CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày tầm quan trọng của lợi nhuận đối với sự tồn tại, hoạt động và phát triển của ngân hàng thương mại dưới cả 2 góc độ vi mô và vĩ mô, đồng thời chỉ rõ tính cần thiết của việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Từ lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và 2 câu hỏi nghiên cứu được đặt ra đó là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng và kiểm định mức độ tác động của chúng. Phương pháp nghiên cứu được lựa chọn là phân tích định lượng, dữ liệu nghiên cứu gồm 28 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 12 năm từ 2012 đến 2023. Ngoài ra, tác giả còn nêu lên những kì vọng về ý nghĩa nghiên cứu của đề tài về mặt lý thuyết và thực tiễn.
Cuối cùng, bố cục tổng quát và nội dung khái quát của từng chương trong đề tài nghiên cứu cũng được thể hiện rõ ràng. Chương này giúp hình dung những nét cơ bản của đề tài, chuẩn bị bước sang các khung lý thuyết có liên quan ở chương sau. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Cơ sở lý thuyết về ngân hàng thương mại và lợi nhuận ngân hàng thương mại 2.1 Ngân hàng thương mại Theo Khoản 23, Điều 4, Luật Các tổ chức Tín dụng 2024 (Số 32/2024/QH15 ban hành ngày 18/01/2024) định nghĩa ngân hàng thương mại: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Cũng dựa trên Khoản 17, Điều 4 luật này: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây (i) Nhận tiền gửi, (ii) Cấp tín dụng, (iii) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.” Như vậy, có thể hiểu NHTM chính là một loại hình doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt là tiền tệ.
Sở dĩ gọi tiền tệ là hàng hóa đặc biệt bởi tính chất riêng biệt của nó, tiền tệ được xem là vật ngang giá chung dùng để trao đổi với hàng hóa, và là thước đo giá trị của tất cả hàng hóa lưu thông trên thị trường. Chức năng chính của ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian thực hiện nhiệm vụ luân chuyển vốn cung ứng cho nền kinh tế. Nguồn vốn được luân chuyển từ nơi nhàn rỗi sang nơi có nhu cầu, ngân hàng thực hiện vòng luân chuyển này từ nghiệp vụ huy động vốn và phân bổ nguồn vốn hợp lý cho nền kinh tế thông qua các hoạt động cho vay và đầu tư. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động kinh doanh và hàng hóa đặc biệt là tiền tệ của NHTM, Ngân hàng Nhà Nước kiểm soát và thực hiện các chính sách điều tiết vĩ mô nền kinh tế, giữ cho nền kinh tế nội địa vận hành ổn định và vững vàng.
Chính bởi tầm quan trọng không thể thiếu của ngân hàng đối với nền kinh tế nói riêng và toàn thể xã hội nói chung, ngân hàng được quy định bởi những điều luật khắt khe 9 và vận hành dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước nhằm bảo đảm sự an toàn và ổn định của dòng tiền lưu thông trong nền kinh tế.2 Lợi nhuận và đo lường lợi nhuận ngân hàng thương mại 2.1 Lợi nhuận ngân hàng thương mại Theo Balasundaram, N. (2009), lợi nhuận là chỉ tiêu cơ bản và quan trọng nhất đối với một doanh nghiệp, quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp đó. Lợi nhuận không chỉ là mục tiêu dài hạn, mà còn đo lường cả thành công và mức tăng trưởng của sản phẩm dịch vụ doanh nghiệp kinh doanh và sự phát triển của thị trường dành cho sản phẩm đó. Nếu doanh nghiệp thất bại trong việc đạt được lợi nhuận, nguồn vốn đầu tư sẽ hao mòn dần và doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại nếu tình huống này cứ mãi tiếp diễn.
Vì vậy, có thể nói lợi nhuận chính là linh hồn của một doanh nghiệp và là kết quả cuối cùng của khả năng sinh lời. Caruntu và Romanescu (2008) cho rằng khả năng sinh lời là khái niệm dùng để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh mà ngân hàng thu được từ quan điểm hiệu quả đối với toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Dựa trên quan điểm về khái niệm, khả năng sinh lời biểu đạt phương thức đạt được các mục tiêu chính từ hoạt động kinh doanh, bao gồm tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện giảm thiểu rủi ro. Từ việc đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp, nhà đầu tư kì vọng đạt lợi nhuận cao.
Lợi nhuận được phân tích dựa trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh từ báo cáo tài chính của một ngân hàng. Đối với bảng cân đối kế toán, số liệu phải được thể hiện dưới dạng bình quân bởi tính chất thời điểm của tài sản và nguồn vốn. Lợi nhuận của ngân hàng thương mại gồm hai loại là lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế: Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – Thuế thu nhập doanh nghiệp Lợi nhuận là tổng kết của kết quả hoạt động kinh doanh chính và hoạt động khác của ngân hàng trong năm, xác định bằng hiệu số giữa tổng thu nhập và các 10 chi phí hợp lý trong năm tài chính. Để có được mức lợi nhuận chính xác nhất, cần xác định đúng các khoản thu nhập và chi phí phát sinh trong năm của ngân hàng.
