Mở đầu Trình bài lí do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Tổng hợp lý thuyết và nghiên cứu trước, đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Xây dựng thang đo và phân tích dữ liệu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Đưa ra kết luận và đề xuất ý kiến đồng thời nêu ra hạn chế và hướng đi cho những nghiên cứu tiếp theo. Trang 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Giới thiệu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) chỉ ra rằng các công ty cần phải có trách nhiệm lớn hơn, không chỉ giới hạn ở bản thân công ty mà còn lan tỏa ra cộng đồng và xã hội. Kỳ vọng của các bên liên quan đến tăng trưởng kinh doanh và các tác động đến môi trường làm việc được thay đổi nhiều trên thế giới.
Các yếu tố môi trường vĩ mô và môi trường đã được thay đổi đáng kể và các bên liên quan như khách hàng, chính phủ, đối thủ cạnh tranh, sự can thiệp chung của công chúng tăng lên. Ngày nay, hoạt động kinh doanh theo những cách khác nhau trong môi trường kinh đầy biến động và một số công ty vì lợi nhuận là tất cả đã hành vi có hại cho xã hội và môi trường bên ngoài công ty. Do đó, các công ty đã xem xét hành vi chấp nhận được đạo đức và xã hội trong môi trường kinh doanh. Theo nghĩa này, trách nhiệm xã hội đã trở thành mối quan tâm mạnh mẽ hơn của các bên liên quan.
Ngày nay, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là một vấn đề đáng chú ý trong lĩnh vực kinh doanh ở trên toàn cầu và từng địa phương cụ thể. Không có bất kỳ định nghĩa phổ biến nào được chấp nhận đối với CSR. Nó có thể được định nghĩa là cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững – việc làm với người lao động, gia đình họ, cộng đồng địa phương và xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống theo cách tốt cho kinh doanh và tiến bộ xã hội (Foreign Investment Advisory Service, 2006). Mục đích của công ty kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận và điều này chỉ đạt được thông qua việc thực hiện các khía cạnh xã hội đó là sự hài lòng của khách hàng.
Do đó, sự ổn định và phồn thịnh xã hội cũng là một trong những trách nhiệm mà các công ty phải quan tâm bên cạnh các mục tiêu kinh tế. CSR xoay quanh mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội. Nó chỉ ra trách nhiệm và xác định hành vi kinh doanh đối với các bên liên Trang 7 quan của nó. Theo Hick, (2000), CSR là một chiều hướng rất quan trọng trong chiến lược của công ty chứ không phải là điều kiện tiên quyết để thành công trong kinh doanh.
Các doanh nghiệp phải tìm ra một hoạt động khả thi giữa việc tuân thủ giá trị xã hội và quyền đạo đức với lợi nhuận kinh tế. (David Vogel, 2005) CSR kêu gọi hành vi đúng đắn về đạo đức từ việc kinh doanh trong khi theo đuổi các mục tiêu kinh tế của nó. Hành vi đạo đức đòi hỏi trách nhiệm đạo đức trong kinh doanh để nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và những người thăm trong gia đình họ, các nhóm xã hội. Kotler cho rằng một công ty, ngoài việc thoả mãn nhu cầu và mong muốn của thị trường mục tiêu, cũng sẽ mang lại giá trị cho khách hàng theo cách duy trì hoặc cải thiện cuộc sống của người tiêu dùng và xã hội trong một thời gian dài.
Davis và Frederick (1984) cho rằng CSR là nghĩa vụ của một tổ chức tham gia vào các hoạt động bảo vệ và đóng góp vào phúc lợi xã hội, bao gồm cộng đồng, khách hàng, cổ đông, môi trường và nhân viên. Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới về Phát triển Bền vững (WBCSD) đã xác định CSR là "cam kết liên tục của doanh nghiệp để hành xử một cách đạo đức và góp phần phát triển kinh tế đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ cũng như của cộng đồng địa phương và xã hội nói chung "(WBCSD, 1999, trang 3). Các hoạt động kinh doanh có đạo đức và đạo đức có nghĩa vụ mang lại lợi ích cho xã hội của nó. Để đạt được điều này, việc kinh doanh ngoài việc đạt các mục tiêu kinh tế của nó, còn cam kết các nguồn lực của nó cho sự thịnh vượng của xã hội và con người.
Với sự phân tích các định nghĩa và quan điểm trên, mối quan tâm về CSR xã hội và môi trường nhằm có hoạt động kinh doanh bền vững. Lý thuyết về CSR CSR là cách quản lý mới nhất đã áp dụng trong việc quản lý nhiều lĩnh vực của tổ chức (Guthey, Langer & Morsing, 2006). Khái niệm về CSR đã đạt được tầm quan trọng rằng này này nó được định hướng là chiến lược, được thiết kế và thực hiện trong môi trường kinh doanh toàn cầu. Các cuộc tranh luận và áp lực liên tục đã thúc đẩy một số tổ chức giới thiệu các quy tắc đạo đức về cách ứng xử và cam kết thông qua các nỗ lực xã hội ngoài lợi ích kinh tế của tổ chức (Lewin 1983; White & Montgomery, 1980).
