Chương 1. Tổng quan tài liệu. Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu. Kết quả và bàn luận.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình chăn nuôi thỏ trên thế giới và Việt Nam 1.Tình hình chăn nuôi thỏ trên thế giới Vào thế kỷ 16 ở một số nước Tây Âu như Pháp, Ý và Anh cùng với việc săn bắt thỏ hoang dã thì thỏ đã được chăn nuôi bán hoang dã và nuôi nhốt trong chuồng để lấy thịt. Tuy nhiên do chế độ lãnh chúa đặc quyền lúc bấy giờ nên việc phát triển chăn nuôi thỏ không được phát triển rộng rãi. Đầu thế kỷ 19, việc chăn nuôi thỏ trong chuồng được phát triển rộng khắp các vùng nông thôn và ven đô thị các nước Tây Âu, người Châu Âu đã giới thiệu chăn nuôi thỏ tới các nước khác như Australia, Nezealand và sau đó được lan tỏa khắp thế giới.
Theo Lebas và cs (1998) [28] năm 1998 thế giới sản xuất khoảng 1,2 triệu tấn thịt thỏ, đến năm 2000 con số này ước tính khoảng 1,5 triệu tấn, bình quân đầu người tiêu thụ 280 gram thịt thỏ/năm. Người Châu Âu tiêu thụ thịt thỏ nhiều hơn các vùng khác, tiêu thụ thịt thỏ trung bình của nông dân Pháp là 10 kg/người/năm; ở Italia là 15 kg/người/năm. Châu Âu được coi là trung tâm sản xuất và tiêu thụ thỏ của thế giới. Châu Âu đứng đầu thế giới về sản xuất thịt thỏ, trong đó Italia là nước có ngành chăn nuôi thỏ thịt phát triển nhất, nơi mà sản xuất thịt thỏ đã trở thành truyền thống từ đầu những năm 1990.
Năm 1995, việc chăn nuôi thỏ đã được công nghiệp hoá và đến năm 2000 ngành chăn nuôi thỏ công nghiệp đã phát triển bền vững khắp đất nước Italia, do đó sản lượng thịt thỏ ở nước này đã tăng vọt từ 120.000 tấn vào những năm 1990 lên 350. Nước Mỹ là trung tâm sản xuất và tiêu thụ thịt thỏ ở Châu Mỹ, với sản lượng 35.000 tấn vào những năm 1998, ở đây người ta chủ yếu tiêu thụ thịt thỏ non trung bình 1,8 kg/con. Hàng năm, nước Mỹ sản xuất và tiêu thụ khoảng 195 triệu con thỏ thịt. Ở Canada, chính quyền một số bang có chính sách khuyến khích và hỗ trợ nông dân phát triển chăn nuôi thỏ.
Mêxicô là đất nước có truyền 6 thống sản xuất thịt thỏ quy mô nhỏ gia đình từ 20-100 thỏ cái sinh sản dưới hình thức nuôi "sân sau" để tiêu thụ gia đình kết hợp sản xuất hàng hoá rộng khắp các vùng nông thôn và ven đô thị (Đinh Văn Bình, 2007) [1]. Sản xuất thịt thỏ ở Châu Á không nhiều, tập trung chủ yếu ở một số nước như Indonesia, Trung Quốc, Philippin, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam và Bắc Triều Tiên. Nghề chăn nuôi thỏ ở Trung Quốc khá phổ biến và chủ yếu cho tiêu thụ địa phương. Ngoài ra, ở Trung Quốc các thương gia ở nhiều tỉnh thành đã thu gom thỏ thịt để xuất khẩu sang các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc.
và Trung Quốc là nước xuất khẩu thỏ nhiều nhất trên thế giới. Sản xuất thịt thỏ ở Châu Phi tập trung chủ yếu ở các nước cận sa mạc Sahara như Nigeria, Ghana, Công Gô, Cameroon và Benin. Ở các nước này việc chăn nuôi thỏ để tiêu thụ gia đình là chính, một phần để bán. Đất nước Ghana có một chương trình phát triển chăn nuôi thỏ quốc gia, trong đó mỗi gia đình chỉ nuôi từ 3 đến 6 thỏ sinh sản, nguồn thức ăn chủ yếu là các rau cỏ và sắn sẵn có ở địa phương để tự sản xuất thỏ thịt tiêu thụ gia đình, phần thừa ra được đem bán.
