CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về cho vay tiêu dùng tại NHTM 1.1 Khái niệm về cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng cách đây khoảng 20 mươi năm về trước còn là khái niệm "khá mới" đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam, nhưng chỉ một vài năm trở lại đây, hoạt động cho vay tiêu dùng đã trở thành mục tiêu của nhiều TCTD, nhất là các TCTD ngoài nhà nước. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống của nhân dân đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu chi tiêu phục vụ đời sống ngày càng cao, đó là điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng nói chung, lĩnh vực cho vay tiêu dùng nói riêng phát triển. Cho vay tiêu dùng là các khoản vay được cấp cho cá nhân, hộ gia đình bởi ngân hàng hoặc các công ty tài chính để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của khách hàng. Hoặc cụ thể hơn, cho vay tiêu dùng được hiểu là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân, hộ gia đình.
Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ.2 Đối tượng và đặc điểm cho vay tiêu dùng Đối tượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại là cá nhân và hộ gia đình. Cho vay tiêu dùng có những đặc điểm sau: - Quy mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao: Dù giá trị khoản vay là lớn hay nhỏ thì nhân viên ngân hàng vẫn phải thực hiện đầy đủ các bước trong qui trình tín dụng, dẫn tới chi phí quản lí 8 món vay này tương đương với chi phí cho doanh nghiệp vay một món lớn để sản xuất kinh doanh. - Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kì: cho vay tăng lên trong thời kì nền kinh tế mở rộng, khi mà mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương lai. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều cá nhân và hộ gia đình cảm thấy không tin tưởng sẽ hạn chế vay mượn từ ngân hàng.
- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co dãn với lãi suất: Khi khách hàng có nhu cầu vay để phục vụ cho mục đích tiêu dùng trước mắt, vấn đề họ quan tâm lớn nhất là những nhu cầu của họ được đáp ứng, những tiện ích, giá trị mà khoản vay tiêu dùng đem lại, hơn là mức lãi suất mà người vay phải trả. Mặt khác, số tiền vay thường nhỏ nên mức chênh lệch lãi suất không làm cho số tiền phải trả trong một tháng chênh lệch đáng kể. Khách hàng vay thường chú ý đến việc được ngân hàng cho vay bao nhiêu trên số tài sản đảm bảo hoặc trên mức thu nhập của họ là chính. Trong khi lãi suất không phải là một trong những yếu tố quan trọng mà hộ gia đình vay tiền quan tâm thì mức thu nhập và trình độ dân trí lại tác động rất lớn đến việc sử dụng các khoản tiền vay của người tiêu dùng.
Những người có thu nhập cao có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình. Những gia đình mà người chủ gia đình vay thường tạo thu nhập chính có học vấn cao cũng như vậy. Với họ việc vay mượn được xem là một công cụ để đạt được mức sống như mong muốn hơn là một lựa chọn chỉ được dùng trong tình trạng khẩn cấp. - Nguồn trả nợ có thể biến động lớn: Nguồn tài chính để trả các khoản vay tiêu dùng không là lợi nhuận hay bắt nguồn từ khoản cho vay mang lại, mà là được trả từ một nguồn khác độc lập với khoản vay, đó là thu nhập của người đi vay.
Thu nhập, sự ổn định thu nhập phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của những người này và phụ 9 thuộc vào các nhân tố khách quan như chu kì kinh tế, sự biến đổi của cơ cấu kinh tế. Các nhân tố này lại thay đổi giữa các khách hàng, hoàn toàn không có một mức quy định cụ thể. - Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao. Các thông tin tài chính của khách hàng mà ngân hàng có được thường do chính khách hàng cung cấp và có sự xác minh lại của cán bộ ngân hàng.
Trong khi đó, người đi vay thường có xu hướng nói tốt về mình để đảm bảo được vay vốn và mức cho vay cao nên việc thẩm định thông tin tài chính của khách hàng một cách chính xác là rất khó khăn. Trong khi đó, các thông tin bên ngoài mà cán bộ ngân hàng thu thập được đôi khi vẫn mang tính chất chủ quan. Bên cạnh việc đánh giá năng lực tài chính của khách hàng thì một yếu tố quan trọng mà nhân viên ngân hàng không bao giờ bỏ qua đó là xác định tư cách khách hàng - quyết đinh thiện chí trả nợ của cá nhân, hộ gia đình. Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay.
