CHƯƠNG 1 Ở chương này, tác giả đã trình bày về lý do thực hiện nghiên cứu, đi kèm với đó là câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu và phạm vi đối tượng nghiên cứu để người đọc hiểu rõ hơn về trọng tâm bài nghiên cứu mà tác giả sẽ thực hiện. 7 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ RỦI RO KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH Giới thiệu Chương 2, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết về trách nhiệm xã hội (CSR) và rủi ro kiệt quệ tài chính cùng với đó là một số lý thuyết liên quan. Ngoài ra, ở chương này cũng sẽ lược khảo một số nghiên cứu về trách nhiệm xã hội trước đây để làm tiền đề cho việc thực hiện nghiên cứu trách nhiệm xã hội của hơn 20 doanh nghiệp hàng tiêu dùng niêm yết tại Việt Nam.1 Tổng quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) Hiện đã có nhiều nghiên cứu cũng nhƣ các khái niệm về trách nhiệm xã hội nhƣng các khái niệm này vẫn còn khác nhau về nhiều mặt khi mỗi nghiên cứu lại có những cái nhìn khác nhau về khái niệm “Trách nhiệm xã hội” này. Theo đó, Friedman (1970) cho rằng trách nhiệm xã hội không thuộc về doanh nghiệp mà thuộc về chủ sở hữu hay giám đốc điều hành doanh nghiệp đó, ông nói rằng trách nhiệm xã hội duy nhất của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận về mặt kinh tế cho các cổ đông.
Mặt khác theo Bowen (1953), trách nhiệm xã hội là đề cập đến nghĩa vụ của các doanh nhân trong việc theo đuổi các chính sách đó, đƣa ra các quyết định hoặc tuân theo các hành động mong muốn để đạt đƣợc mục tiêu và giá trị của xã hội. Bên cạnh đó, ông còn mô tả rằng “trách nhiệm xã hội” là “trách nhiệm công đồng”, “nghĩa vụ xã hội” và “đạo đức kinh doanh”. Ngoài ra, theo tác giả Hà Thị Thủy (2019), trách nhiệm xã hội có thể hiểu rằng bản chất hoạt động của doanh nghiệp không thể chỉ vì lợi nhuận mà doanh nghiệp ngay từ đầu đã phải đóng vai trò của một “công dân” trong xã hội với tất cả các nghĩa vụ và quyền lợi thích hợp của mình trong đó. 8 Theo Carroll (1979), khái niệm trách nhiệm xã hội phải thể hiện đƣợc bốn trách nhiệm thuộc phạm trù kinh tế, pháp lý, đạo đức và sự từ thiện thể hiện đồng thời trong hoạt động kinh doanh.
Tuy có nhiều nhận định khác nhau về khái niệm trách nhiệm xã hội nhƣng tóm lại đều nhằm để giúp doanh nghiệp hiệu quả hơn trong việc cải thiện từ lợi nhuận đến hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt của các bên liên quan từ các cổ đông đến khách hàng hay cả là cộng đồng.1 Các cách tiếp cận trách nhiệm xã hội 2.1 Tiếp cận theo tháp trách nhiệm xã hội Theo Mô hình “Kim tự tháp trách nhiệm xã hội” của Carroll (1979) nhƣ sau: Biểu đồ 2-1 Mô hình “Kim tự tháp trách nhiệm xã hội” của Carroll (1979) Trách nhiệm từ thiện/ nhân đạo Trách nhiệm đạo đức Trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm kinh tế Nguồn: Archie B. Carroll (1979) 9 Kim tự tháp CSR đƣợc tác giả Archie B. Carroll nghiên cứu và đƣa ra đƣợc các tác giả nhƣ Hà Thị Thủy, Lê Minh Hiếu dựa trên để thực hiện nghiên cứu. Mô hình này đƣợc đƣa ra vào giai đoạn cuối của những năm 70, cũng chính vì lý do này mà đây là mô hình đƣợc xem là khái quát hơn so với các khái niệm trƣớc đó về trách nhiệm xã hội của Bowen (1953) hay Friedman (1970).
