chương 1 này, với mục đích đưa ra các nhìn khái quát về đề tài, đồng thời giúp người đọc có thể dễ dàng nắm bắt trọng tâm của khóa luận. Tác giả đã trình bày vấn đề cần nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra những vấn đề cốt lõi của khoán luận như mục tiêu, câu hỏi, đối tượng phạm vi, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và cuối cùng là kết cấu của khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Giới thiệu Chương 2 tác giả tiến hành, đi sâu vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến trách nhiệm xã hội và rủi ro kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp, cũng như xác định khoảng trống trong nghiên cứu.
Đầu tiên, nội dung gồm có khái niệm về trách nhiệm xã hội và rủi ro kiệt quệ tài chính. Thứ hai, các lý thuyết liên quan và các nghiên cứu thực nghiệm của các quốc gia khác nhau và Việt Nam trên phương diện trách nhiệm xã hội và rủi ro kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp, để có góc nhìn tổng quát về mối liên hệ này.1 Tổng quan về trách nhiệm xã hội (CSR) 2.1 Khái niệm Khái niệm “trách nhiệm xã hội” đƣợc biết đến từ thập niên ba mƣơi thế kỷ XIX và tiếp tục đƣợc bàn luận, hoàn thiện vào những năm của thế kỷ 20. Theo đó mỗi doanh nghiệp, mỗi nền kinh tế khác nhau đều có cách nhìn nhận khác nhau về “trách nhiệm xã hội”. Theo Bowen (1953) giải thích rằng trách nhiệm xã hội- CSR là định nghĩa dùng để đề cập đến những nghĩa vụ của doanh nghiệp để theo đuổi những chính sách, để thực hiện những quyết định hay thực hiện những hoạt động để đạt đƣợc các mục tiêu đặt ra và những giá trị xã hội.
Frederick (1960) thì lại cho rằng trách nhiệm xã hội- CSR là cách doanh nghiệp cần phải xây dựng hoạt động kinh tế một cách có hệ thống nhằm đáp ứng sự mong đợi của công chúng”. Theo Carroll (1979) khái niệm CSR sẽ bao gồm những đòi hỏi tại một thời điểm bất kỳ về tài chính, đạo đức cũng nhƣ luật pháp và cả sự từ thiện của cộng đồng với một tổ chức. Còn có nhiều quan điểm nhìn nhận trái ngƣợc nhau đối với CSR, tuy nhiên nhìn chung thuật ngữ CRS đƣợc đặt ra nhằm giải quyết vấn đề khi mà công ty quản lý tài sản của xã hội nhƣng không đƣợc gây tổn hại cho quyền và lợi ích của xã hội, mặt khác công ty cũng có trách nhiệm bồi thƣờng cho các thiệt hại do họ gây ra đối 8 với xã hội và trách nhiệm xã hội cũng là trách nhiệm của công ty để họ có thể mang lại lợi ích đối với xã hội và cộng đồng bên cạnh việc họ làm ra lợi nhuận giúp doanh nghiệp duy trì sự phát triển bền vững.2 Các cách tiếp cận trách xã nhiệm xã hội Tiếp cận theo mô hình kim tự tháp: Theo khái niệm nhƣ sau: Biểu đồ 2-1: Mô hình "Kim tự tháp trách nhiệm xã hội" • Trách nhiệm từ thiện/nhân đạo Có đóng góp tích cực các nguồn lực cho cộng đồng và xã hội. • Trách nhiệm đạo đức Đề cao việc coi trọng yếu tố hợp lý, đúng đắn, công bằng trong quá trình thực hiện.
