắc.
  2. Thu thập đầy đủ, chính xác và đúng chu kỳ các số liệu, hình ảnh, chỉ tiêu hình thái mầm hoa, động thái rụng và phát triển trái non, cùng tình hình sâu bệnh hại.
  3. Đánh giá hiệu quả sinh học của hoạt chất 4-CPA-Na ở từng mức nồng độ, từ đó đưa ra khuyến cáo kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây sầu riêng giống Monthong (cây ghép 7 năm tuổi, trồng từ năm 2016, đường kính thân trung bình 90 cm, đường kính tán 5,5 m, chiều cao cây 7 m, khoảng cách trồng $8\text{ m} \times 8\text{ m}$, không trồng xen, bắt đầu cho thu hoạch từ năm 2021).
  • Phạm vi không gian: Vườn sầu riêng tại xã Đạ Kai, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 11 năm 2023 đến tháng 3 năm 2024.
  • Giới hạn đề tài: Hoạt chất 4-CPA-Na được phun 4 lần từ giai đoạn xuất hiện "mắt cua" đến khi hoa xổ nhụy (chu kỳ 15 ngày/lần); các chỉ tiêu phát triển và tỷ lệ rụng trái được theo dõi trong 60 ngày đầu sau khi đậu trái (NSĐT). Đề tài không đánh giá năng suất tổng kết và phẩm chất thương phẩm của trái sầu riêng ở giai đoạn thu hoạch chín.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý thuyết sinh lý học thực vật và các nghiên cứu chuyên sâu về quy trình xử lý ra hoa, đậu trái trên cây ăn trái thân gỗ:

  • Cơ chế ra hoa của cây sầu riêng: Dựa trên quan điểm của Salakpetch (2005) và Janick & Paull (2008), quá trình ra hoa trải qua 5 giai đoạn: sinh trưởng dinh dưỡng, kích thích ra hoa, cảm ứng mầm hoa, phân hóa tế bào (nhú mắt cua) và phát triển mầm hoa (phát triển chùm nụ). Yếu tố ngoại sinh quyết định là thời gian khô hạn liên tục từ 7–14 ngày (tiềm thế nước trong lá đạt -0,8 MPa), kết hợp điều kiện nhiệt độ không khí $20–22\text{ }^\circ\text{C}$ và độ ẩm không khí $50–60%$.
  • Đặc tính hoạt chất Natri 4-Chlorophenoxyacetate (4-CPA-Na): Công thức phân tử $C_8H_6ClNaO_3$, điểm sôi $315,2\text{ }^\circ\text{C}$ ở $760\text{ mmHg}$. Độc tính cấp tính qua đường miệng trên chuột thử nghiệm có $LD_{50} = 3735\text{ mg/kg}$ và $LC_{50} = 1788\text{ mg/kg}$. Hoạt chất này thuộc nhóm chất kích thích sinh trưởng thực vật nhóm auxin tổng hợp, có chức năng hạn chế hình thành tầng rời ở cuống hoa và cuống trái non, kích thích phân chia tế bào làm to trái, giảm tỷ lệ rụng và nâng cao tỷ lệ đậu trái.
  • Tổng quan nghiên cứu liên quan: Kế thừa kết quả ứng dụng 4-CPA-Na trên sầu riêng của Phạm Minh Nhật (2023) tại Bình Phước (nồng độ tối ưu 10 ppm), Lâm Bảo Hòa (2024) tại Tiền Giang (nồng độ tối ưu 5 ppm), cùng các nghiên cứu xử lý ức chế sinh trưởng và ra hoa nghịch vụ bằng Paclobutrazol kết hợp xiết nước của Trần Văn Hâu et al. (1999, 2001, 2005) và Mai Văn Trị et al. (2011).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng:

  • Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đơn yếu tố được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design – RCBD) gồm 5 nghiệm thức và 3 lần lặp lại (15 ô cơ sở, mỗi ô cơ sở gồm 3 cây, tổng quy mô 45 cây thí nghiệm).
  • Các mức nghiệm thức:
    • NT1 (Đối chứng - ĐC): Phun nước lã ($0,0\text{ ppm}$).
    • NT2: Phun 4-CPA-Na nồng độ $7,5\text{ ppm}$.
    • NT3: Phun 4-CPA-Na nồng độ $10,0\text{ ppm}$.
    • NT4: Phun 4-CPA-Na nồng độ $12,5\text{ ppm}$.
    • NT5: Phun 4-CPA-Na nồng độ $15,0\text{ ppm}$.
  • Quy trình phun: Pha hoạt chất theo từng nồng độ, phun ướt đều với dung tích 10 lít dung dịch/cây. Phun lần đầu khi cây nhú mắt cua và định kỳ 15 ngày/lần cho đến khi xổ nhụy (tổng cộng 4 lần phun).
  • Chỉ tiêu theo dõi:
    • Chỉ tiêu phát triển mầm hoa (đo trên 4 cành cấp 1 theo 4 hướng, đoạn cành dài 1 m, định kỳ 10 ngày/lần từ 10 đến 40 ngày sau xuất hiện nụ - NSXHN): Số nụ/cành, số nụ rụng/cành, tỷ lệ rụng nụ (%), chiều dài nụ (cm), đường kính nụ (cm), đường kính cuống nụ (cm). Tại thời điểm 50 NSXHN: Số hoa nở/cành, tỷ lệ hoa nở (%), đường kính cuống hoa (cm).
    • Chỉ tiêu phát triển trái (đo định kỳ 15 ngày/lần từ 15 đến 60 ngày sau đậu trái - NSĐT): Số trái/cành, số trái rụng/cành, tỷ lệ rụng trái (%), chiều dài trái (cm), đường kính trái (cm), đường kính cuống trái (cm), tổng số trái còn lại/cây tại 60 NSĐT.
    • Chỉ tiêu sâu bệnh hại: Đánh giá tỷ lệ trái bị hại bởi rệp sáp (Planococcus sp.) tại thời điểm 60 NSĐT.
  • Nguồn dữ liệu và phân tích thống kê:
    • Mẫu đất phân tích lý hóa bởi Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường (Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM).
    • Số liệu khí tượng do Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Trung Bộ cung cấp.
    • Xử lý số liệu: Nhập liệu trên Microsoft Excel 2016; phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định phân hạng Duncan ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ và $\alpha = 0,01$ bằng phần mềm RStudio 4.2.

Nội dung chính theo từng chương

Giới thiệu

Chương này làm rõ vị thế kinh tế của cây sầu riêng Monthong tại vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, chỉ ra mâu thuẫn giữa nhu cầu mở rộng diện tích với các rủi ro kỹ thuật trong giai đoạn ra hoa đậu trái do thời tiết khô hạn và hiện tượng rụng sinh lý. Tác giả luận giải việc lựa chọn hoạt chất 4-CPA-Na làm giải pháp thay thế có hiệu quả kinh tế so với $GA_3$, đồng thời thiết lập mục tiêu, giới hạn nghiên cứu cụ thể trên vườn cây 7 năm tuổi tại xã Đạ Kai, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn từ tháng 11/2023 đến tháng 3/2024.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các tài liệu khoa học về cây sầu riêng (Durio zibethinus Murr., bộ Malvales, họ Malvaceae / Bombacaceae), đặc điểm bộ rễ nấm phân bố ở tầng đất $0–50\text{ cm}$, đặc điểm hoa lưỡng tính mọc thành chùm trên cành lớn và cơ chế thụ phấn ban đêm nhờ côn trùng và dơi. Chương này phân tích chi tiết các yêu cầu sinh thái: Nhiệt độ thích hợp $24–30\text{ }^\circ\text{C}$, ẩm độ $75–80%$, lượng mưa $2000–3000\text{ mm/năm}$; phân tích 5 giai đoạn phát triển hoa theo Salakpetch (2005) và vai trò của khô hạn 7–14 ngày. Đồng thời, tác giả tổng thuật thông tin về dịch hại chính gồm rệp sáp (Planococcus sp.) và nấm Phytophthora palmivora, lý tính - độc học của 4-CPA-Na, cùng các công trình nghiên cứu sử dụng chất điều hòa sinh trưởng của Trần Văn Hâu, Mai Văn Trị, Phạm Minh Nhật (2023) và Lâm Bảo Hòa (2024).

