Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của lipid trong thức ăn chế biến lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cua biển scylla paramamosain estampador 1949

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của lipid trong thức ăn chế biến lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cua biển Scylla paramamosain.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
155
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Nội dung nghiên cứu

1.4. Ý nghĩa của nghiên cứu

1.5. Điểm mới của luận án

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Hiện trạng sản xuất giống cua biển

2.2. Đặc điểm sinh học của cua biển

2.2.1. Đặc điểm phân loại

2.2.2. Đặc điểm phân bố

2.2.3. Vòng đời

2.2.4. Đặc điểm hình thái các giai đoạn của ấu trùng cua biển (Scylla sp.)

2.2.5. Chu kỳ sống của các loài cua biển

2.2.6. Đặc điểm sinh trưởng

2.2.7. Đặc điểm dinh dưỡng

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Cua biển (Scylla spp.) là một trong những nguồn hải sản quan trọng ở khu vực Đông Nam Á, có giá trị kinh tế cao và góp phần tăng sản lượng nuôi trồng thủy sản ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Philippines, Việt Nam. Loài Scylla paramamosain là đối tượng thủy sản nước lợ quan trọng ở Việt Nam, đặc biệt là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) do kích thước lớn, tăng trưởng nhanh và thích ứng tốt với vùng nuôi bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn. Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của lipid trong thức ăn chế biến lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cua biển Scylla paramamosain, nhằm tối ưu hóa quy trình sản xuất giống và giảm chi phí sản xuất.

1.1 Đặt vấn đề

Cua biển (Scylla spp.) là một trong những nguồn hải sản quan trọng ở khu vực Đông Nam Á, có giá trị kinh tế cao và góp phần tăng sản lượng nuôi trồng thủy sản ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Philippines, Việt Nam. Loài Scylla paramamosain là đối tượng thủy sản nước lợ quan trọng ở Việt Nam, đặc biệt là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) do kích thước lớn, tăng trưởng nhanh và thích ứng tốt với vùng nuôi bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn. Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của lipid trong thức ăn chế biến lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cua biển Scylla paramamosain, nhằm tối ưu hóa quy trình sản xuất giống và giảm chi phí sản xuất.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm xác định hàm lượng lipidnguồn lipid thích hợp bổ sung vào thức ăn chế biến, chế độ cho ăn phù hợp ương ấu trùng cua biển từ giai đoạn zoea 3 đến cua 1. Từ đó làm cơ sở phát triển công thức thức ăn chế biến ứng dụng vào thực tế sản xuất để ương cua Scylla paramamosain từ zoea 3 đến cua giống, chủ động nguồn thức ăn trong sản xuất giống.

1.3 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu bao gồm bốn nội dung chính: (1) Khảo sát khía cạnh kỹ thuật và sử dụng thức ăn trong sản xuất giống cua Scylla paramamosain ở ĐBSCL; (2) Ảnh hưởng của việc bổ sung lipid vào thức ăn chế biến ương ấu trùng cua biển; (3) Khả năng thay thế ấu trùng Artemia bằng thức ăn chế biến; (4) Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào quy mô sản xuất.

II. Tổng quan tài liệu

Cua biển (Scylla spp.) là một trong những loài giáp xác quan trọng trong nuôi trồng thủy sản ở các nước vùng Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương và ở Việt Nam. Nghề sản xuất giống và nuôi cua biển thương phẩm phát triển khá nhanh ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL. Các trại sản xuất giống cua biển ở ĐBSCL đã cung cấp nguồn giống khá lớn và góp phần thúc đẩy nghề nuôi cua thương phẩm phát triển.

2.1 Hiện trạng sản xuất giống cua biển

Nghề sản xuất giống và nuôi cua biển thương phẩm phát triển khá nhanh ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL. Các trại sản xuất giống cua biển ở ĐBSCL đã cung cấp nguồn giống khá lớn và góp phần thúc đẩy nghề nuôi cua thương phẩm phát triển. Kỹ thuật sản xuất giống cua biển ở ĐBSCL đã được cải tiến, với việc sử dụng thức ăn tươi sống (Artemia) kết hợp với thức ăn nhân tạo trong quá trình ương nuôi.

2.2 Đặc điểm sinh học của cua biển

Cua biển (Scylla spp.) có vòng đời phức tạp, bao gồm các giai đoạn ấu trùng, cua con, tiền trưởng thành và trưởng thành. Sự tăng trưởng của cua thông qua quá trình lột xác, phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng và môi trường. Cua biển có tập tính trú ẩn vào ban ngày và kiếm ăn vào ban đêm, với nhu cầu thức ăn khá lớn.

III. Ảnh hưởng của lipid trong thức ăn chế biến

Lipid là một trong những thành phần dinh dưỡng thiết yếu trong thức ăn chế biến cho ấu trùng cua biển. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định hàm lượng lipidnguồn lipid thích hợp để bổ sung vào thức ăn chế biến, nhằm tối ưu hóa quá trình sinh trưởngtỉ lệ sống của ấu trùng cua biển Scylla paramamosain.

3.1 Ảnh hưởng của việc bổ sung lipid

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hàm lượng lipid trong thức ăn chế biến có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởngtỉ lệ sống của ấu trùng cua biển. Việc bổ sung lipid với hàm lượng phù hợp giúp cải thiện quá trình biến thái và tăng trưởng của ấu trùng cua biển.

3.2 Ảnh hưởng của các nguồn dầu

Nghiên cứu cũng xác định rằng nguồn lipid sử dụng trong thức ăn chế biến có ảnh hưởng đến hiệu quả dinh dưỡng. Các nguồn dầu khác nhau có thể ảnh hưởng đến sinh trưởngtỉ lệ sống của ấu trùng cua biển, do đó cần lựa chọn nguồn dầu phù hợp để đạt hiệu quả tối ưu.

IV. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về hàm lượng lipidnguồn lipid phù hợp trong thức ăn chế biến cho ấu trùng cua biển Scylla paramamosain có ý nghĩa thực tiễn lớn. Nghiên cứu này giúp các nhà sản xuất chủ động nguồn thức ăn trong sản xuất giống, giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế.

4.1 Ứng dụng trong sản xuất giống

Kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng vào quy mô sản xuất, giúp các trại sản xuất giống cua biển chủ động nguồn thức ăn và giảm sự phụ thuộc vào thức ăn tươi sống. Điều này góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống cua biển đạt hiệu quả kinh tế cao.

4.2 Giảm chi phí sản xuất

Việc sử dụng thức ăn chế biến thay thế một phần thức ăn tươi sống giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất, đặc biệt là chi phí cho Artemia. Điều này mang lại lợi ích kinh tế lớn cho các trại sản xuất giống cua biển.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cua biển (Scylla spp.) là một trong những nguồn hải sản quan trọng ở khu vực Đông Nam Á, có giá trị kinh tế cao và góp phần tăng sản lượng nuôi trồng thủy sản ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Philippines, Việt Nam (Shelley & Lovatelli, 2011). Loài cua biển (Scylla paramamosain) là đối tượng thủy sản nước lợ quan trọng ở nước ta nói chung, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng do loài này có kích thước lớn, tăng trưởng nhanh và rộng muối nên thích ứng tốt với vùng nuôi bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn (Petersen et al., 2013; Trần Ngọc Hải và Lê Quốc Việt, 2017). Những năm gần đây, với sự rủi ro cao trong nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng do dịch bệnh, các mô hình nuôi cua biển kết hợp với tôm trong các ao nuôi quảng canh cải tiến (Nguyễn Thị Ngọc Anh và ctv., 2019) hoặc cua biển luân canh với tôm và mô hình tôm-cua- rừng đang được áp dụng phổ biến ở các tỉnh ven biển ĐBSCL như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Trà Vinh (Bộ NN&PTNT, 2015). Theo quy hoạch của Bộ NN&PTNT (2009), đến năm 2020 diện tích nuôi cua nước mặn, lợ ở nước ta đạt 620.000 ha, nhu cầu con giống để cung cấp cho nuôi cua thương phẩm là 572 triệu con.

