Đặt vấn đề Rau có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người. Rau cung cấp vitamin, muối khoáng, chất xơ và năng lượng cho con người. Vì vậy hầu hết các nước trên thế giới đều nghiên cứu và phát triển rau với tốc độ nhanh. Trung Quốc là nước phát triển sản xuất rau lớn nhất thế giới với diện tích 13.
Bình quân đầu người đạt 311,6 kg/người/năm (Qu Dongya, 2001). Dưa chuột (Cucumis sativus L) là 1 trong 10 loại rau quan trọng được trồng và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Theo số liệu thống kê của tổ chức Nông Lương thế giới (FAO), năm 2013 diện tích dưa chuột trên thế giới đứng thứ 6 trong các loại rau trồng với 2,12 triệu ha (sau cà chua, hành tây, cải bắp, đậu hà lan và ớt) (FAOSTAT 2015)[27]. Thị trường tiêu thụ rau xanh trong nước và thế giới ổn định và ngày càng tăng.
Việt Nam gia nhập WTO là cơ hội giảm thuế xuất khẩu rau, tăng khả năng cạnh tranh tạo điều kiện cho sản xuất phát triển. Với chủ trương tăng đầu tư cho nghiên cứu và khuyến nông sẽ tạo cho những bước phát triển mới cho ngành rau. Dưa chuột là cây rau ăn quả được trồng hầu hết các nước trên thế giới. Với diện tích trung bình hàng năm khoảng 1,8 triệu ha, sản lượng thu hoạch đạt 30-31 triệu tấn.
Ở nước ta dưa chuột là một trong những cây rau ăn quả chủ lực vừa sử dụng ăn tươi, vừa cho chế biến xuất khẩu. Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu dưa chuột đạt 12 triệu USD. Như vậy, sản phẩm dưa chuột không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn mang lại hiệu quả kinh tế lâu dài cho nông nghiệp nước ta, góp phần thực hiện thắng lợi chương trình 1 tỷ đô la Mỹ xuất khẩu rau quả đến năm 2010. c 2 Việc đưa cây dưa chuột vào trồng là một hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiệu quả, đem lại cho người nông dân nguồn thu nhập khá ổn định.
Tuy nhiên trong quá trình trồng và chăm sóc mỗi nơi có một phương thức trồng và chăm sóc khác nhau để phù hợp với tình hình kinh tế, điều kiện đất đai của từng vùng. Để đạt hiệu quả cao trong sản xuất ngoài việc chăm sóc cho cây thì mật độ kết hợp với kĩ thuật tỉa cành nhánh cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng nói chung và cây dưa chuột nói riêng. Trước đây năng suất dưa chuột của nước ta rất thấp do tập quán sử dụng nhiều giống dưa chuột địa phương chủ yếu phục vụ ăn tươi. Tuy nhiên do công tác chọn tạo, duy trì giống không được tiến hành thường xuyên nên các giống này sinh trưởng kém, năng suất thấp không đáp ứng được yêu cầu sản suất, thị hiếu tiêu dùng tiêu chuẩn xuất khẩu cũng như công nghiệp chế biến.
Trong những năm gần đây việc sử dụng giống dưa chuột ưu thế lai đã làm tăng rõ rệt hiệu quả của sản xuất loại cây trồng này. Giống dưa chuột GL1-2 có khả năng phát triển tốt, thời gian sinh trưởng 80 – 85 ngày, thích hợp trong vụ đông và vụ xuân hè tại các tỉnh phía Bắc. Năng suất đạt trên 50 – 60 tấn/ha trong cả hai thời vụ. Vỏ quả màu xanh, gai trắng, ruột đặc, ăn giòn, vị ngọt mát, chất lượng quả tốt , ra hoa sớm, tỷ lê đậu quả cao, đáp ứng yêu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Giống có khả năng chịu bệnh sương mai và phấn trắng tốt. Giống được công nhận giống sản xuất thử năm 2014, hiện đang được mở rộng diện tích tại các địa phương ở các tỉnh Hưng Yên, Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nam, Hòa Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình và Thừa Thiên Huế. Thái Nguyên là một trung tâm kinh tế - xã hội, tập trung nhiều trường Đại học, các trung tâm, nhà máy…nhu cầu rau của người tiêu dùng ngày càng nhiều. Từ thực tiễn trên, để giống dưa chuột GL1-2 nhanh chóng được phát c 3 triển trên diện rộng, đáp ứng nhu cầu của thị trường, Được sự đồng ý của Khoa Nông học và bộ môn Rau quả chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của khoảng cách trồng và kỹ thuật tỉa cành đến khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống dưa chuột GL1-2 vụ xuân-hè năm 2016 tại Thái Nguyên”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài * Mục đích: - Xác định khoảng cách trồng thích hợp đối với giống dưa chuột GL1-2 tại Thái Nguyên. - Tìm hiểu kỹ thuật tỉa cành thích hợp đối với giống dưa chuột GL1-2. * Yêu cầu: - Đánh giá được ảnh hưởng của khoảng cách và kĩ thuật tỉa cành đến khả năng sinh trưởng của giống dưa chuột GL1-2. - Xác định được ảnh hưởng của khoảng cách và kĩ thuật tỉa cành đến khả năng ra hoa đậu quả của giống dưa chuột GL1-2.
- Xác định được ảnh hưởng của khoảng cách và kĩ thuật tỉa cành đến năng suất và một số chỉ tiêu chất lượng quả cho giống dưa chuột GL1-2. - Xác định được ảnh hưởng của khoảng cách và kĩ thuật tỉa cành đến tình hình phát sinh phát triển sâu bệnh hại trên thí nghiệm. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Quá trình thực hiện đề tài thực tập tốt nghiệp giúp sinh viên tiếp cận với thực tế đồng thời vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, nâng cao trình độ chuyên môn. Ngoài ra giúp sinh viên làm quen với phong cách làm việc linh hoạt, sáng tạo, nghiêm túc, tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm thực tế.
