phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quân đội – Hội sở Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quân đội – Hội sở 9 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM Doanh nghiệp là một trong những chủ thể của nền kinh tế quốc dân và chiếm vị trí quan trọng trong danh mục KH vay vốn của các NHTM.
Chính vì vậy, khi nói đến hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp là nói đến hoạt động cho vay đối với nền kinh tế của ngân hàng. Theo Điều 2, Thông tƣ 39/2016/TT-NHNN do NHNN ban hành ngày 30/12/2016 Quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đối với khách hàng: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Nhƣ vậy có thể thấy, cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất của NHTM. Để ngân hàng tồn tại và vững chắc, hoạt động cho vay phải an toàn và hiệu quả.
Ngân hàng trao quyền sử dụng vốn cho khách hàng, khách hàng dùng số vốn này đầu tƣ vào SXKD kiếm lời, đảm bảo trả nợ gốc và lãi cho NHTM. Phân loại hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM Căn cứ vào thời hạn cho vay Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với NHTM vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng nói chung cũng nhƣ khả năng hoàn trả của KH: Thời gian cho vay càng dài thì rủi ro càng lớn nên lãi suất càng cao. Hơn nữa, việc phân chia theo thời gian còn 10 giúp NHTM đảm bảo sự phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động đƣợc và số tiền cho vay. Theo thời gian, các khoản vay của NH đƣợc phân thành: + Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và đƣợc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lƣu động cho các DN và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
+ Cho vay trung hạn: Là các món vay có khoảng thời gian trên 12 tháng đến 60 tháng. Cho vay trung hạn chủ yếu đƣợc mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh, hình thành vốn lƣu động thƣờng xuyên của các DN, đặc biệt là những DN mới thành lập… + Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm. Cho vay dài hạn nhằm mục đích tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản nhƣ xây dựng nhà ở, sân bay, cầu đƣờng, các thiết bị, phƣơng tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới… Phân loại theo phương pháp hoàn trả: Cho vay trả góp là hình thức cho vay mà khi vay vốn tổ chức tín dụng và KH xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay KH phải trả cộng với số nợ gốc chia ra để trả trong nhiều kỳ hạn trong thời gian vay. Loại cho vay này áp dụng với những khoản vay có giá trị lớn, hoặc thu nhập của ngƣời vay không đủ để trả nợ trong một kỳ.
Thông thƣờng, cho vay trả góp có thể thực hiện theo các phƣơng pháp: + Phƣơng pháp trả vốn gốc bằng nhau và trả lãi theo số dƣ vào cuối mỗi định kỳ. + Phƣơng pháp trả vốn gốc và lãi bằng nhau trong tất cả các định kỳ. Cho vay phi trả góp là loại cho vay đƣợc thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thỏa thuận. Cho vay hoàn trả theo yêu cầu (áp dụng trong trƣờng hợp 11 cho vay thấu chi).
Phân loại theo xuất xứ tín dụng: Dựa vào căn cứ này, cho vay KHDN đƣợc chia thành: Cho vay trực tiếp: Đây là hình thức cho vay mà ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho ngƣời có nhu cầu, đồng thời ngƣời đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay đƣợc thực hiện thông qua việc mua lại các khế ƣớc hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay vốn: Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Là loại cho vay mà ngân hàng cung ứng với điều kiện KH vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Cho vay có bảo đảm không phải bằng tài sản: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của bản thân KH, cho vay theo chỉ định của Chính phủ.
Vai trò của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM Vai trò đối với nền kinh tế quốc gia Mức độ đóng góp của DN vào nền kinh tế ngày càng lớn. Không chỉ tăng trƣởng về mặt số lƣợng, các DN đang trở thành bộ phận quan trọng có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế. Số liệu thống kê cho thấy các doanh nghiệp này đóng góp sử dụng trên 90% số lao động có việc làm thƣờng xuyên. Đây là bộ phận có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, lƣu thông hàng hoá, cung ứng dịch vụ, là các vệ tinh gắn kết, hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế.