Năm 1998 có 23 nước tham gia vào thị trường xuất nhập khẩu thịt thỏ thế giới với sản lượng từ 1.000 tấn thịt thỏ/năm, chiếm 95% tổng sản lượng xuất nhập khẩu thịt thỏ thế giới. Trong đó có 9 nước chỉ xuất khẩu, 6 nước chỉ nhập khẩu và 8 nước khác vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu thịt thỏ. Hai nước xuất khẩu thịt thỏ lớn nhất thế giới là Trung Quốc (40.000 tấn/năm) và Hungary (23. Thịt thỏ từ Trung Quốc được xuất khẩu sang Pháp và một số nước Châu Âu khác chủ yếu dưới dạng thân thịt đóng gói lạnh, một phần khác được xuất khẩu trực tiếp sang các nước đang phát triển.
Phần lớn thịt thỏ sản xuất ra ở Hungari được xuất khẩu ra nước ngoài, trong đó 50% được xuất sang Croatia; thị trường trong nước chỉ tiêu thụ khoảng dưới 5% tổng sản lượng thịt thỏ hàng năm tại nước này. Các nước nhập khẩu thịt thỏ chính bao gồm Italia, Bỉ, Pháp, Anh, Đức, Hà lan, Thụy Sỹ và một số nước Đông Âu. Nước nhập 7 khẩu thịt thỏ lớn nhất thế giới là Italia (30.000 tấn), phần lớn thịt thỏ nhập khẩu vào Italia là từ Hungari, Trung quổc, Romani và Balan. Da thỏ cũng là một mặt hàng có giá trị thương mại trên thế giới.
Một số nước sản xuất và tự tiêu thụ phần lớn da thỏ ở thị trường trong nước như Nga và Ba Lan. Một số nước khác sản xuất da thỏ để bán. Pháp là nước sản xuất da thỏ thô lớn nhất thế giới với số lượng khoảng 125 triệu da thỏ/năm, 56 % trong số đó (70 triệu da) được tiêu thụ trong nước, số còn lại xuất khẩu. Úc và một số nước khác cũng sản xuất da thỏ với số lượng lớn.
Phần lớn da thô từ các nước sản xuất da được xuất sang các nước đang phát triển như Bắc Triều Tiên, Phillippin…Ở đây, người ta chế biến thành các sản phẩm hoàn chỉnh, sau đó các sản phẩm da thỏ này lại được xuất khẩu trở lại các nước phát triển như Mỹ. Thỏ còn được sử dụng nhiều trong thú y và y học, nó là con vật được nhiều nước dùng để kiểm nghiệm thuốc và chế một số loại vacxin cho gia súc. Công ty Nipon Zoki Nhật Bản còn sử dụng thỏ là nguyên liệu sản xuất một loại thuốc có tên là Newtropin để chữa bệnh Packinson và bệnh stress cho con người, đặc biệt là người cao tuổi. Loại thuốc này rất đặc hiệu, được sử dụng nhiều ở Nhật, các nước Châu Âu và ngay cả ở Mỹ cũng đang được rất ưa chuộng.
Tình hình chăn nuôi thỏ ở Việt Nam Chăn nuôi thỏ ở Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng chưa được quan tâm nhiều, trước năm 1990 chủ yếu tập trung ở các gia đình nuôi thỏ có truyền thống nhiều năm ở các khu vực thành phố như Hà nội, Sài Gòn, Đà Lạt, Huế và một số gia đình vùng ngoại ô các thành phố lớn khác. Sau ngày miền Nam giải phóng thì nghề chăn nuôi thỏ phát triển nhanh hơn, năm 1976 cả nước có 115.000 con thỏ, trong đó các tỉnh phía Nam có 93.000 con; năm 1982 cả nước có khoảng 200.000 con, miền Bắc có 90. Nhưng sau đó số lượng thỏ lại giảm xuống cho đến đầu những năm 1990. Từ năm 1995 đến nay chăn nuôi 8 thỏ ở Việt Nam đang phát triển mạnh theo cơ chế thị trường do nhu cầu tiêu thụ thịt thỏ trong nước liên tục tăng.