Thu nhập của ngân hàng thương mại bao gồm các khoản thu nhập từ lãi thuần, đầu tư chứng khoán, góp vốn, mua cổ phần, kinh doanh ngoại hối, thu nhập từ hoạt động dịch vụ,… Các loại chi phải phải trả gồm chi phí lãi, chi phí từ hoạt động dịch vụ và các loại chi phí khác. Để tăng trưởng mức lợi nhuận đạt được, các ngân hàng đang hướng đến nâng cao thu nhập thông qua mở rộng hoạt động kinh doanh, thúc đẩy đầu tư hoặc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, bên cạnh đó giảm thiểu tối đa chi phí phải trả. Tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu được các ngân hàng thương mại chú trọng bên cạnh các yếu tố khác, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và vị thế, thị phần trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh khác. Đứng trên góc độ nhà đầu tư, phân tích lợi nhuận chính là cơ sở để ra quyết định đầu tư, mức lợi nhuận càng cao, khả năng thu hút đầu tư càng cao, từ đó thu hút được nhiều khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Lợi nhuận ngân hàng được đo lường thông qua một số chỉ tiêu tài chính cụ thể.2 Đo lường lợi nhuận ngân hàng thương mại Lợi nhuận ngân hàng thương mại được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu cụ thể, trong đó đa số các bài nghiên cứu của các tác giả đi trước lựa chọn chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) để đo lường lợi nhuận. Vì vậy, tác giả thực hiện phân tích 2 chỉ tiêu này trong luận văn. Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản thể hiện lợi nhuận đạt được của ngân hàng trên một đồng tài sản. Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức: ROA = Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản bình quân ROA là chỉ tiêu tài chính phản ánh hiệu quả quản trị tài sản của một ngân hàng, đo lường khả năng sử dụng tài sản để tạo ra dòng lợi nhuận của hội đồng 11 quản trị.
Nói cách khác, nó phản ánh mức độ hiệu quả mà nguồn lực một ngân hàng được vận hành để tạo ra thu nhập (Ongore và Kusa, 2013). Wen (2010) nhận định rằng ngân hàng có chỉ số ROA càng cao, khả năng sử dụng nguồn lực của ngân hàng đó càng hiệu quả. Tuy nhiên ROA quá cao không phải là một tín hiệu hoàn toàn tốt, bởi ngân hàng sẽ phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao, vì lợi nhuận và rủi ro là hai chỉ tiêu cùng chiều, bên cạnh đó, ROA không chỉ ảnh hưởng bởi nội bộ ngân hàng, mà các yếu tố vĩ mô như lạm phát hay luật pháp quốc gia cũng góp phần tác động đến chỉ tiêu này. Trên thực tế, ROA được sử dụng phổ biến để đánh giá lợi nhuận hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Như vậy, ROA là chỉ tiêu quan trọng trong phân tích tài chính, không chỉ phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư của ngân hàng mà là cơ sở để các nhà đầu tư thực hiện việc ra quyết định. Dữ liệu để xác định ROA được lấy từ bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROE = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu bình quân Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu tài chính đánh giá mức lợi nhuận mà các cổ đông nhận được khi đầu tư đồng vốn vào ngân hàng, phản ánh một đồng vốn đầu tư của cổ đông ngân hàng đem về cho họ bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã khấu trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp. Nói cách khác, ROE thể hiện mức lợi ích mà cổ đông thu được từ dòng vốn đầu tư vào ngân hàng.
Theo Gul và cộng sự (2011), đứng trên phương diện một doanh nghiệp, ROE cho biết mức hiệu quả mà doanh nghiệp đó sử dụng đồng vốn đầu tư của mình để tạo ra tăng trưởng thu trong thu nhập. Như vậy, ROE càng cao thì cơ hội đầu tư càng hấp dẫn đối với các chủ đầu tư, chứng tỏ ngân hàng hoạt động kinh doanh hiệu quả trên vốn đầu tư. ROE cũng là chỉ tiêu toàn diện để đánh giá lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mà đây là mục đích cơ bản và trên hết mà ngân hàng thương mại hướng tới, tăng trưởng mức lợi nhuận nhằm tối đa hóa giá trị lợi ích cho các cổ đông. 12 ROE là chỉ tiêu tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với các cổ đông.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng bao gồm vốn của ngân hàng và các quỹ dự trữ, dữ liệu xác định lấy từ bảng cân đối kế toán trong khi lợi nhuận sau thuế lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.