• Trách nhiệm pháp luật/ pháp lý Thực hiện tuân thủ đúng pháp luật. • Trách nhiệm kinh tế Tạo ra lợi nhuận Nguồn: Carroll (1979) Kim tự tháp CSR đƣợc giáo sƣ Archie Carroll đƣa ra đã đƣợc khá nhiều nghiên cứu áp dụng vì sự tổng quát của nó. Định nghĩa Carroll là một trong các quan điểm đƣợc nêu ra vào những năm cuối cùng của thế kỉ 20, vì vậy, nó đƣợc coi là tổng quát hơn các lý thuyết trƣớc đây bởi vì nó đã bao gồm hầu hết những vấn đề hiện nay và do đó đƣợc hiểu bằng hầu hết những phƣơng pháp tiếp cận xác định CSR. Trong mô hình carroll theo đuổi những quan điểm cơ bản sau đây Trách nhiệm kinh tế (economic responsibility): đây là việc làm để doanh nghiệp hoạt động có trách nhiệm và tối ƣu hoá lợi nhuận v.
Có trách nhiệm về mặt kinh tế cũng có nghĩa là doanh nghiệp sẽ tạo thêm và duy trì việc làm trong xã hội và cung cấp hàng hoá, dịch vụ thân thiện và không có hại cho môi trƣờng. 9 Trách nhiệm pháp luật/pháp lý (legal responsibility): Đây là một yêu cầu mà một DN tối thiểu cần phải thực hiện, theo đó họ buộc phải chấp hành, tuân thủ theo luật pháp trong nƣớc và quốc tế, không đƣợc nằm ngoài khuôn khổ của các quy định này. Theo carroll trách nhiệm đạo đức và pháp luật là trách nhiệm không thể thiếu của CSR (Carroll, 1979). Trách nhiệm đạo đức (ethical responsibility): Bên cạnh việc chấp hành tốt các quy định pháp luật, doanh nghiệp cần phải thực hiện theo những quy định và chuẩn mực của xã hội ngay cả khi không nằm trong khuôn khổ phải bắt buộc tuân thủ theo – đây là các chuẩn mực cơ bản của đời sống xã hội.
Trách nhiệm xã hội dù chỉ mang tính chất tình nguyện song vẫn là tính chất trung tâm của CSR (Carroll, 1979). Trách nhiệm từ thiện (philanthropic responsibility): Đây là trách nhiệm không nằm trong các yêu cầu của xã hội mà sẽ mang tính chất tình nguyện hoàn toàn. Trách nhiệm xã hội thƣờng đề cập đến việc trở thành một "công dân tốt" và tích cực thay đổi môi trƣờng xung quanh. Tuy nhiên, nếu DN thực hiện tốt ba yếu tố của trách nhiệm xã hội là tài chính, pháp luật và đạo đức thì cũng đƣợc xem là đã làm đƣợc việc mà xã hội mong muốn (Carroll, 1979).
Tiếp cận theo các bên liên quan: Bên cạnh phƣơng pháp tiếp cận đƣợc nêu ra trong Carroll (1979) thì một số tổ chức xã hội cũng đã tiếp cận theo một hƣớng khác, đó là phƣơng pháp tiếp cận theo từng bên liên quan (stakeholder). Một doanh nghiệp theo mô hình lý tƣởng của CSR là những ngƣời hay tổ chức có lợi ích và trách nhiệm xã hội liên quan cũng nhƣ chịu sự ảnh hƣởng trực tiếp từ những hành động của DN. Theo đó, những bên liên quan là cổ đông, khách hàng/chủ sở hữu doanh nghiệp, nhà cung cấp, cũng nhƣ cộng đồng, khách hàng và những chủ thể khác gồm hiệp hội và cả các cơ quan quản lý nhà nƣớc hay các tổ chức phi lợi nhuận hay những tổ chức quốc tế (Freeman, 1984). Theo cách tiếp cận của các bên liên quan thì tổ chức không những chịu trách nhiệm với lợi ích cổ đông của mình mà phải "đảm bảo đƣợc quyền lợi của một 10 nhóm các bên liên quan có ảnh hƣởng hoặc chịu tác động đến khả năng thực hiện đƣợc những mục đích của tổ chức" (Freeman, 1984).