Điều này cho thấy số lượng cua giống để phát triển nghề nuôi cua thương phẩm là rất lớn. Vì thế, sản xuất giống nhân tạo cua biển phát triển nhanh ở ĐBSCL từ nhiều năm qua để chủ động cung cấp cua giống cho nuôi thương phẩm (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009 ; Trần Ngọc Hải và ctv. Trong ương nuôi ấu trùng cua biển, thức ăn tươi sống (Rotifer và Artemia) đóng vai trò rất quan trọng, được sử dụng trong suốt đợt ương nuôi. Tuy nhiên, thức ăn tươi sống thiếu một số acid béo thiết yếu cần phải được giàu hóa trước khi cho ăn (Truong Trong Nghia, et al., 2007) và có khả năng truyền bệnh cho ấu trùng cua (Homle, 2006), đồng thời chi phí thức ăn tươi sống (Artemia) có giá cao, chiếm hơn 50% tổng chi phí sản xuất (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh 1 Phương 2009 ; Shelley and Lovatelli, 2011).

Vì thế, đã có một vài nghiên cứu về sử dụng thức ăn nhân tạo thay thế một phần thức ăn tươi sống trong ương ấu trùng cua biển được thực hiện nhằm giảm sự phụ thuộc nguồn thức ăn tươi sống để ứng dụng vào quy mô thương mại góp phần giảm giá thành sản xuất (Holme et al., 2009; Hassan, et al., 2011; Shelley and Lovatelli, 2011). Ở Việt Nam, sản xuất giống nhân tạo cua biển loài (S. paramamosain) đã thành công và thương mại hóa từ nhiều năm qua, trong đó sử dụng ấu trùng Artemia làm nguồn thức ăn tươi sống kết hợp với thức ăn nhân tạo (Lansy, Frippak) trong suốt chu kỳ ương nuôi (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009; Trần Ngọc Hải và ctv. Tuy nhiên, thức ăn nhân tạo chất lượng cao được sử dụng cho ấu trùng cua biển là loại thức ăn có sẵn trên thị trường chuyên dùng cho ấu trùng tôm biển như Lansy, Frippak có thể không phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng cho ấu trùng cua biển.

Nhiều nghiên cứu khẳng định nhu cầu dinh dưỡng của động vật thủy sản khác nhau theo loài và giai đoạn phát triển (Smith et al., 2003; Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009). Đối với thức ăn chế biến, hàm lượng lipid, nguồn lipid, phospholipid và cholesterol là chất dinh dưỡng thiết yếu trong thức ăn, đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của cá và giáp xác (Coutteau et al., 1997; Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009). Nghiên cứu trước nhận thấy loài cua biển (S. serrata) ở giai đoạn ấu trùng và cua con sử dụng tốt thức ăn chế biến, tuy nhiên nếu thức ăn chế biến có hàm lượng lipid và thành phần lipid (nguồn lipid, lecithin, cholesterol) không đáp ứng nhu cầu hoặc vượt nhu cầu đều ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của ấu trùng cua như sự biến thái không đồng đều, cua con bị bẫy lột xác (lột xác không hoàn toàn), giảm tăng trưởng và tỉ lệ sống dẫn đến giảm hiệu quả sản xuất (Sheen and Wu 1999; Catacutan 2002; Holme et al., 2009; Suprayudi, et al., 2012a,b), Tương tự, đối với loài ghẹ xanh (Portunus pelagicus) giai đoạn giống (Noordin, et al.

Cho đến nay, các nghiên cứu chỉ thực hiện ở một giai đoạn phát triển của ấu trùng cua với sự bổ sung một số chất dinh dưỡng đơn thuần trên loài cua S. Xuất phát từ thực tế, đề tài ‟Ảnh hưởng của lipid trong thức ăn chế biến lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cua biển (Scylla paramamosain)ˮ được thực hiện.2 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu nhằm xác định được hàm lượng lipid và nguồn lipid thích hợp bổ sung vào thức ăn chế biến, chế độ cho ăn phù hợp ương ấu trùng cua biển từ giai đoạn zoea 3 đến cua 1. Từ đó làm cơ sở phát triển công thức thức ăn chế biến ứng dụng vào thực tế sản xuất để ương cua S. paramamosain từ zoea 3 đến cua giống, chủ động nguồn thức ăn trong sản xuất giống 1.3 Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Khảo sát khía cạnh kỹ thuật và sử dụng thức ăn trong sản xuất giống cua S.