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả điều kiện tự nhiên tại điểm nghiên cứu (xã Đạ Kai, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận). Kết quả phân tích thổ nhưỡng (mẫu 24N104) cho thấy đất thuộc nhóm đất sét có thành phần cơ giới nặng: Sét $63,76%$, thịt $18,15%$, cát mịn $13,41%$, cát thô $4,68%$; độ chua cao ($pH_{H_2O} = 4,85$; $pH_{KCl} = 3,80$); $CEC = 17,83\text{ Cmol}^+/\text{kg}$; đạm tổng số $0,20%$, lân tổng số $0,26%$, kali tổng số $0,13%$; đạm dễ tiêu $3,02\text{ mg/100g}$, lân dễ tiêu $1,17\text{ mg/100g}$, kali dễ tiêu $20,44\text{ mg/100g}$.

Dữ liệu khí tượng từ tháng 11/2023 đến tháng 2/2024 ghi nhận nền nhiệt độ trung bình dao động $27,97–28,90\text{ }^\circ\text{C}$ (cao nhất $38,00\text{ }^\circ\text{C}$, thấp nhất $21,70\text{ }^\circ\text{C}$), ẩm độ trung bình $64–76%$, tổng giờ nắng đạt $187,80–241,20\text{ giờ/tháng}$. Lượng mưa rất thấp (tháng 11/2023 đạt $70,7\text{ mm}$, tháng 12/2023 chỉ đạt $6,0\text{ mm}$, tháng 1 và 2/2024 đạt $0\text{ mm}$), gây áp lực hạn hán gay gắt cho quá trình nuôi hoa và giữ trái non.

Chương này cũng thuyết minh chi tiết quy trình canh tác đồng bộ gồm các loại phân bón (Lân super TKT, Hữu cơ Organic VT, NPK 20-20-15 Nhật Mỹ, DAP 18-46-0 Quốc Huy, F6-Siêu ra hoa bung mắt cua, F2 SAGIKO) và thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ dịch hại (Movento 150 OD - hoạt chất Spirotetramat $150\text{ g/L}$; Sumi-alpha 5EC - hoạt chất Esfenvalerate $50\text{ g/L}$). Sơ đồ thí nghiệm RCBD với 15 ô cơ sở (45 cây) và công thức tính toán các chỉ tiêu hình thái hoa, trái, sâu hại được trình bày tường minh.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm qua hệ thống bảng biểu và phân tích thống kê ANOVA:

1. Ảnh hưởng của 4-CPA-Na đến sự phát triển nụ hoa:

  • Số nụ và tỷ lệ rụng nụ: Tại 10 NSXHN, số nụ giữa các nghiệm thức chưa có sự khác biệt thống kê ($F = 3,15^{ns}$), dao động từ 132,85 nụ (ĐC) đến 156,88 nụ (NT4). Đến 40 NSXHN, sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê cao ($F = 8,63^{}$ đối với số nụ và $F = 7,86^{}$ đối với tỷ lệ rụng): NT4 (12,5 ppm) duy trì số nụ cao nhất với 123,67 nụ/cành và tỷ lệ rụng nụ thấp nhất ($21,12%$), vượt trội so với đối chứng NT1 (65,92 nụ/cành, tỷ lệ rụng lên tới $50,66%$).
  • Kích thước nụ hoa: Tại 40 NSXHN, chiều dài nụ ở NT4 đạt giá trị lớn nhất là 2,22 cm (khác biệt có ý nghĩa ở mức $\alpha = 0,05$ so với ĐC đạt 1,81 cm). Đường kính nụ tại 40 NSXHN ở NT4 đạt 1,53 cm (ĐC đạt 1,25 cm). Đường kính cuống nụ ở NT4 đạt 0,52 cm (ĐC đạt 0,44 cm).
  • Nở hoa (50 NSXHN): Số hoa nở ở NT4 đạt cao nhất với 117,75 hoa/cành (khác biệt rất có ý nghĩa thống kê $F = 12,00^{**}$ so với ĐC chỉ đạt 53,00 hoa/cành). Tỷ lệ hoa nở ở các nghiệm thức có xử lý 4-CPA-Na dao động từ $94,79%$ đến $95,92%$, cao hơn có ý nghĩa so với đối chứng ($80,51%$). Đường kính cuống hoa tại NT4 đạt lớn nhất (0,63 cm so với ĐC là 0,52 cm).