Phát triển DN luôn là vấn đề đƣợc Đảng và Nhà nƣớc rất chú trọng, đƣợc coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lƣợc phát triển 12 kinh tế xã hội của nƣớc ta. Trong tƣơng lai, môi trƣờng hoạt động của các doanh nghiệp này sẽ đƣợc cải thiện, các chính sách hỗ trợ sẽ đƣợc thực thi tốt hơn, có hiệu quả hơn và do đó các DN sẽ có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Việt Nam đang trong xu hƣớng xoá bỏ độc quyền, tạo lập môi trƣờng cạnh tranh bình đẳng. Trƣớc sức ép của hội nhập, quy mô của nhiều DNNN hiện nay sẽ thu hẹp, song song với việc cổ phần hoá từng phần hoặc toàn bộ các DNNN này thì các công ty mới, nhỏ hơn cùng ngành ra đời.
Chính bản thân một số doanh nghiệp đƣợc coi là lớn hiện nay không có tiềm lực kinh tế thực sự; khu vực Nhà nƣớc, nơi tập trung hầu hết các doanh nghiệp lớn hiện nay, đã và đang bộc lộ tính kém hiệu quả. Vai trò đối với NHTM Các DN từ trƣớc đến nay vẫn bị coi là nhóm khách hàng có độ rủi ro và chi phí giao dịch lớn. Tuy nhiên nếu thực hiện tốt công tác thẩm định và sàng lọc thì ngân hàng có thể duy trì một danh mục khách hàng hiệu quả. Việc ngân hàng phát triển cho vay đối với DN đem lại các lợi ích cơ bản sau: - Phân tán rủi ro: Do số lƣợng khách hàng DN lớn trải rộng trên hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực nên việc cho vay các đối tƣợng này sẽ giúp phân tán rủi ro của các danh mục cho vay.
- Tạo điều kiện để tăng thu dich vụ ngân hàng do tổng số lƣợng giao dịch lớn, các DN lại thƣờng có xu hƣớng sử dụng trọn gói dịch vụ tại một ngân hàng do đó tạo cơ hội để ngân hàng nâng cao và thay đổi dần cơ cấu thu nhập. - Khai thác tối ƣu mạng lƣới chi nhánh rộng khắp trên cả nƣớc: Do các DN có địa bàn hoạt động trải rộng trên cả nƣớc nên các ngân hàng có thể khai thác tối ƣu mạng lƣới chi nhánh tại hầu hết các tỉnh, thành phố. 13 Vai trò đối với DN Vai trò quan trọng nhất của cho vay ngân hàng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh của các DN. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp duy trì đƣợc hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của doanh nghiệp phải đồng thời ở cả ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và lƣu thông.
Hiện tƣợng thừa, thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra ở các doanh nghiệp, khi đó cho vay đã góp phần điều tiết các nguồn vốn nhằm tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không bị gián đoạn. Nhờ đó mà các doanh nghiệp có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng nhƣ tốc độ tiêu thụ sản phẩm. Giúp KHDN nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Muốn tiếp cận đƣợc nguồn vốn cho vay ngân hàng đòi hỏi DN phải xây dựng đƣợc phƣơng án sản xuất kinh doanh khả thi, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động, đem lại lợi nhuận để thực hiện tốt các điều khoản trong hợp đồng cho vay, đảm bảo hoàn trả gốc và lãi đúng hạn. Do vậy, cho vay ngân hàng thúc đẩy doanh nghiệp phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả đƣợc nợ và kinh doanh có lãi.
Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trƣớc, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả. Giúp hình thành cơ cấu vốn tối ƣu cho DN: Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ƣu hóa hiệu quả sử dụng vốn. Đối với nhiều doanh nghiệp do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì nguồn vốn hạn chế. Nếu chỉ sử dụng nguồn vốn này thì giá vốn sẽ cao, sản phẩm khó đƣợc thị trƣờng chấp nhận, hơn nữa khó có khả năng đầu tƣ mở rộng sản xuất và nâng cao chất lƣợng sản phẩm.
Do vậy, để có một cơ cấu vốn hiệu quả, kết cấu hợp lý là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất.