Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp đến sự cam kết gắn bó làm việc của người lao động tại công ty TNHH MTV cao su Huy Anh Phong Điền SVTH: Lê Thị Quỳnh Như 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Nhật Anh Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp của công ty TNHH MTV cao su Huy Anh Phong Điền SVTH: Lê Thị Quỳnh Như 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Nhật Anh PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ứng với mỗi góc nhìn, cách tiếp cận và ứng với mỗi lĩnh vực nghiên cứu thì ta sẽ có một khái niệm văn hóa khác nhau.
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v. Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa. Nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832–1917) đã định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội.” Các định nghĩa lịch sử nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa. Một trong những định nghĩa của Edwars Sapir (1884–1939), nhà nhân loại học, nhà ngôn ngữ học người Mỹ, đó là “Văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống.” Nghiên cứu của William Isaac Thomas (1863–1947), nhà xã hội học người Mỹ cho rằng: “Văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào.” Các định nghĩa văn hóa về mặt tâm lý học nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người.
Một trong những cách định nghĩa như vậy của William Graham Sumner (1840–1910), viện sĩ Mỹ, giáo sư Đại học Yale và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông SVTH: Lê Thị Quỳnh Như 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Nhật Anh là: “Tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh. Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa.” Theo Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889–1968), nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: “Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau.” Theo UNESCO 2002, “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị,truyền thống và đức tin.” Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống. Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống.
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử". Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 đã đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa như sau: - Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. - Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội. - Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát).
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Nhật Anh - Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát). - Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh. - Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn. Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: “Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có!”.
Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa. Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa.
Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa doanh nghiệp. Mỗi nền văn hóa khác nhau sẽ có các định nghĩa khác nhau.
Mỗi doanh nghiệp lại có cách nhìn khác nhau về văn hóa doanh nghiệp. Theo Edgar Schein (2010)– Nhà nghiên cứu xã hội học người Mỹ cho rằng: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng thể những thủ pháp và quy tắc giải quyết vấn đề thích SVTH: Lê Thị Quỳnh Như 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Nhật Anh ứng bên ngoài và thích ứng bên trong của các nhân viên trong tổ chức. Các quy tắc này đã tỏ ra hiện hữu trong quá khứ và vẫn cấp thiết trong hiện tại”. Trong khi đó, hai chuyên gia về quản trị và kinh tế học Kotter, J.
nhìn nhận VHDN “thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền trong thời gian dài”. – Chủ tịch và Người sáng lập của Good People Management Ltd., công ty tư vấn quốc tế, tác giả cuốn sách “Transforming Company Culture” định nghĩa văn hóa theo cách trừu tượng hơn. Văn hóa là “mọi việc được giải quyết như thế nào quanh đây”. Nó là những đặc trưng của doanh nghiệp, thói quen, thái độ phổ biến, mẫu hình phát triển được chấp nhận và các hành vi mong muốn.
Ba tác giả Williams, A., Dobson, P và Walters, M. của cuốn sách “Changing Culture: New Organizational Approaches” cho rằng: “Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp”. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” (Nguyễn Mạnh Quân, 2006). Cùng các quan điểm trên, tại Việt Nam cũng có nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu và đưa ra các khái niệm khác nhau về văn hóa doanh nghiệp.TS Phạm Xuân Nam (1996): “Văn hoá doanh nghiệp bao gồm một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng thống nhất và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hoạt động của từng thành viên.TS Đỗ Minh Cương (2001): “Văn hóa doanh nghiệp (Văn hóa công ty) là một dạng của văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó” (Đỗ Minh Cương, 2001) SVTH: Lê Thị Quỳnh Như 15 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Nhật Anh Theo PGS.TS Dương Thị Liễu (2008), “ Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả thành viên trong doanh nghiệp.” Có thể thấy, văn hóa doanh nghiệp có thể được hiểu theo rất nhiều cách khác nhau.