Tuy nhiên, khái niệm CSR có vẻ chậm, không bền vững và ở giai đoạn mới phát triển do với môi trường kinh doanh. CSR bao gồm những trách nhiệm mà các công ty đa quốc gia và các quốc gia khác, môi trường kinh doanh quốc tế đang phải đối mặt với xã hội mà họ hoạt động. Trách nhiệm đòi hỏi vai trò của họ về đạo đức và có nghĩa vụ phải giảm bớt một số bất bình đẳng giữa những người giàu và người nghèo, các tầng lớp ưu tú, các nhóm đặc quyền và những nhóm bị cách li, v. Trong những năm qua, các doanh nghiệp đã và đang ngày càng quan tâm đến CSR vì các doanh nghiệp là một phần của xã hội và họ có nghĩa vụ đối với phúc lợi và sự thịnh vượng vì họ sống sót với nó (Jones, 1980; Kok và cộng sự, 2001).
Cuộc tranh luận chuyên sâu về khái niệm CSR đã sinh ra nhiều định nghĩa khác nhau; tất cả đều đồng ý rằng triết lý của khái niệm xoay quanh mối quan hệ kinh doanh và xã hội theo thời gian. Các khía cạnh khác nhau của khái niệm này đã dần dần chồng chéo các hoạt động khác nhau và ngày nay nó phù hợp với các quan điểm quản lý khác nhau như quản trị nguồn nhân lực, tiếp thị, quan hệ lao động, đạo đức kinh doanh, quản lý chất lượng tổng thể, tài chính và truyền thông kinh doanh, động lực và nhân quyền tại nơi làm việc, v. Ta xem xét một số trích dẫn về CSR theo thời gian như sau: Bảng 2. Tóm tắt các định nghĩa CSR qua các thời kì Trang 9 Lý thuyết Định nghĩa về CSR Mục đích của công ty kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận và điều này chỉ đạt được thông qua việc thực hiện các khía cạnh Drucker (1942) xã hội đó là sự hài lòng của khách hàng.
Do đó, sự ổn định và phồn thịnh xã hội cũng là một trong những trách nhiệm mà các công ty phải quan tâm bên cạnh các mục tiêu kinh tế. Sự tồn tại của bất kỳ doanh nghiệp nào là kết quả của sự hài hòa giữa mục tiêu công ty, mục tiêu của hệ thống nhà nước và nhân dân. Bất kỳ mâu thuẫn nào giữa mục tiêu của ba mục tiêu tương tác lẫn nhau này sẽ khiến cho công ty kinh doanh giữa Drucker (1946) chừng. Do đó, các công ty chịu trách nhiệm về phẩm giá và tình trạng nhân phẩm của người lao động, và sự đào tạo và phát triển của người lao động như là nguồn tài chính của công ty chứ không phải là chi phí.
Các doanh nghiệp có nghĩa vụ đưa ra và theo đuổi các chính Bowen và sách mà nó được kì vọng đối với các giá trị xã hội của cộng Howard (1953) đồng. Việc thực hiện các chính sách kinh doanh không chỉ giới hạn Davis và Kieth vào lợi ích của công ty mà nó còn phải đáp ứng các khía cạnh (1960) pháp lý xã hội. Sự "phù hợp" giữa kỳ vọng của xã hội về kinh doanh và đạo Zenisek (1979) đức kinh doanh. Trách nhiệm xã hội là sự kỳ vọng của xã hội về kinh tế, pháp Archie Carroll lý, đạo đức và từ thiện đối với các tổ chức kinh doanh hoạt (1979) động trong một khoảng thời gian nhất định.
Vai trò trọng tâm của quản lý doanh nghiệp là đáp ứng nhu cầu Bradshaw của người sử dụng với các kỹ năng chuyên nghiệp, liên tục đáp (1981) ứng nhu cầu thị trường, sản xuất hàng hoá có chất lượng với chi phí thấp nhất bằng cách sử dụng hiệu quả và bền vững các Trang 10 Lý thuyết Định nghĩa về CSR nguồn lực. Bradshaw và Hoạt động xã hội của một tập đoàn lớn phụ thuộc vào ba hoạt Vogal (1981) động doanh nghiệp; từ thiện, trách nhiệm và chính sách. Các tổ chức kinh doanh có nghĩa vụ xã hội về việc kiếm lợi Epstein (1989) nhuận hợp lý cho chủ sở hữu của mình. Đạo đức đã cho rằng doanh nghiệp có nghĩa vụ phải hoạt động Nelson (1996) theo các quy định của luật pháp, cung cấp việc làm cho xã hội, tuân theo đạo luật và nộp thuế.
Kilcullen và Mức độ nghĩa vụ đạo đức có thể được gán cho các tập đoàn Kolstra (1999) ngoài sự tuân thủ đơn giản đối với luật pháp của nhà nước. Trách nhiệm xã hội xoay quanh mối quan hệ giữa doanh Hick (2000) nghiệp và xã hội. Nó chỉ ra trách nhiệm và xác định hành vi kinh doanh đối với các bên liên quan của nó. Các hoạt động kinh doanh có đạo đức và đạo đức có nghĩa vụ Kok và cộng sự mang lại lợi ích cho xã hội của nó.
Để đạt được điều này, việc (2001) kinh doanh ngoài việc đạt các mục tiêu kinh tế của nó, còn cam kết các nguồn lực của nó cho sự thịnh vượng của xã hội và con người. CSR là một chiều hướng rất quan trọng trong chiến lược của công ty chứ không phải là điều kiện tiên quyết để thành công David Vogel trong kinh doanh. Các doanh nghiệp phải tìm ra một hoạt động (2005) khả thi giữa việc tuân thủ giá trị xã hội và quyền đạo đức với lợi nhuận kinh tế. Trách nhiệm xã hội kêu gọi hành vi đúng đắn về đạo đức từ Lord Holme và việc kinh doanh trong khi theo đuổi các mục tiêu kinh tế của Richard Watts nó.