2. Ảnh hưởng của 4-CPA-Na đến sinh trưởng và phát triển trái non:

  • Số trái và tỷ lệ rụng trái: Tại 15 NSĐT, NT4 đạt số trái cao nhất với 73,33 trái/cành (gấp 1,94 lần so với ĐC đạt 37,83 trái/cành, $F = 12,40^{}$). Đến 60 NSĐT, số trái còn lại trên cành ở NT4 đạt 16,37 trái/cành (khác biệt rất có ý nghĩa thống kê $F = 17,42^{*}$ so với ĐC chỉ còn 6,28 trái/cành). Tỷ lệ rụng trái tại 60 NSĐT ở NT4 là $77,75%$ trong khi đối chứng rụng $82,17%$.
  • Kích thước trái qua các giai đoạn: Tại thời điểm 60 NSĐT, chiều dài trái ở NT4 đạt 22,58 cm (vượt trội có ý nghĩa so với ĐC đạt 18,29 cm); đường kính trái ở NT4 đạt 16,76 cm (so với ĐC đạt 13,34 cm); đường kính cuống trái ở NT4 đạt 1,67 cm (so với ĐC đạt 1,45 cm).

3. Tình hình sâu bệnh hại (Rệp sáp tại 60 NSĐT): Kết quả ghi nhận mật số rệp sáp (Planococcus sp.) thấp và có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức ($F = 8,87^{**}$). NT4 (12,5 ppm) có số trái bị hại thấp nhất (1,00 trái/cây) tương ứng tỷ lệ rệp sáp hại là $1,78%$, trong khi nghiệm thức đối chứng NT1 có số trái bị hại cao nhất (2,59 trái/cây) với tỷ lệ rệp sáp lên tới $6,50%$.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã xác lập bộ dữ liệu thực nghiệm so sánh tác động của các mức nồng độ 4-CPA-Na đến các chỉ tiêu nông học cốt lõi trên giống sầu riêng Monthong:

Chỉ tiêu theo dõi Nghiệm thức 1 (ĐC: 0,0 ppm) Nghiệm thức 4 (12,5 ppm) Mức ý nghĩa thống kê ($F$ tính)
Số nụ/cành tại 40 NSXHN (nụ) 65,92 123,67 $8,63^{**}$
Tỷ lệ rụng nụ tại 40 NSXHN (%) 50,66 21,12 $7,86^{**}$
Chiều dài nụ tại 40 NSXHN (cm) 1,81 2,22 $4,17^{*}$
Đường kính nụ tại 40 NSXHN (cm) 1,25 1,53 $4,16^{*}$
Đường kính cuống nụ tại 40 NSXHN (cm) 0,44 0,52 $3,03^{ns}$
Số hoa nở tại 50 NSXHN (hoa/cành) 53,00 117,75 $12,00^{**}$
Tỷ lệ hoa nở tại 50 NSXHN (%) 80,51 95,26 $4,27^{*}$
Đường kính cuống hoa tại 50 NSXHN (cm) 0,52 0,63 $3,48^{*}$
Số trái/cành tại 15 NSĐT (trái) 37,83 73,33 $12,40^{**}$
Số trái/cành tại 60 NSĐT (trái) 6,28 16,37 $17,42^{***}$
Tỷ lệ rụng trái tại 60 NSĐT (%) 82,17 77,75 $1,11^{ns}$
Chiều dài trái tại 60 NSĐT (cm) 18,29 22,58 $4,31^{*}$
Đường kính trái tại 60 NSĐT (cm) 13,34 16,76 $4,78^{*}$
Đường kính cuống trái tại 60 NSĐT (cm) 1,45 1,67 $3,34^{ns}$
Số trái bị rệp sáp hại/cây tại 60 NSĐT (trái) 2,59 1,00 $6,22^{*}$
Tỷ lệ trái bị rệp sáp hại tại 60 NSĐT (%) 6,50 1,78 $8,87^{**}$

Ghi chú thống kê: $^{ns}$: Khác biệt không có ý nghĩa thống kê; $^{}$: Khác biệt có ý nghĩa ở mức $\alpha = 0,05$; $^{}$: Khác biệt rất có ý nghĩa ở mức $\alpha = 0,01$; $^{}$: Khác biệt rất có ý nghĩa ở mức $\alpha = 0,001$.

