Chương 1 giới thiệu tổng quan về nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở ly thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3 giới thiệu phương pháp nghiên cứu được sử dụng để kiểm định thang đo, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết. Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu.
Cuối cùng, chương 5 tóm tắt những kết quả chính và các đóng góp của nghiên cứu; đồng thời nêu những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 10 CHUONG2 : CO SO LÝ THUYET VA MO HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu Chương 1 giới thiệu tong quan về dé tài nghiên cứu. Chương 2 sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết để xây dựng mô hình nghiên cứu. Chương này gồm hai phân chính, phân đầu giới thiệu cơ sở lý thuyết về ý định dự tuyên của người lao động và hình ảnh thương hiệu nhà tuyên dụng, phân tiếp theo giới thiệu các giả thuyết và mô hình nghiên cứu.1 Ý định dự tuyến (application intention) Tuyến dụng là một quá trình gồm nhiêu giai đoạn liên tiếp cho phép doanh nghiệp nhắm đến mục tiêu là những người lao động tiềm năng có các kỹ năng cụ thê (Barber, 1998; Aiman-Smith và các cộng sự, 2001).
Quá trình tuyển dụng gồm những bước sau: * Doanh nghiệp xác định nhu cầu tuyến dụng: vi trí công việc, số lượng e Thiết lập Bang mô tả công việc và yêu câu công việc: nêu chi tiết quyền lợi, trách nhiệm, hoạt động của vị trí và các yêu cầu cụ thể cân có cho công việc (học van, kinh nghiệm, kĩ năng.) e Thu hút ứng viên dự tuyến: mục tiêu là thu thập hô sơ các ứng viên tiềm năng. e Sang lọc hỗ sơ: chọn lựa sơ bộ những hỗ sơ phù hợp nhất dé tiễn hành bước đánh giá tiếp theo. e Chon lựa đánh giá ứng viên: băng việc phỏng van, kiểm tra trình độ, tham khảo đồng nghiệp cũ, thương lượng lương bông cùng chế độ phúc lợi. W Quyết định chap nhận ứng viên Trong quá trình trên, giai đoạn “thu hút ứng viên dự tuyển” là cực kỳ quan trọng (Luce & ctg, 2001).
Càng có nhiều ứng viên phù hợp thì càng có nhiều cơ hội chọn được người phù hợp nhất. Không có nhiều ứng viên dự tuyên thì doanh nghiệp 11 không thé tiến hành chọn lựa và không có cơ hội tuyén được người phù hợp nhất. Do đó, nhà tuyến dụng cân hiểu vệ hành vi của ứng viên. Hành vi được tiên đoán dựa trên ý định (Fishbein và Ajzen, 1975).
Y định dự tuyén là ý định chủ động nộp đơn dé ứng tuyến cho một vị trí trông, nó cũng có thé là ý định chấp nhận tham gia quá trình tuyên dụng của công ty (gởi lý lịch làm việc, tham gia phỏng vẫn.) khi công ty chủ động mời ứng viên ứng tuyên. Y định dự tuyén là yếu t6 rat quan trọng trong việc thấu hiểu sự chọn lựa công việc của ứng viên. Vì vậy, sự hiểu biết về các yêu tô ảnh hưởng đến ý định dự tuyên của ứng viên đóng vai trò quyết định cho một quá trình tuyén dụng hiệu quả. Các yêu tô ảnh hưởng đến ý định dự tuyến của ứng viên đã được nghiên cứu: W Thương hiệu nhà tuyên dụng * Nhận thức vê đặc điêm công việc (perceived job characteristics): Daniel và Gomes, 201 | ® Bo me va ban bè: Levon va E.
Bowen, 2005 W Biến nhân khẩu học: trình độ học van, kinh nghiệm làm việc, giới tính (Timothy & ctg, 1994), tudi tác, chung tộc (Daniel & Timothy, 1994). Nghiên cứu nay chỉ tập trung nghiên cứu anh hưởng của yếu tô thương hiệu nhà tuyên dụng lên ý định dự tuyến.2 Thương hiệu (brand) Nghiên cứu về thương hiệu, Doyle (2002) cho răng có ba khái niệm cân phân biệt: sản phẩm (product), thương hiệu (brand) và thương hiệu thành công (successful brand). e San phẩm (product) Sản phẩm là cái gi đó có thé đáp ứng nhu câu về mặt chức năng (functional needs) cho khách hàng. Sản phẩm có thể là sản phẩm vật chat hoặc sản phẩm dịch vụ.
O mức độ cơ bản nhất, khách hàng mua sản phâm đê đáp ứng nhu câu chức 12 năng, vi du đông ho mua đề xem giờ, ngân hàng dé gởi tiêt kiệm, chuyên tiên hay muon tiên. Nếu sản phẩm của công ty được nhận thay là tương tự sản phẩm của đối thủ, người tiêu dùng sẽ chọn sản phẩm nào rẻ nhất hoặc dễ tiếp cận nhất. Các công ty cạnh tranh về giá thường không dat được mức lợi nhuận mong muốn. Chính vì vậy, hau hết các công ty đều muốn làm sản phẩm của mình khác biệt so với đối thủ băng cách xây dựng thương hiệu.
® Thuong hiệu (brand) Thương hiệu (brand) được định nghĩa là một cái tên, biểu tượng, thiết kế cụ thé hoặc là sự kết hợp các yếu tô trên, được sử dụng dé phân biệt san phẩm cu thé của một người bán. Nhà cung cấp sẽ cô gang làm cho khách hang nhận biết va ưa thích thương hiệu của mình. Một khi khách hàng nhận thây một sản phẩm tốt, họ sẽ ưa thích hon và sẵn sàng trả nhiều tiền hơn dé mua nó (Doyle, 2002). ® Thuong hiệu thành công (successful brand) Một thương hiệu thành công (S) là sự kết hợp của sản phẩm hiệu quả (P), đặc tính khác biệt (distinctive identity) (D) va giá trị cộng thêm (AV) S=P*D*AV Ngoài việc san pham đáp ứng được các yêu câu chức năng của người tiêu dùng, nó phải có các giá trị cộng thêm (added values) để đáp ứng các nhu câu về mặt tâm lý.
Giá trị cộng thêm là cảm xúc tự tin được khơi gợi rang thương hiệu có chất lượng cao hơn hoặc đáng mơ ước hơn những sản phẩm tương tự của đối thủ. Đây là niềm tin chủ quan của khách hàng và cũng là trọng tâm của hoạt động xây dựng thương hiệu thành công. Doyle (2002) cũng phân biệt hai khái niệm “bản sắc thương hiệu” (brand identity) và “hình ảnh thương hiệu” (brand image): e Ban sắc thương hiệu (brand identity) là thông điệp được truyền tải bởi thương hiệu thông qua hình thức sản phầm của nó, tên, dâu hiệu nhận biêt, quảng cáo,. 13 e Hinh ảnh thương hiệu (brand image) liên quan đến nhận thức của thị trường mục tiêu về thương hiệu.
David Ogilvy là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này. Ông cho rằng hình ảnh thương hiệu là bức tranh về thương hiệu mà con người có trong dau. Nó là SỰ tông hợp các thuộc tính sản phẩm, tên, bao bi, giá, lịch sử, uy tin và cách nó được quảng cáo. Khách hàng sử dụng những thông tin mà các nhà tiếp thị giới thiệu để hình thành nhận thức về thương hiệu.
Tuy nhiên, họ cũng sử dụng các nguôn thông tin khác họ có để phát triển nhận thức riêng của họ về một thương hiệu. Hình ảnh thương hiệu trong tâm trí khách hàng có thể khác nhiều với những gi mà công ty cô gắng truyén tải (Biel). Hình ảnh thương hiệu được lưu trữ trong bộ nhớ của người lao động. Các mô hình về bộ nhớ cho rang thông tin duoc lưu trữ dưới dang nút (nodes), những mau thông tin đặc biệt.
Các nút này kết nối thông qua những liên kết có độ mạnh khác nhau. Khi một nút được gợi nhac hay kich hoat, no bat dau hoat hóa các nút khác dựa vào sức mạnh các liên kết, những thông tin liên quan sé có săn để sử dụng. Dựa vào lý luận này, thông tin và ký ức về thương hiệu sản phẩm có 2 thành phân chính là bản thân các nút (sự nhận biết về thương hiệu) và liên kết của nó với các thông tin liên quan (cảm xúc và kiến thức về thương hiệu) (Keller, 1993, trích tu Collins và Stevens, 2002). Hình ảnh thương hiệu gôm 2 thành phân: - Thai độ (attitudes): cảm xúc chung đối với thương hiệu (general affective responses associated with the brand) (Wilke, 1986; trích từ Collins và Stevens, 2002).
- _ Nhận thức về thuộc tinh hay niềm tin về những đặc điểm cu thé của thương hiệu có liên quan đến quyết định mua (Keller, 1993; trích từ Collins và Ste vens, 2002) Hình anh thương hiệu được hình thành từ nhiêu nguồn và lưu trong ký ức có thé không phản ánh đúng sự thực. Khi người tiêu dùng có thái độ ưa thích mạnh và nhận thức vê một thương hiệu có các thuộc tính suy nhât, dang mơ ước, ho 14 có khuynh hướng phân biệt và mua thương hiệu đó nhiều hơn các thương hiệu đối thủ (Aaker, 1996; trích từ Collins và Stevens, 2002).3 Thương hiệu nhà tuyến dụng (employer brand) Xét theo quan điểm marketing, công ty là nhà cung cấp sản phẩm. người lao động là người mua và sử dụng sản phẩm, sản phẩm là các công việc cụ thể (job offer — employment offer) mà công ty cung cấp (The Corporate Leadership Council, 2006).1 Dinh nghia Thương hiệu nhà tuyển dụng thiết lập đặc điểm của công ty ở vai trò người sử dụng lao động. Nó bao gồm giá trị của công ty, hệ thống, chính sách, và hành vi hướng tới mục tiêu thu hút, khuyến khích và giữ chân nhân viên hiện tại và tiềm năng của công ty (Dell & ctg, 2001).
Thương hiệu nhà tuyển dụng là hình ảnh “một nơi tuyệt vời để làm việc” của công ty trong tâm trí của những nhân viên hiện tại và các bên liên quan ở bên ngoài công ty (ứng viên chủ động và bị động, khách hàng, người tiêu dùng và các đối tượng khác) (Minchington, 2006). Xây dựng thương hiệu nhà tuyến dung (employer branding) là nỗ lực của tổ chức (cả bên trong và bên ngoài) trong việc quảng bá hình ảnh rõ ràng của các thuộc tính tổ chức làm tổ chức trở thành một nhà sử dụng lao động đáng mơ ước và khác biệt (Backhaus & Tikoo, 2004). Marketing việc làm (marketing of employment offers) và marketing truyền thống cho sản phẩm/ dịch vụ có nhiều điểm tương đồng và cũng có điểm khác biệt. Một ví dụ cho sự khác biệt là việc thiết lập thương hiệu nhà tuyển dụng không nhăm đến mục tiêu có càng nhiều người dự tuyên càng tốt mà là càng nhiều người phù hợp dự tuyến càng tốt (Talent talk, 2003).
Ví dụ cho sự tương đồng là thương hiệu nhà tuyên dụng cũng như thương hiệu sản phẩm, được thiết kế để phát triển nên hình ảnh lâu dài trong tâm trí đối tượng thị trường mục tiêu, một hình ảnh làm người lao động muốn làm việc cho doanh nghiệp đó. Quá trình tạo dựng thương hiệu nhà tuyên dụng cũng sử dụng các công cụ nghiên cứu thị trường, PR, quảng 15 cáo dé thay đối hình anh “làm việc cho công ty là như thé nào” mà người lao động đang có (Sullivan, 1999).