Nếu như khách hàng không trung thực thì kết quả đánh giá không chính xác, ngân hàng đưa ra quyết định sai lầm và một lựa chọn đối nghịch được đưa ra, rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi. - Lãi suất cho vay tiêu dùng (CVTD) lớn. Quy mô của từng khoản vay tiêu dùng thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, vì vậy lãi suất CVTD thường cao hơn so với lãi suất các khoản vay trong lĩnh vực khác như thương mại hay công nghiệp.3 Phân loại cho vay tiêu dùng Để có thể quản lý các khoản CVTD, các ngân hàng thường dựa vào các tiêu chí khác nhau để phân ra các hình thức cho vay khác nhau. Từ việc phân loại này, các khoản cho vay tiêu dùng được đánh giá, phân tích và từ đó đưa ra kết quả về tình hình cho vay của từng loại, đánh giá được chất lượng, và rút ra các biện pháp khắc phục cho từng loại khoản vay.
Trong các tiêu chí dùng để phân loại các 10 khoản vay thì phân loại theo mục đích là quan trọng và hiệu quả nhất. a) Căn cứ vào mục đích vay Có thể chia CVTD theo 2 hình thức: Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản cho vay nhằm phục vụ cho nhu cầu xây dựng, mua sắm hay cải tạo nhà của các cá nhân và hộ gia đình. Cho vay tiêu dùng không cư trú: Là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện, đồ dùng, du lịch, học hành hoặc giải trí. b) Căn cứ vào hình thức (nguồn gốc của khoản nợ) Có thể chia CVTD thành 2 loại: Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh của các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hóa hoặc đã cung cấp các dịch vụ cho người tiêu dùng.
Với hình thức này, ngân hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng hóa hoặc làm dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. (1) (4) Ngân hàng Công ty bán lẻ (5) (2) (3) (6) Người tiêu dùng Sơ đồ 1-1: Quy trình cho vay tiêu dùng gián tiếp (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) (1) Ngân hàng và công ty bán lẻ kí kết hợp đồng mua bán nợ (2) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng kí kết hợp đồng mua bán chịu 11 hàng hóa (3) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng (4) Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng (5) Ngân hàng thanh toán tiền cho các công ty bán lẻ (6) Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng. Ưu điểm: Ngân hàng giảm được chi phí trong cho vay, do với loại hình cho vay này ngân hàng không tốn chi phí để tiếp xúc và thẩm định khách hàng. Tạo tiền đề cho việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàng khác.
Vì khi ngân hàng hợp tác với các doanh nghiệp hay các đầu mối phân phối sản phẩm thì ngân hàng đã có một phần cơ hội thu hút họ đến với ngân hàng trong vai trò là một khách hàng. Ngân hàng chịu rủi ro thấp hơn so với cho vay trực tiếp trong trường hợp ngân hàng có quan hệ tốt với doanh nghiệp bán lẻ. Nguyên nhân là do khi có quan hệ tốt với doanh nghiệp bán lẻ thì ngân hàng phần nào có được sự đảm bảo từ doanh nghiệp đó. Nhược điểm: Ngân hàng không trực tiếp tiếp xúc với người tiêu dùng đã được bán chịu.
Trong khi các doanh nghiệp bán lẻ không có đủ trình độ chuyên môn trong việc phân tích và thẩm định khách hàng. Do đó, khoản cho vay sẽ tiềm ẩn rủi ro lớn đối với ngân hàng. Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán chịu hàng hóa. Nếu ngân hàng không có quan hệ mật thiết với ngân hàng thì sẽ tiềm ẩn sự gian lận trong cho vay.
Kỹ thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính phức tạp cao. Vì loại hình cho vay này trải qua nhiều bước và có nhiều bên tham gia nên phức tạp hơn. CVTD trực tiếp: là các khoản vay tiêu dùng mà trong đó ngân 12 hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ khách hàng (1) Ngân hàng Công ty bán lẻ (2) (4) (1) (5) Người tiêu dùng Sơ đồ 1-2: Quy trình cho vay tiêu dùng trực tiếp (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) (1) Ngân hàng và người tiêu dùng kí kết hợp đồng vay vốn (2) Người vay vốn trả trước một phần số tiền phải mua tài sản cho công ty bán lẻ (3) Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ. (4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng (5) Người tiêu dùng thanh toán nợ vay cho ngân hàng Ưu điểm: Ngân hàng có thể sử dụng triệt để trình độ, kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng của cán bộ tín dụng trong việc thẩm định khách hàng vay, do đó các khoản cho vay này thường có chất lượng cao hơn so với cho vay thông qua doanh nghiệp bán lẻ.
Cán bộ tín dụng khi cho vay đặc biệt coi trọng đến chất lượng các khoản vay, song doanh nghiệp bán hàng thường quan tâm tới doanh số bán hàng hơn là chất lượng các khoản vay.