Giải pháp và khuyến nghị tác giả đề xuất:

  • Khuyến nghị ứng dụng hoạt chất Natri 4-Chlorophenoxyacetate (4-CPA-Na) ở nồng độ 12,5 ppm cho vườn sầu riêng Monthong tại xã Đạ Kai, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Phun định kỳ 4 lần cách nhau 15 ngày kể từ khi nhú mắt cua cho đến khi xổ nhụy với liều lượng 10 lít nước/cây.
  • Đề xuất bổ sung vôi và phân bón vi lượng cho đất canh tác nhằm nâng độ pH từ 4,85 lên ngưỡng thích hợp ($5,5–6,5$), tăng cường khả năng hấp thu dinh dưỡng của bộ rễ nấm.
  • Tiếp tục theo dõi thí nghiệm trên cây sầu riêng đến giai đoạn thu hoạch chín để đánh giá đầy đủ các chỉ tiêu năng suất thực tế và hiệu quả kinh tế (tỷ suất lợi nhuận).

Đóng góp của đề tài:

  • Bổ sung dữ liệu thực nghiệm về nồng độ tối ưu của 4-CPA-Na trên giống sầu riêng Monthong tại tiểu vùng khí hậu Nam Trung Bộ (huyện Đức Linh, Bình Thuận). Kết quả nghiên cứu chỉ ra nồng độ thích hợp tại khu vực này là 12,5 ppm, có sự khác biệt rõ rệt so với kết quả nghiên cứu tại tỉnh Bình Phước (10 ppm theo Phạm Minh Nhật, 2023) và tỉnh Tiền Giang (5 ppm theo Lâm Bảo Hòa, 2024), chứng minh phản ứng của cây trồng đối với chất điều hòa sinh trưởng ngoại sinh phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm thổ nhưỡng và diễn biến thời tiết của từng vùng sinh thái canh tác.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Thí nghiệm dừng lại ở mốc 60 ngày sau đậu trái nên chưa thu thập được số liệu về tổng năng suất thu hoạch cuối vụ (kg/cây hoặc tấn/ha); chưa đánh giá các chỉ tiêu về phẩm chất thịt trái (độ brix, độ dày cơm, tỷ lệ múi lép, màu sắc và hiện tượng sượng cơm); chưa thực hiện hạch toán chi phí đầu tư và phân tích hiệu quả kinh tế so sánh giữa việc dùng 4-CPA-Na và các chất điều hòa sinh trưởng khác như $GA_3$. Ngoài ra, thí nghiệm mới thực hiện trong một mùa vụ duy nhất (2023–2024) trên cây sầu riêng 7 năm tuổi.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi toàn diện thí nghiệm qua giai đoạn trái phát triển hoàn toàn đến khi thu hoạch; phân tích các chỉ tiêu sinh hóa phẩm chất trái thương phẩm; thực hiện hạch toán kinh tế nông hộ; mở rộng thử nghiệm trên các độ tuổi cây khác nhau và đánh giá tính ổn định qua nhiều vụ mùa liên tiếp tại vùng Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp này mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực nông nghiệp:

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Bảo vệ Thực vật, Làm vườn; cán bộ kỹ thuật tại các Trung tâm Khuyến nông địa phương và các chủ trang trại canh tác sầu riêng thương phẩm.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Quy trình thiết kế và bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) trên cây ăn trái thân gỗ lâu năm.
    • Bộ số liệu phân tích lý hóa đất canh tác sầu riêng và dữ liệu khí tượng chi tiết tại huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận trong mùa khô hạn.
    • Phương pháp theo dõi, đo đạc định kỳ các chỉ tiêu hình thái nụ hoa, kích thước và động thái rụng trái non bằng thước kẹp cơ học và phân tích thống kê ANOVA/Duncan bằng ngôn ngữ R (RStudio).
    • Quy trình kỹ thuật phun xử lý 4-CPA-Na liều lượng 12,5 ppm nhằm giảm rụng hoa và trái non sinh lý trong điều kiện thời tiết khô hạn.

Câu hỏi thường gặp

1. Nồng độ Natri 4-Chlorophenoxyacetate (4-CPA-Na) nào mang lại hiệu quả sinh học tối ưu nhất trong nghiên cứu này?
Nồng độ $12,5\text{ ppm}$ (Nghiệm thức 4) cho hiệu quả cao nhất trên tất cả các chỉ tiêu theo dõi: Chiều dài nụ đạt 2,22 cm; đường kính nụ 1,53 cm; tỷ lệ hoa nở đạt $95,26%$ với 117,75 hoa/cành; số trái giữ lại ở 60 NSĐT đạt cao nhất (16,37 trái/cành) và tỷ lệ rụng trái non thấp nhất ($77,75%$).

2. Thí nghiệm được bố trí theo mô hình nào và quy mô nghiên cứu cụ thể ra sao?
Thí nghiệm đơn yếu tố được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) gồm 5 nghiệm thức nồng độ ($0,0\text{ ppm}$; $7,5\text{ ppm}$; $10,0\text{ ppm}$; $12,5\text{ ppm}$; $15,0\text{ ppm}$) với 3 lần lặp lại. Tổng cộng có 15 ô cơ sở, mỗi ô cơ sở gồm 3 cây, tổng quy mô thí nghiệm là 45 cây sầu riêng Monthong 7 năm tuổi.

3. Điều kiện đất đai và thời tiết tại vườn thí nghiệm ở Đức Linh, Bình Thuận có đặc điểm gì?
Đất thí nghiệm là đất sét có thành phần cơ giới nặng (sét chiếm $63,76%$), độ chua cao ($pH_{H_2O} = 4,85$), $CEC = 17,83\text{ Cmol}^+/\text{kg}$. Thời tiết trong thời gian thí nghiệm (11/2023–02/2024) có nhiệt độ trung bình $27,97–28,90\text{ }^\circ\text{C}$, tổng giờ nắng $187,80–241,20\text{ giờ/tháng}$, độ ẩm $64–76%$ và lượng mưa rất thấp (tháng 1 và 2/2024 lượng mưa bằng $0\text{ mm}$), gây tình trạng thiếu nước và khô hạn nặng.

4. Vì sao nồng độ 4-CPA-Na tối ưu trong khóa luận này lại khác với các nghiên cứu trước ở Bình Phước và Tiền Giang?
Nghiên cứu của Phạm Minh Nhật (2023) tại Bình Phước xác định nồng độ tối ưu là $10\text{ ppm}$, trong khi Lâm Bảo Hòa (2024) tại Tiền Giang là $5\text{ ppm}$. Trong nghiên cứu này tại Đức Linh, Bình Thuận, nồng độ tối ưu là $12,5\text{ ppm}$ do điều kiện thời tiết tại Bình Thuận có thời gian nắng nóng kéo dài, lượng mưa thấp ($0\text{ mm}$ trong tháng 1–2/2024) và chất đất sét có $pH$ thấp (4,85), đòi hỏi nồng độ chất điều hòa sinh trưởng cao hơn để kích thích mầm hoa và duy trì cuống trái non.

5. Hoạt chất 4-CPA-Na ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ rệp sáp gây hại trên trái tại thời điểm 60 ngày sau đậu trái?
Xử lý 4-CPA-Na nồng độ $12,5\text{ ppm}$ (NT4) giúp giảm tỷ lệ rệp sáp gây hại xuống mức thấp nhất là $1,78%$ với số trái bị hại trung bình là $1,00\text{ trái/cây}$, khác biệt có ý nghĩa thống kê ($F = 8,87^{**}$) so với nghiệm thức đối chứng không xử lý (NT1) có tỷ lệ hại $6,50%$ và $2,59\text{ trái bị hại/cây}$.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Ngô Hoàng Trinh đã xác định được nồng độ Natri 4-Chlorophenoxyacetate (4-CPA-Na) tối ưu là 12,5 ppm trong việc kích thích phát triển nụ hoa, gia tăng tỷ lệ hoa nở ($95,26%$), tăng kích thước trái và giảm tỷ lệ rụng trái non trên giống sầu riêng Monthong 7 năm tuổi tại huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Kết quả thực nghiệm tại thời điểm 60 ngày sau đậu trái ghi nhận nghiệm thức 12,5 ppm giữ được 16,37 trái/cành (so với đối chứng chỉ đạt 6,28 trái/cành) và hạn chế đáng kể tỷ lệ trái bị rệp sáp gây hại. Đây là cơ sở thực nghiệm quan trọng hỗ trợ nhà vườn tại vùng sinh thái Nam Trung Bộ lựa chọn nồng độ chất điều hòa sinh trưởng phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả giữ trái sầu riêng trong điều kiện mùa khô hạn.