Biểu đồ 2-2: Mô tả tiếp cận theo các bên liên quan Cổ Đông Nhà Nhân Cung Viên Cấp CSR Sản Khách Phẩm Hàng Cộng Đồng Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 2.3 Đo lƣờng trách nhiệm xã hội (CSR) Đây là một yêu cầu tối thiểu cho tất cả doanh nghiệp, họ buộc phải tuân theo các luật trong nƣớc và quốc tế chứ không đƣợc nằm ngoài khuôn khổ của những quy định chung. Theo tôi trách nhiệm đạo đức và luật pháp là trách nhiệm căn bản không thể thiếu của CSR (Carroll, 1979). Đồng thời, doanh nghiệp vẫn phải chấp hành theo một số quy định, luật lệ của xã hội ngay cả khi không nằm trong khuôn khổ phải bắt buộc làm theo và đây là một số chuẩn mực đạo đức của đời sống xã hội. Trách nhiệm xã hội mặc dù vẫn mang tính chất cá nhân tuy nhiên nó là tính chất cốt lõi của CSR (Carroll, 1979).
Đây là trách nhiệm không nằm trong sự bắt buộc của xã hội mà lại là tính chất tự nguyện hoàn toàn. Trách nhiệm xã hội đề cập đến việc trở thành một "công dân tốt", tham gia xây dựng môi trƣờng chung quanh. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp làm 11 tốt ba trách nhiệm xã hội là tài chính, xã hội, đạo đức thì cũng đƣợc cho là đã đạt đƣợc mục tiêu mà xã hội trông đợi (Carroll, 1979). Bên cạnh phƣơng pháp tiếp cận đƣợc đƣa ra trong Carroll (1979) thì một số tổ chức quốc tế khác đã tiếp cận theo một hƣớng khác, đó là một cách tiếp cận theo những bên liên quan (stakeholder).
Một doanh nghiệp theo mô hình định nghĩa của CSR là những cá nhân hay tổ chức có nghĩa vụ, trách nhiệm, có quyền và chịu trách nhiệm với những quyết định của doanh nghiệp. Theo đó, các bên liên quan là tổ chức, cổ đông/chủ sở hữu doanh nghiệp, đối tác, khách hàng, cộng đồng cùng những bên khác gồm cơ quan nhà nƣớc, tƣ nhân, các tổ chức phi lợi nhuận hay một số tổ chức quốc tế (Freeman, 1984). Theo quan điểm tiếp cận của các bên liên quan không chỉ tổ chức phải chịu trách nhiệm với những vấn đề của tổ chức và phải "giải quyết đƣợc lợi ích của một nhóm hoặc bên liên quan có lợi ích không bị chi phối đối với việc đạt đƣợc một số mục tiêu của tổ chức" (Freeman, 1984).4 Lý do nên đầu tƣ vào trách nhiệm xã hội Ngày nay ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm xã hội đã bƣớc đầu đƣợc đề cập rộng rãi hơn nữa, bắt đầu từ chính sách lao động, tiền lƣơng thƣởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội là một trong các nhân tố then chốt đối với sự thành công của doanh nghiệp, vì vậy sự kết hợp các yếu tố nội tại và tác động bên ngoài cũng với sự tăng cƣờng tham gia vào các hoạt động xã hội của doanh nghiệp sẽ góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động của chính doanh nghiệp trong tƣơng lai.
Sang Jun Cho và cộng sự (2019) cũng đã chỉ ra các hoạt động CSR của doanh nghiệp thông qua hoạt động tuyên truyền với ngƣời dùng, nhà đầu tƣ và công chứng là nền tảng để cải thiện năng lực cạnh trạng của DN trên thƣơng trƣờng. Các nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra rằng trên con đƣờng xây dựng trách nhiệm xã hội thì những nhà quản lý DN cũng thƣờng phải gánh chịu sức ép từ những bên liên quan khác nhau về việc phân bổ tài chính để thực hiện trách nhiệm 12 xã hội. Những áp lực đến từ những bên liên quan: ngƣời lao động, khách hàng, cộng đồng và cả những tổ chức khác (McWilliams & cộng sự, 2001).