paramamosain ở Đồng bằng sông Cửu Long Nội dung 2: Ảnh hưởng của việc bổ sung Lipid vào thức ăn chế biến ương ấu trùng cua S. paramamosain từ giai đoạn zoea 3 đến cua 1. (i) Ảnh hưởng của việc bổ sung lipid vào thức ăn ương ấu trùng cua biển. (ii) Ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn dầu trong thức ăn ương ấu trùng cua biển.

(iii) Ảnh hưởng của việc bổ sung lecithin trong thức ăn ương ấu trùng cua biển. (iv) Ảnh hưởng của việc bổ sung cholesterol trong thức ăn ương ấu trùng cua biển. Nội dung 3: Khả năng thay thế ấu trùng Artemia bằng thức ăn chế biến ương ấu trùng cua biển S. paramamosain từ giai đoạn zoea 3 đến cua 1.

Nội dung 4: Ứng dụng kết quả nghiên cứu thức ăn chế biến ương ấu trùng cua biển S. paramamosain ở qui mô sản xuất. Ý nghĩa của nghiên cứu Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu cung cấp những dẫn liệu khoa học về hàm lượng lipid, nguồn lipid, hàm lượng cholesterol và lecithin thích hợp được sử dụng trong chế biến thức ăn cho cho ấu trùng cua biển (S. 3 Ý nghĩa thực tiễn: Với mục tiêu nghiên cứu tập trung theo hướng ứng dụng nên kết quả nghiên cứu rất có ý nghĩa về ứng dụng thực tiễn.

Kết quả nghiên cứu về nguồn lipid và cholesterol và lecithin phù hợp trong xây dựng và phát triển công thức thức ăn cho ấu trùng cua biển (S. paramamosain) giúp làm cơ sở để nhà sản xuất có thể làm thức ăn ương cua, từ đó chủ động nguồn thức ăn trong sản xuất giống. Kết quả xác định tỉ lệ thay thế thức ăn chế biến và Artemia phù hợp giúp các trại sản xuất giống ứng dụng vào quá trình sản xuất giống, góp phần hoàn thiện qui trình sản xuất giống cua biển đạt hiệu quả kinh tế cao.5 Điểm mới của luận án - Đánh giá khía cạnh kỹ thuật, đặc biệt là hiện trạng sử dụng thức ăn trong ương ấu trùng cua biển S. paramamosain ở đồng bằng sông Cửu Long.

- Xác định được hàm lượng và nguồn dầu phù hợp để làm thức ăn cho ấu trùng cua biển S. paramamosain từ giai đoạn zoea 3 đến cua 1. - Xác định được lượng lecithin và cholesterol phù hợp bổ sung vào thức ăn ương ấu trùng cua biển S. paramamosain từ giai đoạn zoea 3 đến cua 1.

- Lần đầu tiên xây dựng được công thức thức ăn chế biến đáp ứng nhu cầu lipid ương ấu trùng cua, giảm được lượng Artemia. Ứng dụng thành công vào sản xuất thực tế, nâng cao tỉ lệ sống ấu trùng cua biển S. paramamosain cao hơn so với thực tế sản xuất hiện nay. 4 Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Hiện trạng sản xuất giống cua biển Cua biển thuộc giống Scylla ở nước ta chỉ có 2 loài là S.

Đây là những đối tượng giáp xác quan trọng trong nuôi trồng thủy sản ở các nước vùng Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương và ở nước ta. Từ nhiều năm qua, nghề sản xuất giống và nuôi cua biển thương phẩm phát triển khá nhanh ở nước ta, đặc biệt là ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tỉnh Cà Mau có khoảng 100 trại sản xuất giống cua biển (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009). Kết quả khảo sát của Trần Ngọc Hải và Lê Quốc Việt (2018) cho biết số lượng trại sản xuất giống cua biển của tỉnh Bạc Liêu tổng số 40 trại, sản lượng năm 2016 đạt 500 triệu con.

Các trại ở Bạc Liêu sản xuất có quy mô lớn và tính chuyên môn hóa cao. Trong khi ở tỉnh Cà Mau, số lượng trại là nhiều nhất và tăng khá nhanh: 372 trại năm 2014, 394 trại năm 2015 và 438 trại năm 2016, Sản lượng cua giống cũng tăng tương ứng, từ 618,4 triệu năm 2014 lên 802,6 triệu năm 2015 và 935,8 triệu năm 2016. Tại tỉnh Kiên Giang, số lượng trại là 136 trại, sản lượng cua giống 157,5 triệu con năm 2016. Các tác giả cũng đánh giá từ năm 2014- 2016 tình hình sản xuất cua giống của ĐBSCL phát triển tương đối ổn định trong thời gian qua, đã cung cấp nguồn giống khá lớn và góp phần thúc đẩy nghề nuôi cua thương phẩm phát triển.

Về kỹ thuật sản xuất: trung bình mỗi trại sản xuất được 6±2 đợt/năm, mỗi đợt sử dụng khoảng 9±18 con cua mẹ. Cua mẹ có khối lượng trung bình 433±40 g/con (dao động 350-500 g/cua mẹ) trung bình có 32,4% số trại tự nuôi vỗ cua mẹ, còn lại 67,6% số trại mua cua trứng từ các trại chuyên nuôi vỗ cua mẹ để cho nở và ương ấu trùng. Kết quả điều tra ở tỉnh Cà Mau: Các bể hầu hết đều bằng bể ximăng, hình vuông. Kích cỡ trung bình của các bể trong khoảng 4,4 m3 và dùng cho ương ấu trùng zoea, ấu trùng megalopa và cua con.

Bể nuôi cua mẹ và nuôi cua mang trứng (bể ấp) có thể đơn giản là bể nhựa 20- 50 lít để nuôi riêng từng con hay bể 5 xi măng 1- 5 m3 để nuôi nhiều con cua trong bể. Đối với bể ương, các trại sản xuất giống cua có qui mô khá lớn, khoảng 89,77- 99,26 m3 bể ương ấu trùng zoea, megalopa hay cua con mỗi trại. Mật độ ương ấu trùng dao động trong khoảng 50- 150 con/L, trung bình 93,93 ± 25,69 con/L. Độ mặn nước ương tương đối ổn định và thích hợp, trong khoảng 27-30‰.

Thức ăn chủ yếu cho ương ấu trùng zoea là Artemia cho tất cả các giai đoạn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Ảnh hưởng của lipid trong thức ăn chế biến lên sinh trưởng và tỉ lệ sống ấu trùng cua biển Scylla paramamosain là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào việc phân tích vai trò của lipid trong thức ăn chế biến đối với sự phát triển và tỉ lệ sống của ấu trùng cua biển. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết sâu sắc về nhu cầu dinh dưỡng cụ thể của loài cua biển, từ đó giúp tối ưu hóa quy trình nuôi trồng thủy sản, nâng cao hiệu quả kinh tế và bền vững môi trường.

Để mở rộng kiến thức về dinh dưỡng trong thủy sản, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xác định nhu cầu lysine tối ưu trong thức ăn của cá nâu scatophagus arguslinnaeus 1766 giai đoạn giống, nghiên cứu này tập trung vào việc xác định nhu cầu lysine tối ưu cho cá nâu, một yếu tố dinh dưỡng quan trọng khác trong thức ăn thủy sản. Ngoài ra, Đồ án hcmute đánh giá giá trị dinh dưỡng của fish protein hydrolysate từ cá tra trên mẫu động vật thử nghiệm cung cấp thêm góc nhìn về giá trị dinh dưỡng của protein thủy phân từ cá tra, một nguồn nguyên liệu tiềm năng trong thức ăn chế biến.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức chuyên sâu về dinh dưỡng thủy sản mà còn giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn trong nuôi trồng thủy sản. Hãy khám phá thêm để nắm bắt những thông tin hữu ích và ứng dụng vào thực tiễn!