Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây keo giậu và cỏ stylosanthes 1. Giới thiệu về cây keo giậu 1. Tên gọi, phân loại cây keo giậu.
Keo giậu thuộc giới thực vật (Botany), ngành thực vật có hoa (Flowering Botany), lớp 2 lá mầm (Dicotyledom), bộ đậu (Leguminosales), họ trinh nữ (Mimosacea), chi Leucaena, loài Leucaena leucocephala là quan trọng nhất. Trước năm 1961, keo giậu có tên khoa học là Leucaena glaucca (Wind) Benth. Đến năm 1961, dựa trên cơ sở hình thái quả, nhị và một số đặc tính khác, De - Wit đặt tên khoa học mới cho keo giậu là Leucaena leucocephala (Lam) D - Wit, từ đó tên khoa học mới của keo giậu do De - Wit đặt được cả thế giới công nhận và tên gọi “Leucaena” là danh pháp quốc tế đặt chung cho loài cây này. Ngoài ra keo giậu còn có các tên gọi khác như: Mimosa leucocephala Lam, Mimosa glauca L, Acacia glauca (L.
Ở các quốc gia khác nhau, keo giậu còn có tên gọi khác nhau. Ở Trung Mỹ, keo giậu còn có tên gọi là Huakin; Mexico và Tây Ban Nha gọi là Guaje; Philippin gọi là Ipil - ipil; Trung Quốc gọi là Yin hue huan… Ở Việt Nam, keo giậu được phân bố ở khắp nơi từ Bắc vào Nam, tỉnh nào cũng có keo giậu và keo giậu đã trở thành cây mọc tự nhiên ở một số địa phương (Nguyễn Đăng Khôi, 1979) [16]. Ở các địa phương khác nhau, keo giậu cũng có các tên khác nhau. Miền Bắc gọi là keo giậu; Miền Trung gọi là táo nhơn; Miền Nam gọi là bình linh.
Giống keo giậu mọc hoang ở nước ta thuộc kiểu Hawaii (Dương Hữu Thời và cs, 1982) [30], năng suất không cao (Ngô Văn Mận, 1977) [20]. Các loài keo giậu khác nhau có sự khác nhau về độ cao, hình dáng, tuổi thành thục, sức sống và năng suất. Sự khác nhau này phản ánh tính không 4 đồng nhất về kiểu gen giữa các loài keo giậu. Người ta chia keo giậu thành 3 kiểu chính.
Kiểu keo giậu Hawaii: Tầm vóc cây bé và đỉnh tròn, chiều cao từ 5 - 8 m; lá, quả và hạt to, cây ra hoa kết trái 2 vụ trong năm, cây thích ứng với vùng khô hạn và ven biển nhiệt đới. Kiểu keo giậu Salvado: Kiểu này cao và mảnh, chiều cao có thể đạt tới 20 m và đường kính thân có thể tới 40 cm, thân phân cành ít, quả có hạt lớn và dày, ra hoa và kết hạt 1 - 2 lần/năm. Kiểu này bao gồm tất cả các tập đoàn keo giậu lớn như giống K (K8, K28, K67). Kiểu keo giậu Peru: Chiều cao đạt tới 10 - 15 m; đường kính thân cây từ 5 - 10 cm; sinh trưởng nhanh, phân cành ngay từ gốc, cành nhỏ, lá to và nhiều, hình thành nên đỉnh lá lớn.
Đây là kiểu tiềm năng lớn cho thức ăn gia súc, bắt đầu ra hoa lúc 6 - 12 tháng tuổi, cây ra hoa 1 lần/năm. Nguồn gốc của cây keo giậu Keo giậu được xác định có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Mexico (NAS, 1984) [79]. Phần lớn các vùng đất này có độ cao trung bình dưới 1500 m so với mặt biển, đất nửa khô hạn, hơi kiềm hay axit nhẹ. Năm 1965, Người Tây Ban Nha đưa keo giậu từ Mexico vào Philippin để trồng làm thức ăn cho đàn dê của họ (Brewbaker, 1985) [50].