Năm 2008, cả nước ta có khoảng 200.000 thỏ cái sinh sản. Hàng năm sản xuất ra khoảng 6 triệu thỏ sản phẩm, 55% giết thịt cho khoảng 6.600 tấn thỏ thịt/năm. Số lượng thỏ thịt trên mới chỉ đáp ứng tiêu thụ ở các cửa hàng ăn đặc sản trong nước, giết mổ theo lối thủ công và nhu cầu tiêu thụ thỏ thịt những năm qua cũng ngày càng tăng lên. Gần đây, do đại dịch cúm gia cầm nên nhu cầu thịt thỏ ở các bữa liên hoan tiệc cưới tăng lên cao nhưng sản xuất chưa đáp ứng được.
Tình hình sản xuất và cung cấp con giống cũng còn rất hạn chế: cả nước chỉ có một cơ sở duy nhất là Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây làm nhiệm vụ nghiên cứu và sản xuất con giống cung cấp cho sản xuất, vì vậy số lượng con giống tốt cung cấp cho sản xuất chưa đáp ứng được nhiều. Giá bán thỏ thịt từ 25.000đ/kg năm 2003; năm 2008 tăng lên 45.000đ/kg và hiện nay khoảng 100. Đồng thời việc nhập 3 giống thỏ mới có năng suất cao từ Hungary về năm 2000 nuôi nhân thuần và làm tươi máu đàn thỏ Newzealand (nhập từ năm 1978) tại Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây đã đem lại hiệu quả tốt, tăng năng suất đàn thỏ giống cũ lên 35 - 40%, đáp ứng nhu cầu con giống thỏ ngoại cao sản cho sản xuất nên đã thúc đẩy người dân quan tâm chú ý đến việc phát triển chăn nuôi thỏ ở khắp nơi trong cả nước. Món ăn từ thịt thỏ đã xuất hiện nhiều hơn trong các bữa tiệc cưới hay tân gia ở nhiều vùng của mước ta.
Cũng do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm và lợi thế của chăn nuôi thỏ là vốn đầu tư ban đầu ít, sinh sản nhanh, không có bệnh lây sang người, thức ăn cho thỏ là rau, cỏ, lá, phế phụ phẩm dễ tìm; tận dụng được lao động phụ; thịt thỏ có hàm lượng dinh dưỡng cao, mỡ ít, hàm lượng choletsteron thấp nên là thực phẩm bổ dưỡng cho con người, khả năng tiêu thụ thịt thỏ cũng như giá thịt 9 thỏ cũng ngày càng tăng lên, vì vậy hiện tại một số người đã tìm đến nghề chăn nuôi thỏ. Năm 2007, Công ty Niponzoki Nhật Bản đã tiến hành Hợp tác với Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây xây dựng Trại thỏ giống Newzealand Việt - Nhật Ninh Bình nhằm phát triển thỏ giống Newzealand, cung cấp cho người dân phát triển để có đủ 1,5 - 2 triệu thỏ cung cấp cho Công ty thành lập nhà máy sản xuất thuốc tại Việt Nam. Hiện nay, trại thỏ giống này đã nuôi 4.000 thỏ giống tổng đàn cung cấp con giống cho người dân chăn nuôi, từng bước hình thành hệ thống chăn nuôi thỏ nguyên liệu cung cấp cho Nhật. Phía Nhật cũng đang rất mong chờ Việt Nam nhanh chóng có khả năng sản xuất khoảng 1,5-2 triệu thỏ nguyên liệu/năm để cung cấp cho Nhật lập nhà máy sản xuất thuốc Newtropin dùng trị bệnh cho con người.
Khó khăn cơ bản hiện tại của ngành chăn nuôi thỏ nước ta là một ngành rất mới mẻ nên trình độ hiểu biết và sự phổ cập về kỹ thuật chăn nuôi thỏ là rất hạn chế. Hệ thống nhân giống chưa được hình thành trong cả nước, chưa có các cơ sở nhân giống bố mẹ và thương phẩm nên thiếu hụt con giống tốt cung cấp cho sản xuất là rất lớn. Hệ thống thu gom sản phẩm giết mổ đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như việc phổ thông hóa việc tiêu thụ thịt thỏ như các loại thịt gia súc khác hầu như chưa được hình thành.