CHƯƠNG 1 Tác giả trình bày khái quát về bài nghiên cứu và đưa ra cơ sở cho các chương tiếp theo. Ở chương này, tác giả đã nhận thấy được ngành ngân hàng là một trong những ngành có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng của một đất nước. Cụ thể, hoạt động cấp tín dụng chính là nguồn tài trợ vốn giúp cho các doanh nghiệp và các chủ thể trong xã hội phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Để thấy rõ và cụ thể hơn các yếu tố tác động đến TTTD tại NHTM, tác giả sẽ tiến hành thực hiện xây dựng cơ sở lý thuyết cùng với các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài ở chương 2.
8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về tín dụng của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm tín dụng Dương Thị Hoàn (2020, trang 10) cho rằng “tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với khách hàng, trong đó ngân hàng chuyển nhượng cho khách hàng quyền sử dụng một lượng giá trị (dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả”. Ngoài ra, tín dụng là việc cung cấp tiền hoặc các yêu cầu tương đương dựa trên thỏa thuận hoặc thỏa thuận cho vay giữa ngân hàng và một bên khác yêu cầu người đi vay phải trả nợ sau một thời gian nhất định kèm theo lãi suất (Mushinski, 1999). Khi cấp tín dụng cho khách hàng cần có chính sách để tạo ra hệ thống quản lý tín dụng tốt. Chính sách cung cấp tín dụng là một trong những chính sách mà các ngân hàng thường thực hiện nhằm tăng khối lượng cho vay, từ đó sẽ làm tăng lợi nhuận (Stiglitz và Weiss, 1981).
Ngân hàng là tổ chức trung gian giữa đơn vị thặng dư và đơn vị thâm hụt. Hơn nữa, phân luồng tín dụng là một nghĩa vụ đạo đức của ngân hàng, có thể nói như vậy vì nguồn vốn ngân hàng chính đến từ cộng đồng, nên việc các ngân hàng phải phân phối lại cho công chúng dưới hình thức tín dụng là điều đương nhiên (Botello Peñaloza, 2015). Tóm lại, tín dụng ngân hàng là một thuật ngữ có nhiều ý nghĩa trong thế giới tài chính. Nói chung, nó được định nghĩa là một hợp đồng được ký kết và thỏa thuận giữa hai bên là ngân hàng và các chủ thể trong xã hội.
Trong đó, ngân hàng là bên cấp tín dụng, còn các chủ thể trong xã hội là bên nhận tín dụng, dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi cùng với những điều kiện được hai bên thỏa thuận trong một khoảng thời gian nhất định.2 Đặc điểm của tín dụng Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), hoạt động tín dụng thường có những đặc điểm như sau: 9 Thứ nhất, tín dụng được dựa trên cơ sở lòng tin, đây là yếu tố quyết định một khoản tín dụng. Để ngân hàng có thể đưa ra quyết định cấp tín dụng cho người đi vay thì trước hết phải xem xét người đi vay có thiện chí trả nợ và khả năng trả nợ đúng thời hạn như đã cam kết hay không. Đây cũng là đặc điểm quan trọng nhất của tín dụng và là cơ sở để tạo ra các đặc điểm tiếp theo. Thứ hai, tín dụng chính là sự chuyển nhượng tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả.
Bởi vì ngân hàng đóng vai trò trung gian trong hoạt động “đi vay để cho vay” nên để đảm bảo cho các ngân hàng có thể hoàn trả được số vốn huy động thì mọi khoản tín dụng đều phải có kỳ hạn. Vì vậy, ngân hàng cần xác định thời hạn cho vay hợp lý dựa trên tính chất thời hạn của nguồn vốn và quá trình luân chuyển vốn của người đi vay. Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn thì có thể cấp khoản tín dụng dài hạn và ngược lại. Ngoài ra, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của người đi vay, điều này giúp người đi vay có khả năng trả nợ đúng hạn.
Thứ ba, tín dụng được dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị ban đầu lúc cho vay. Nói cách khác là ngoài việc hoàn trả đủ giá trị gốc thì các chủ thể đi vay cần phải trả cho ngân hàng thêm một khoản lãi. Để đảm bảo người đi vay có thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay thì NHTM phải cần cân nhắc và xem xét để xác định được thời hạn và kỳ hạn tín dụng hợp lý cho từng khách hàng.
Ngoài ra, lãi suất của khoản vay phải được đảm bảo có sự thích hợp và hài hòa giữa mục tiêu gia tăng lợi nhuận của các ngân hàng và phù hợp với chính sách lãi suất do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành. Thứ tư, sự hoàn trả trong tín dụng phải dựa trên cơ sở là cam kết hoàn trả vô điều kiện khi đến thời hạn. Đây là ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân theo trong quá trình sử dụng tín dụng của NHTM. Những ràng buộc pháp lý này đều được thể hiện rõ trong nội dung cam kết của các hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng cầm cố, thế chấp, khế ước nhận nợ và các hợp đồng liên quan khác, trong đó người đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện các khoản vay cho ngân hàng.
10 Thứ năm, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng, là tính tất yếu và không thể loại trừ hoàn toàn. Rủi ro sẽ xuất hiện khi người đi vay không có thiện chí trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ theo hợp đồng đã thỏa thuận. Bên cạnh đó, do trong quá trình bên đi vay sử dụng tín dụng gặp khó khăn do môi trường hoạt động kinh doanh thay đổi, điều này không lường trước được và nằm ngoài tầm kiểm soát của người đi vay. Do đó, có thể ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng, từ đó làm giảm đi khả năng trả nợ của người đi vay.
Do vậy, rủi ro tiềm ẩn trong quá trình cấp tín dụng khá cao, các NHTM chỉ có thể hạn chế đi một phần rủi ro đó chứ không thể loại bỏ triệt để.3 Vai trò của tín dụng Tín dụng ngân hàng được coi là một trong những chức năng quan trọng được ngân hàng thực hiện, nó góp phần vào việc cung cấp kinh phí cần thiết cho tất cả các lĩnh vực trong nước, bao gồm cả các lĩnh vực hộ gia đình, kinh doanh và chính phủ. Tín dụng cấp cho các lĩnh vực này được coi là quan trọng để thực hiện nhiệm vụ của họ trong kinh doanh, hoạt động và đầu tư, giúp họ đạt được mức tăng trưởng thực tế về sản lượng, điều này sẽ phản ánh tích cực đối với nền kinh tế nói chung (Acharya, 2009). Bên cạnh đó, nhu cầu tín dụng được thúc đẩy bởi mong muốn của các hộ gia đình nhằm ổn định tiêu dùng trong suốt vòng đời, các doanh nghiệp cần tài trợ cho sản lượng hiện tại và tương lai cũng như kỳ vọng về tỷ suất lợi nhuận trên khoản đầu tư mới (Iossifov và Khamis, 2009). Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), hoạt động cấp tín dụng có những đóng góp quan trọng như sau: Đầu tiên, tín dụng là công cụ thúc đẩy việc phân bổ vốn và phát triển quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong môi trường kinh doanh, luôn có sự tồn tại giữa những người có nguồn vốn dư thừa và những người thiếu vốn. Quá trình huy động nguồn vốn và tín dụng có sự kết hợp với nhau giúp cho tập trung lượng lớn nguồn vốn nhàn rỗi và chuyển đến những nơi có nhu cầu cần vốn. Các NHTM có thể tập trung lượng lớn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp. Việc cung ứng nguồn vốn kịp thời đến các doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho việc sản xuất kinh doanh được diễn 11 ra liên tục, không bị đứt quãng, đồng thời đây cũng là cơ hội giúp cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng và phát triển quy mô hoạt động kinh doanh của mình.
Thứ hai, tín dụng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế đối ngoại. Với sự hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, thương mại quốc tế đã và đang ngày càng gia tăng. Đây cũng là cơ hội giúp cho nền kinh tế Việt Nam và các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng quan hệ kinh tế và hoạt động kinh doanh ra nhiều nước trên thế giới. Để có thể thực hiện được mục tiêu và chiến lược này thì cần phải có một lượng vốn rất lớn.
Ngoài ra, hoạt động tín dụng quốc tế và thanh toán quốc tế tín dụng ngân hàng được coi là cầu nối giúp các quốc gia dễ dàng kết nối với nhau và mở rộng quan hệ thương mại dễ dàng hơn. Thứ ba, hoạt động tạo ra lợi nhuận quan trọng nhất của các ngân hàng chính là hoạt động tín dụng. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng có thể mở rộng sang nhiều loại hình dịch vụ khác như thanh toán, tiền gửi, giao dịch ngoại tệ, …. Trên cơ sở này, khi các ngân hàng gặp rủi ro tín dụng hoặc gặp khó khăn do việc thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ từ ngân hàng trung ương, họ có thể đa dạng hóa hoạt động kinh doanh nhằm giảm thiểu rủi ro và tăng lợi nhuận.
Cuối cùng, tín dụng góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Tín dụng giúp các hộ gia đình có cơ hội tiếp cận được nguồn vốn dễ dàng hơn nhằm đáp ứng các nhu cầu như mua xe, mua nhà, đầu tư kinh doanh, những khoản vay tiêu dùng, …. Điều này đã hỗ trợ người dân cải thiện được đời sống, góp phần nâng cao thu nhập, đảm bảo đời sống và dễ dàng giải quyết được những vấn đề liên quan đến tài chính.2 Tổng quan về tăng trưởng tín dụng 2.1 Khái niệm tăng trưởng tín dụng Nguyễn Văn Tiến (2013) cho rằng, tăng trưởng tín dụng là việc các NHTM sử dụng các chính sách nhằm gia tăng nguồn vốn huy động từ khách hàng để đáp ứng cho hoạt động cấp tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào những đối tượng là các tổ chức kinh tế, cá nhân, … có nhu cầu vay vốn, từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần và 12 thương hiệu trên thị trường.