Cuối thế kỷ VXII và đầu thế kỷ XIX, keo giậu đã được đưa tới các nước nhiệt đới ven bờ biển Thái Bình Dương: Inđonexia, Malaysia, Paypua New Guinea, Tây và Nam Phi (NAS, 1984) [79]. Keo giậu được nhập vào Hawaii, Fijii, bắc Australia, Ấn Độ, Đông Phi. Đông Nam Á là vùng phát triển keo giậu tương đối sớm và nhiều. Trong những năm 70 của thế kỷ XX, các nước Ấn Độ, Inđônexia, Philippin, Thái Lan đã trồng nhiều keo giậu và sử dụng chúng như một nguồn thức ăn trong chăn nuôi.
Năng suất chất xanh của cây keo giậu Năng suất chất xanh của cây keo giậu dùng làm thức ăn gia súc khá biến động tùy theo giống, đất đai, sự chăm sóc. Ở Việt Nam, năng suất chất xanh 5 của cây keo giậu đạt 40 - 45 tấn/ha/năm. Ngoài cành lá non làm thức ăn gia súc, nó còn có khả năng cung cấp một lượng gỗ củi lớn làm chất đốt và làm giàu đạm cho đất thông qua bộ rễ có nốt sần. Một năm, cây keo giậu cho thu hoạch 4 - 5 lứa.
Keo giậu thường có nhiều rệp, nhưng không cần phun thuốc (phun thuốc không đạt hiệu quả kinh tế). Khi có mưa rào thì rệp chết, sau đó cây sẽ sinh trưởng mạnh. Keo giậu cho thu hoạch khá lâu, sau 5 - 6 năm mới phải trồng lại. NAS (1984) [79] cũng cho biết, năng suất và chất lượng keo giậu tươi đạt mức tối ưu ở chế độ gieo trồng và thu hoạch như sau: Mật độ gieo trồng là 100.000 cây/ha; độ cao thu hoạch của cây là 60 - 70 cm; chu kỳ thu hoạch là 50 - 60 ngày.
Với chế độ gieo trồng và thu hoạch như trên, trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất keo giậu đạt 12 - 14 tấn chất khô/ha/năm. Trong những vùng nhiệt đới khô hạn, năng suất keo giậu giảm ở mùa khô. Các nhân tố thời tiết, khí hậu, năng suất keo giậu còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố giống, mật độ cây trồng, tần số khai thác và chiều cao thu hoạch của cây. Lê Hòa Bình và cs (1990) [1], đã khảo sát năng suất của các giống keo giậu Ipil - ipil, Đồng Mô, Ba Vì hạt lớn, Ba Vì hạt nhỏ, Peru và Ấn Độ.
Kết quả khảo sát cho thấy, các giống Ba Vì hạt lớn, Ipil - ipil và Ấn Độ cho năng suất chất xanh cao, lần lượt là 45,05; 43,35 và 40,20 tấn/ha/năm, tương đương khoảng 10. Tuy nhiên, về mùa khô keo giậu sinh trưởng kém, chỉ đạt gần 50 % so với mùa mưa. Riêng giống Ba Vì hạt lớn sinh trưởng ở mùa đông có ưu thế hơn các giống khác. Nguyễn Ngọc Hà (1996) [7], đã thử nghiệm trồng khảo sát tốc độ sinh trưởng của keo giậu trên các loại đất khác nhau cho biết, năng suất vật chất khô trung bình của keo giậu là 11,5 tấn/ha/năm.
Giống Peru - Cunnigham có năng suất chất khô là 13,36 tấn/ha/năm, cao hơn giống Salvador - Mỹ là 3,62 tấn. Tuy nhiên, năng suất chất khô của keo giậu còn phụ thuộc khá nhiều vào 6 độ chua của đất, vì ở đất chua khả năng cộng sinh của vi khuẩn Rhyzobium với keo giậu kém, làm cho keo giậu thiếu đạm, năng suất thấp. Thành phần hóa học của cây keo giậu. * Protein Hàm lượng protein thô trung bình trong bột lá keo giậu (BLKG) biến động từ 24,0 - 34,4 %, trong hỗn hợp cành và lá từ 10 - 30 % vật chất khô (VCK).
Như vậy, hàm lượng protein trong BLKG là khá cao và có thể so sánh với bột cỏ Međi (là một cây họ đậu có hàm lượng protein cao) (Garcia và cs, 1996) [ 65]. Tỷ lệ protein có trong lá keo giậu cao và chúng cũng biến động giữa các phần của cây. Lá non của keo giậu chứa nhiều protein và có khả năng tiêu hóa cao, lá ở đỉnh ngọn có tỷ lệ protein cao nhất từ 28,4 - 30,0 % VCK (Deshumukh và cs 1987) [59], cho biết, tỷ lệ protein trong lá non cao gấp 1,5 lần so với lá già, các phần lá phân bố ở giữa có tỷ lệ protein là 23,8 - 28,2 % VCK, phần lá bên dưới có tỷ lệ protein là 17,4 - 24,1 % VCK. Hàm lượng protein của keo giậu cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giai đoạn sinh trưởng của cây, khoảng cách giữa các lần thu hoạch, giảm theo tuổi của cây và phụ thuộc vào các vị trí khác nhau trên cây.
El - Ashry và cs (1993) [62] cho biết, tỷ lệ protein của lá đạt mức cao nhất ở giai đoạn đầu sinh trưởng và giảm dần với tuổi của cây. Gupta và cs (1986) [67], khi nghiên cứu tỷ lệ protein của 9 loài keo giậu cho biết, tỷ lệ protein trong lá của giống K 454, loài L.diversifolia là cao nhất (15,65 % protein). D’Mello và Fraser (1981) [56] cho biết: Tỷ lệ protein thô của các mẫu BLKG thu hoạch tại Thái Lan (châu Á) thấp hơn so với mẫu BLKG thu hoạch tại Malawi (châu Phi). Mùa vụ là một yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ protein thô trong hỗn hợp thân, cành, lá của keo giậu.
Garcia (1988) [64] cho biết: Tỷ lệ protein thô trong hỗn hợp thân cành lá được thu hoạch vào tháng 2, 3, 4, 5, 6 trong năm lần lượt là: 34,2; 25,8; 20,5; 19,4; 20,5 % VCK. 7 Phương pháp chế biến cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ protein của keo giậu. D’Mello và Fraser (1981) [56] nhận thấy, tỷ lệ protein thô của BLKG thu hoạch tại Malawi được chế biến bằng phương pháp phơi khô dưới ánh nắng mặt trời cao hơn tỷ lệ protein thô của BLKG chế biến bằng phương pháp sấy khô trong lò sấy ở nhiệt độ cao (29,41 so với 28,13 % VCK). * Lipit Nguyễn Ngọc Hà và cs (1993) [5] cũng cho biết, loài keo giậu Leucaena leucocephala trồng tại Viện chăn nuôi quốc gia, được chế biến bằng phương pháp phơi kết hợp với sấy, thì trong 1 kg vật chất khô BLKG có 48 g lipit.
Từ Quang Hiển và cs (2008) [10] cho biết, tỷ lệ lipit của BLKG Leucaena leucocephala ở các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam có sự biến động tương đối thấp về tỷ lệ lipit. Ví dụ: Hà Nội 4,05 %; Huế 3,93 %; Thành phố Hồ Chí Minh 5,58 %; Thái Nguyên 4,71 %. * Chất xơ Keo giậu có tỷ lệ chất xơ khá cao so với các loại thức ăn ngũ cốc, nhưng thấp hơn nhiều loại thức ăn xanh khác. Do có tỷ lệ chất xơ cao nên đã hạn chế tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng có trong keo giậu, nhất là đối với động vật dạ dày đơn và đặc biệt là gia cầm.
Tỷ lệ xơ thô trong hỗn hợp cành, lá keo giậu trung bình là 35 % (dao động từ 32 - 38 % VCK) và trong bột lá là 19,2 % VCK (dao động từ 18,0 - 20,4 % VCK) (Garcia và cs, 1996 [65]. Tỷ lệ xơ cũng thay đổi theo giống và ở các phần khác nhau của cây. Ngay trong cùng một giống Peru, tỷ lệ xơ thô trong BLKG thu hoạch tại Thái Lan lớn hơn tỷ lệ xơ thô của của BLKG thu hoạch tại Malawi (12,4 so với 7,3 % VCK) (D'Mello và Fraser, 1981) [56].