Cụ thể về các phạm trù trách nhiệm đƣợc đề cập trong mô hình “Kim tự tháp trách nhiệm xã hội” nhƣ sau: Đầu tiên, trách nhiệm kinh tế (economic responsibility), đƣợc hiểu là trách nhiệm tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông cùng với đó là việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho cộng đồng nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế. Thứ hai, trách nhiệm pháp lý (legal responsibility), đƣợc tác giả Carroll (1979) định nghĩa rằng đây có thể xem là “khế ƣớc xã hội” của doanh nghiệp khi mà ở đó họ đƣợc xã hội cho phép đảm nhận vai trò sản xuất trong nền kinh tế. Do đó, có thể hiểu đây là trách nhiệm mang tính pháp lý của doanh nghiệp khi họ phải thực hiện trách nhiệm kinh tế trong khuôn khổ mà pháp luật nhà nƣớc cho phép. Thứ ba, trách nhiệm đạo đức (ethical responsibility), ngoài hai trách nhiệm đã đƣợc đề cập nhƣ trên nhƣ trách nhiệm về kinh tế hay pháp lý phần nào hình thành tiêu chuẩn đạo đức nhƣng có những chuẩn mực đƣợc xã hội trông đợi có thể xem là luật bất thành văn mà doanh nghiệp phải tuân theo.
Cuối cùng, trách nhiệm từ thiện/ nhân đạo (discretionary responsibility), khác với trách nhiệm đạo đức khi đây là hoạt động mang tính tự nguyện và vƣợt trên những kì vọng của xã hội. Do đó, khó có thể xem đây là trách nhiệm của doanh nghiệp nhƣng đâu đó vẫn có sự mong đợi từ xã hội mà doanh nghiệp phải đáp ứng. Ngoài ra, việc tiếp cận theo mô hình “Kim tự tháp trách nhiệm xã hội” của Carroll (1979) cho thấy đƣợc bốn phạm trù trách nhiệm mà mỗi doanh nghiệp cần thực 10 hiện đối với xã hội thì còn có thể tiếp cận theo các bên liên quan để hiểu rõ hơn các bên mà doanh nghiệp cần thực hiện trách nhiệm của họ.2 Tiếp cận theo các bên liên quan Nhƣ đã đề cập, ngoài cách tiếp cận theo mô hình của Carroll (1979) thì các doanh nghiệp còn có cách tiếp cận khác theo các bên liên quan đến doanh nghiệp bao gồm cổ đông, ngƣời tiêu dùng, nhà cung cấp, nhân viên, môi trƣờng và cộng đồng. (Jensen, 2002; Freeman, 1984) Và theo cách tiếp cận này ta có đƣợc sơ đồ nhƣ sau: Biểu đồ 2-2 Mô hình tiếp cận các bên liên quan Ngƣời tiêu Nhân viên dùng Nhà cung Môi trƣờng cấp Cổ đông Doanh nghiệp Cộng đồng Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 11 2.2 Đo lƣờng trách nhiệm xã hội (CSR) Để đo lƣờng đƣợc trách nhiệm xã hội có tƣơng đối nhiều những cách khác nhau nhƣ việc đo lƣờng bằng cách thu thập dữ liệu chỉ số danh tiếng MSCI ESG để đánh giá nhƣ nhóm tác giả S.
Boubaker và cộng sự (2020) hay nhóm tác giả Zheng, Y. (2019) thực hiện hoặc sử dụng chỉ số xếp hạng KLD nhƣ tác giả Baskentli Sara và cộng sự đã từng làm. Và các cách trên đều đƣợc áp dụng phổ biến để thực hiện các nghiên cứu liên quan đến CSR. Tuy nhiên, các doanh nghiệp tại Việt Nam trong những năm gần đây mới thực sự coi trọng việc thực hiện các trách nhiệm về mặt xã hội nên những báo cáo liên quan đến môi trƣờng và trách nhiệm xã hội hay báo cáo phát triển bền vững nhƣng chỉ có các doanh nghiệp lớn nhƣ Sabeco (Tổng công ty Bia – Rƣợu – Nƣớc giải khát Sài Gòn), Vinamilk (Công ty cổ phần sữa Việt Nam) hay tập đoàn Masan (Masan Group) là có những báo cáo đầy đủ nhất về trách nhiệm xã hội, còn ở các doanh nghiệp nhỏ hơn chỉ ở mức tƣơng đối hoặc thậm chí là có những năm không có báo cáo nào liên quan đến trách nhiệm xã hội.
Do vậy, ở đề tài nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng bảng khảo sát của tác giả Abott (1979) nghiên cứu và đƣa ra để đánh giá báo cáo thƣờng niên của 22 doanh nghiệp hàng tiêu dùng niêm yết tại Việt Nam, từ đó sẽ đƣa ra đƣợc chỉ số trách nhiệm xã hội cần thiết để tổng hợp dữ liệu cho nghiên cứu.3 Lý do các doanh nghiệp nên đầu tƣ vào trách nhiệm xã hội Tại Việt Nam, các doanh nghiệp trong những năm gần đây mới thực sự chú trọng đến vấn đề về môi trƣờng và xã hội, từ những vụ việc nhƣ đã đề cập ở chƣơng 1 về các vấn đề xả thải chƣa qua xử lý ra môi trƣờng. Cùng với đó là sự quan tâm đặc biệt của xã hội trong những năm gần đây trong việc cải thiện môi trƣờng càng cho thấy đƣợc tầm quan trọng của trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội. 12 Cụ thể hơn, các nghiên cứu của S. Boubaker và cộng sự (2020), A.
Al-Haldi và cộng sự (2019) hay Tristiarini, N. (2017) cũng chỉ ra rằng việc chú trọng các vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể giúp doanh nghiệp cải thiện hình ảnh trong mắt xã hội đồng thời cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp đó. Tóm lại, việc thực hiện các vấn đề liên quan đến CSR có thể giúp cho doanh nghiệp trở nên tốt hơn về nhiều mặt từ hình ảnh doanh nghiệp đến tình hình tài chính. Vì những lý do nêu trên, doanh nghiệp hoạt động tạo ra lợi nhuận từ xã hội nhằm thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế thì cũng sẽ chịu những áp lực từ xã hội nhƣ môi trƣờng cộng đồng, ngƣời tiêu dùng và ngƣời lao động của chính doanh nghiệp đó, theo McWilliams và cộng sự (2001).
Biểu đồ 2-3 Mô hình áp lực của các khía cạnh của trách nhiệm xã hội Áp lực môi trƣờng Áp lực Áp lực Doanh ngƣời lao cộng nghiệp động đồng Áp lực ngƣời tiêu dùng Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 13 Áp lực môi trƣờng Vấn đề môi trƣờng luôn là chủ đề nóng đƣợc xã hội quan tâm, việc thực hiện đúng trách nhiệm để các vấn đề liên quan từ việc tiêu thụ năng lƣợng và tiêu thụ nƣớc tránh gây lãng phí đến việc xử lý nƣớc thải hay chất thải dù là vô ý hay cố tình thì việc không để gây ô nhiễm môi trƣờng nên cần đƣợc lƣu tâm. Hơn nữa, ngoài các vấn đề trên thì việc xây dựng, triển khai các kế hoạch nhằm tạo một môi trƣờng “xanh, sạch, đẹp” xung quanh nơi sản xuất để các công nhân có một môi trƣờng tốt để làm việc qua đó nâng cao năng suất làm việc của ngƣời lao động, cộng vào đó là tạo thêm thiện cảm đối với ngƣời tiêu dùng. Áp lực ngƣời lao động Ngành sản xuất là một trong những ngành đặc biệt cần nhiều nguồn lực mà cụ thể ở đây là ngƣời lao động, nhƣ đã đề cập trƣớc đó ngƣời lao động quyết định trực tiếp đến năng suất của doanh nghiệp. Do đó, việc chăm lo cho ngƣời lao động cũng cần đƣợc chú trọng nhƣ lƣơng, thƣởng hấp dẫn giúp cho mỗi ngƣời lao động đều có động lực riêng để làm việc cũng nhƣ đảm bảo an toàn, phúc lợi xã hội cho công nhân để họ an tâm làm việc.
Thêm nữa, do số lƣợng ngƣời lao động có tay nghề cao không nhiều nên doanh nghiệp cũng cần tổ chức đào tạo để nâng cao hiệu quả làm việc của họ.