Góp phần bổ sung dữ liệu khoa học có giá trị về tài nguyên cây dưa chuột. Có thể làm tài liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và ứng dụng thực tiễn. c 4 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Giúp sinh viên tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm thực tế và từ những kết quả theo dõi đề tài có thể lựa chọn mật độ và kĩ thuật tỉa cành nhánh phù hợp nhất đối với giống dưa chuột GL1-2 trồng trên nền đất tương tự như đất ở xã Quyết Thắng – Thành phố Thái Nguyên. c 5 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài - Cơ sở lý luận: Hiện nay việc chọn tạo giống cây trồng đạt năng suất cao và chất lượng tốt đang được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học và các cơ quan có liên quan. Các chương trình khoa học không chỉ tạo ra các giống mới có ưu thế để cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm, quan trọng nhất là duy trì và nhân ra nhiều loại giống tốt cung cấp cho người nông dân. Trong sản xuất cần nắm vững các đặc trưng và đặc tính của giống để từ đó có các biện pháp kĩ thuật tác động thích hợp nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Khoảng cách và kĩ thuật tỉa cành là một trong những biện pháp làm tăng năng suất cây trồng, đáp ứng nhu cầu của con người.
- Cơ sở thực tiễn: Thái Nguyên là một tỉnh thuộc trung du miền núi phía bắc có điều kiện khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, thuận lợi cho phát triển sản xuất rau. Về diện tích, năng suất, sản lượng còn thấp chủ yếu là cung cấp nhu cầu trong tỉnh và chưa có giá trị trong xuất khẩu, bên cạnh đó chất lượng sản phẩm cũng chưa được đảm bảo. Những năm gần đây đã áp dụng nhiều nghiên cứu khoa học trong sản xuất tuy nhiên năng suất cũng như chất lượng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Do đó để có cơ sở vững chắc nhằm phát triển dưa chuột tại Thái Nguyên trong từng điều kiện cụ thể của từng công tác nghiên cứu thích nghi cho từng vùng, tuyển chọn ra giống phù hợp và tốt nhất là việc hết sức cần thiết.
Tình hình sản xuất dƣa chuột trên thế giới và trong nƣớc 2. Tình hình sản xuất dưa chuột trên thế giới Dưa chuột có nguồn gốc từ Ấn Độ ở vịnh Bengal và dãy Hymalayas cách đây hơn 3.000 năm, giống dưa này được mang đi dọc theo hướng Tây Châu Á, Châu Phi và miền Nam Châu Âu, vào thế kỷ 6 dưa chuột được mang tới Trung Quốc. Theo thống kê của Fao (tổ chức nông lương thế giới), diện tích trồng dưa chuột trên thế giới năm 1995 vào khoảng 1.390 ha với tổng sản lượng là 19.100 tấn thì cho đến năm 2014 con số này là 2.613 nghìn ha, diện tích tăng …ha và sản lượng lên tới 74.625 nghìn tấn tăng gần … triệu tấn (FAO, 2016)[28]. Tình hình sản xuất dưa chuột trên thế giới những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.1: Tình hình sản xuất dƣa chuột trên thế giới giai đoạn 2010 – 2014 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2010 2.625 (Nguồn:FAO, 2016)[28] Nhìn chung trong những năm gần đây năng suất dưa chuột đang có xu hướng tăng và dần ổn định nhờ chú trọng sử dụng giống mới và phương pháp canh tác tiên tiến, sản lượng cũng vì thế mà tăng lên đáng kể mặc dù diện tích có phần giảm.
So với năm 2010 thì năm 2014 diện tích trồng dưa tăng hơn 158.319 nghìn ha, năng suất tăng 34.233 tạ/ha và sản lượng tăng trên 1. Dưa chuột được trồng ở hầu khắp các nước trên thế giới và được trồng nhiều nhất ở Châu Á với diện tích 1570,873 nghìn ha với sản lượng đạt 62800,000 tấn năm 2013 (FAO, 2016)[28].2: Tình hình sản xuất dƣa chuột ở một số Châu lục năm 2013 Diện tích (nghìn Năng suất Sản lƣợng STT Châu lục ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 1 Châu Á 1570,9 399,498 62800,0 2 Châu Âu 52,3 532,030 2781,52 3 Châu Mĩ 95,53 210,498 2010,82 4 Châu Phi 249,2 479,85 1195,7 5 Châu Úc 0,39 349,512 135,96 (Nguồn:FAO, 2016)[28] Qua bảng 2.2 cho thấy châu Á là châu lục có diện tích và sản lượng dưa chuột năm 2013 cao nhất đạt 1570,9 nghìn ha. Châu Âu là nước có diện tích trồng đứng thứ 4 với 52,281 nghìn ha nhưng có năng suất lớn nhất đạt 532,030 tạ/ha năm 2013 và sản lượng đạt 2781,525 nghìn tấn đứng thứ 2 trên thế giới. Châu Úc là nước có diện tích và sản lượng dưa chuột thấp nhất năm 2013.3 : Tình hình sản xuất dƣa chuột của một số nƣớc trên thế giới qua các năm 2013-2014 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Chỉ tiêu (nghìn ha ) (tạ/ha ) (nghìn tấn ) Thế Giới 2.3 cho ta thấy: Nhìn chung diện tích năng suất và sản lượng dưa chuột của các nước trên thế giới không có biến động nhiều.