Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Hà Nội. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư phát triển Việt Nam chi nhánh Hà Nội. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát về dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm Tùy theo từng quan điểm và cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau, hiện nay có một số khái niệm về "Dịch vụ NHBL" được công nhận phổ biến như sau: Thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ” có từ gốc tiếng Anh là “Retail banking”. Theo Từ điển Ngân hàng và Tin học thì :” Retail banking – hoạt động ngân hàng bán lẻ/ nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ/ dịch vụ ngân hàng bán lẻ - là dịch vụ ngân hàng được thực hiện với khách hàng là công chúng , thường là quy mô nhỏ thông qua chi nhánh nhằm đối lập với các dịch vụ ngân hàng cung cấp cho các tổng công ty, các định chế tài chính và những DVNH được cung cấp với số lượng lớn”(Từ điển ngân hàng và tin học, 1996). Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO): dịch vụ ngân hàng bán lẻ là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng nơi mà “các khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những chi nhánh/phòng giao dịch của các NH để thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm và kiểm tra tài khoản, dịch vụ tiền vay, dịch vụ thẻ, dịch vụ giá trị gia tăng và một số dịch vụ khác đi kèm…” Theo các chuyên gia kinh tế của Viện Công nghệ Châu á - AIT, dịch vụ NHBL là “việc ngân hàng cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh mà ở đó, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin.” Một số chuyên gia khác nhìn nhận dịch vụ NHBL trên phương diện nhà cung cấp dịch vụ với khâu phân phối giữ vai trò quyết định.
“Bán lẻ là hoạt động của 7 phân phối mà trong đó triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện, triển khai các kênh phân phối hiện đại mà nổi bật là kinh doanh qua mạng” (Jean Paul Vontron – Ngân hàng Forties). Theo từ điển Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, dịch vụ NHBL là hoạt động cung cấp các sản phẩm chủ yếu cho khách hàng cá nhân với các dịch vụ như tiền gửi tiết kiệm, dịch vụ thẻ, chuyển tiền du học, dịch vụ kiều hối, dịch vụ ngân hàng điện tử, cho vay cá nhân tiêu dùng, sản xuất kinh doanh Từ các khái niệm trên, có thể đưa ra kết luận khái quát về dịch vụ ngân hàng bán lẻ như sau: Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính tới các khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch hoặc việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm DVNH thông qua phương tiện thông tin, điện tử viễn thông.Mishkin, 2001) Khái niệm trên đã khái quát được những điểm chính, đồng thời cũng là những mối quân tâm mà dịch vụ NHBL trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng hướng tới, bao gồm: xác định đối tượng khách hàng (cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ) và nhu cầu của họ; hướng tới xây dựng kênh phân phối các sản phẩm tài chính cho khách hàng (mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, phuong tiện thông tin điện tử,…);… 1. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1.1 Số lượng khách hàng lớn Dịch vụ NHBL là những dịch vụ cung ứng tiện ích và sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng (sử dụng trong sản xuất và sinh hoạt). Đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL bao gồm các cá nhân, các hộ gia đình nên số lượng khách hàng của 8 dịch vụ NHBL rất lớn, dẫn tới sản phầm của dịch vụ NHBL rất lớn về số lượng và và đa dạng về hình thức.2 Bao gồm rất nhiều giao dịch với giá trị của mỗi giao dịch không lớn nên chi phí bình quân trên mỗi giao dịch khá cao Sản phẩm chủ yếu của dịch vụ NHBL nhắm tới các khách hàng cá nhân, DNNVV nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, chi tiêu của họ trong cuộc sống như thanh toán tiền hàng, chuyển khoản, chuyển vốn….
Do vậy giá trị của mỗi một giao dịch đối với các khách hàng nhỏ lẻ này không lớn. Tuy nhiên ngân hàng phải bỏ ra chi phí giống như khi phục vụ một khách hàng bán buôn, nên chi phí bình quân trên mỗi giao dịch của NHBL thường rất cao.3 Nhu cầu khách hàng mang tính thời điểm Ở mỗi giai đoạn của cuộc sống, cùng với sự thay đổi và phát triển của nên kinh tế, con người lại có những mong muốn, nhu cầu khác nhau và mức độ thỏa mãn cũng khác nhau. Điều này đòi hỏi các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ cần phong phú đa dạng, phù hợp với từng giai đoạn, từng điều kiện nhất định. Cùng với sự thay đổi của các điều kiện sống và làm, nhu cầu của con người cũng sẽ thay đổi.
Nếu ngân hàng nào nhanh nhạy trong việc nắm bắt trước các nhu cầu của khách hàng để từ đó tạo ra được sản phẩm làm thỏa mãn họ thì sẽ giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh này.4 Dịch vụ ngân hàng bán lẻ phát triển đòi hỏi hạ tầng kỹ thuật công nghệ hiện đại Do đặc trưng của NHBL là số lượng khách hàng lớn và nhu cầu khách hàng nhạy cảm và mang tính thời điểm nên họ dễ dàng thay đổi nhà cung cấp dịch vụ khi các sản phẩm cung cấp không tạo sự khác biệt hay không nắm bắt được tâm lý của khách hàng. Do vậy, với sự phát triển không ngừng nghỉ của công nghệ thông 9 tin và yêu cầu ngày càng đa dạng của khối khách hàng này, gia tăng hàm lượng công nghệ trong mỗi sản phẩm là một trong những phương thức quản lý rủi ro, tạo giá trị gia tăng và nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm cung cấp.5 Rủi ro được chia sẻ Dịch vụ NHBL với số lượng khách hàng lớn, nhu cầu đa dạng, giá trị các khoản vay nhỏ giúp cho ngân hàng có thể đa dạng hóa các sản phẩm, tiếp cận tới các khách hàng giàu tiềm năng, đồng thời có điều kiện phân tán rủi ro trong kinh doanh, đem lại doanh thu ổn định và an toàn cho các NHTM. Một số dịch vụ ngân hàng bán lẻ cơ bản 1. Huy động vốn Đây là một nghiệp vụ truyền thống của NHTM góp phần hình thành nên nguồn vốn hoạt động của NHTM.
Ngoài nguồn vốn tự có, hoạt động huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng thương mại trong việc tạo lập nguồn vốn để hoạt động kinh doanh, cho vay và đầu tư. Thông qua các biện pháp và công cụ được sử dụng, các NHTM huy động nguồn vốn từ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ dưới các hình thức chủ yếu như: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành giấy tờ có giá (kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng) và các hình thức tiền gửi khác. Tiền gửi thanh toán: Tiền gửi thanh toán gửi vào ngân hàng nhằm sử dụng các tiện ích do ngân hàng cung cấp như thanh toán hộ, chi trả hộ, thu hộ. Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng ở tài khoản này không nhằm mục đích thu lãi, mà là sử dụng các tiện ích do các ngân hàng cung cấp, như: khách hàng có thể thanh toán gửi rút tiền linh hoạt, chuyển tiền, thanh toán các hoá đơn dịch vụ, phát hành thẻ nội địa hoặc thẻ quốc tế,… Nguồn huy động này có ưu điểm là chi phi huy động thấp, nhưng rủi ro thanh 10 khoản cao.
Tiền gửi tiết kiệm của dân cƣ: Đây được coi là công cụ huy động vốn phổ biến của các NHTM. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác định trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi suất theo quy định của ngân hàng và được bảo hiểm theo quy định về bảo hiểm tiền gửi. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm các loại sau: loại không kỳ hạn, loại có kỳ hạn ngắn hạn và loại kỳ hạn dài hạn. Nhờ ưu điểm độ ổn định cao, đây là nguồn vốn ưa thích mà các ngân hàng muốn thu hút.
Để huy động được nguồn vốn này, các ngân hàng đã đưa ra rất nhiều loại kỳ hạn khác nhau nhằm phù hợp với lượng vốn nhàn rỗi của các các cá nhân, mỗi kỳ hạn được quy định bởi một mức lãi suất riêng, thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Phát hành giấy tờ có giá: Bên cạnh phương thức nhận tiền gửi (tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm) các NHTM còn phát hành các loại giấy tờ có giá như: chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu. Thực chất các nghiệp vụ này là Ngân hàng huy động vốn tiền tệ bằng việc phát hành chứng chỉ có giá trị. Trong đó chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định, Trái phiếu là loại phiếu nợ trung và dài hạn.
Các loại phiếu nợ trên được Ngân hàng phát hành từng đợt, tùy theo mục đích với sự chấp thuận của NHTM hoặc hội đồng Chứng khoán Quốc gia. Mức lãi được trả cho các chứng chỉ tiền gửi loại này được quy định ở mức mà người gửi tiền có thể chấp nhận được. Ngoài các sản phẩm tiền gửi truyền thống, các NHTM đã đa dạng hóa nhiều sản phẩm tiết kiệm linh hoạt về kỳ hạn và lãi suất nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ có nguồn vốn nhàn rỗi tuy không lớn nhưng với số lượng khách hàng đông sẽ tạo nên một nguồn huy động vốn tiềm năng và dồi dào cho các 11 NHTM.
Dịch vụ cho vay bán lẻ Cho vay bán lẻ hay còn gọi là hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại, đó thường là các khoản cho vay tiêu dùng, một hình thức tài trợ cho sự tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình.