CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 1. Khái niệm trách nhiệm xã hội (CSR-Corporate Social Responsibility) Hiện nay các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều mang đến những sứ mệnh riêng biệt, và chắc chắn rằng họ đều mong muốn có dấu ấn của một doanh nghiệp trách nhiệm. Một doanh nghiệp có “tâm” nên bắt đầu từ những giá trị cộng đồng và xây dựng, lan toả những giá trị đó như một chiến lược dài hạn để làm đòn bẩy phát triển trong thời đại đổi mới.
Do đó cần tìm hiểu sâu sắc về định nghĩa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR). Có rất nhiều khái niệm được đưa ra về CSR như sau: Theo Howard Rothmann Bowen – nhà kinh tế học người Mỹ đã đưa ra định nghĩa về trách nhiệm xã hội lần đầu tiên trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen)” vào năm 1953: “Người quản lý doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh ngoài việc không làm tổn hại đến xã hội còn phải có lòng từ thiện và phải bồi thường cho những thiệt hại doanh nghiệp gây ra cho người lao động, nhà cung cấp,.” Frederick (1960) lại định nghĩa: “Trách nhiệm xã hội nghĩa là các doanh nhân cần giám sát được hoạt động của một hệ thống kinh tế nhằm thỏa mãn các kỳ vọng của công chúng.” Không lâu sau, Hội đồng Phát triển kinh tế (1971) đưa ra quan điểm: “Doanh nghiệp là một thể chế tồn tại để phục vụ xã hội, tương lai của một doanh nghiệp và kết quả trực tiếp của việc quản trị doanh nghiệp hiệu quả như thế nào để đáp ứng các kỳ vọng luôn thay đổi của công chúng. Trách nhiệm của một doanh nghiệp là đóng góp vào chất lượng cuộc sống chứ không đơn thuần chỉ là cung cấp hàng hóa và dịch vụ.” Theo Eells và Walton (1974) thì cho rằng: “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là sự quan tâm đến các nhu cầu và mục tiêu của xã hội vượt trên lợi ích kinh tế truyền thống và một sự quan tâm lớn hơn đến vai trò của doanh nghiệp trong việc hỗ trợ và cải thiện trật tự xã hội.” 5 Hay theo Prakash và Sethi (1975): “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến.” Với Carroll (1979), ông nhận định: “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức, và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định”. Định nghĩa một cách khác, nhóm phát triển Kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới – World Bank Group (2003): “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”.
Hopkins (2007) vận dụng lý thuyết các bên liên quan cho rằng “CSR tạo ra mức sống ngày càng cao cùng lúc với bảo tồn lợi ích cho các bên liên quan. Nó ảnh hưởng đến các ứng xử có trách nhiệm với các bên hữu quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp”. Theo định nghĩa này doanh nghiệp cần phải làm hài lòng các bên liên quan vì đây là mục tiêu chính của CSR. Cùng quan điểm cho rằng CSR là một khái niệm đa chiều với nhiều bên liên quan, Henri và Ane (2012) cho rằng trách nhiệm xã hội bao gồm các yếu tố như trách nhiệm cộng đồng, môi trường, nhân quyền, và cách ứng xử với nhân viên.
Aguinis (2011, trang 855) cho rằng thực tiễn CSR là "các hành động và chính sách tổ chức cụ thể theo ngữ cảnh có tính đến kỳ vọng của các bên liên quan và lý 26 thuyết bộ ba cốt lõi bền vững về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường". CSR được chia thành ba nhân tố, đó là phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và văn hoá doanh nghiệp phải bền vững trong tất cả ba khía cạnh này. Định nghĩa này được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận (Rupp, 2011; Rupp và công sự, 2010) Đối với Liên minh Châu Âu (2011) trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là việc “Doanh nghiệp lồng ghép những vấn đề xã hội và môi trường vào hoạt động 6 quản trị kinh doanh hằng ngày, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của tất cả các đối tượng liên quan đến Doanh nghiệp trên tinh thần tự nguyện”.
Như vậy, nhìn chung các định nghĩa về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể được diễn đạt khác nhau về ngôn từ, nhưng tổng quát hoá các khái niệm vẫn bao gồm nội hàm và ngoại diên, truyền tải được nền móng của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Đó là: sự lưu tâm của doanh nghiệp đến các nhu cầu và mục tiêu của xã hội vượt lên trên ích lợi về kinh tế đảm bảo thoả mãn kỳ vọng của công chúng trên tinh thần tự nguyện.1: Tổng hợp một số cách tiếp cận CSR của các tác giả Cách tiếp cận Tác giả CSR nhằm nâng cao chất lượng Frederick (1960), Hội đồng Phát triển kinh tế cuộc sống, đáp ứng kỳ vọng của (1971), Prakash & Sethi (1975), World Bank tất cả các đối tượng liên quan đến Group (2003), Liên minh Châu Âu (2011) , doanh nghiệp. Alison Theaker & Heather Yaxley (2018) CSR phản ánh mối quan tâm của Howard Rothmann Bowen (1953), Carroll doanh nghiệp với xã hội, không (1979), Eells và Walton (1974), Trapp (2012) làm tổn hại đến cộng đồng, có lòng từ thiện, hỗ trợ và cải thiện trật tự xã hội. CSR thuộc về các bên liên quan Clarkson (1995), Jones (1995), Carroll (2015) thay vì toàn bộ xã hội.
Nguồn: Tác giả tổng hợp 1. Các thành phần của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp a) Mô hình kim tự tháp CSR (Carroll,1991) Trách nhiệm xã hội là một thuật ngữ nổi tiếng được thảo luận từ những năm 1950, và trải qua nhiều thập niên, với những góc nhìn đổi mới và góp sức từ các học giả đã hình thành khá nhiều định nghĩa về trách nhiệm xã hội. Tuy nhiên, nổi bật nhất phải kể đến mô hình kim tự tháp của Carroll (1991). Đây là mô hình được sử dụng 7 phổ biến rộng rãi và là mô hình tiền đề cho các nhà nghiên cứu phát triển tiếp theo.
Theo góc nhìn của Carroll, CSR được phân tích, nghiên cứu từ bốn yếu tố trách nhiệm : kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Mô hình Kim tự tháp về CSR Nguồn: Carroll (1991) - Trách nhiệm kinh tế Ở cấp độ nền gốc, trách nhiệm kinh tế là điều quan trọng hàng đầu. Bởi mục tiêu của một doanh nghiệp khi được khai sinh là tạo ra lợi nhuận để đảm bảo doanh nghiệp có thể đứng vững và tồn tại trên thương trường cũng như mang lại ích lợi cho xã hội. Với vòng xoáy khốc liệt của thị trường ngày nay, khía cạnh kinh tế không chỉ là sản xuất sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu xã hội mà còn thoả mãn nghĩa vụ của doanh nghiệp với các bên đầu tư liên quan, hay đối với người lao động.
Tham chiếu về góc độ người tiêu dùng, doanh nghiệp cần phải đưa đến khách hàng những sản phẩm, dịch vụ đảm bảo chất lượng, an toàn và phù hợp với tệp khách hàng mà doanh nghiệp hới tới. Mặt khác, đối với người lao động, trách nhiệm của doanh nghiệp là phải cam kết chất lượng cuộc sống, mức chi trả xứng đáng cho công việc 8 họ đang làm, tạo nên môi trường làm việc văn minh, an toàn và hiệu quả cũng như có đãi ngộ phù hợp. Bên cạnh đó, đối với đối tác và các bên liên quan, doanh nghiệp phải có bổn phận mang lại những lợi nhuận đầu tư bởi, đi kèm với các thỏa thuận đối tác chiến lược bởi mối quan hệ hợp tác mang lại giá trị hài hoà cho đôi bên và quan trọng cho sự phát triển thịnh vượng của doanh nghiệp. - Trách nhiệm pháp lý Cấp độ thứ hai trong kim tự tháp chính là trách nhiệm pháp lý.
Đây là một vấn đề mang tính bắt buộc và hiện đã và đang là một phần của “luật chơi” trong nền kinh tế và doanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật. Như một bản giao kèo giữa doanh nghiệp và xã hội, tuân thủ những quy định về pháp lý sẽ phản ánh rõ ràng hoạt động kinh doanh của họ trên thị trường. Khía cạnh này buộc doanh nghiệp phải tuân thủ những quy định về hành lang pháp lý đối với các bên liên quan như bảo vệ người tiêu dùng, môi trường, ngăn chặn hành vi sai trái,. Nếu không chấp nhận với các điều luật đã được thông qua, tổ chức sữ không thể tồn tại lâu dài được.
Thực tiễn cũng đã cho thấy, nhà nước đưa các quy tắc xã hội và đạo đức kinh doanh vào văn bản, tạo thành “Luật doanh nghiệp” để các tổ chức tuân thủ trong khuôn mẫu một cách đúng đắn, đáp ứng được các giá trị và chuẩn mực mà xã hội mong đợi. - Trách nhiệm đạo đức Nối tiếp hai trách nhiệm trên, trách nhiệm đạo đức là thang đo thứ ba nằm trên kim tự tháp. Đây là những tiêu chuẩn, nguyên tắc chuẩn mực được xã hội thừa nhận. Nói một cách tổng quát, trách nhiệm đạo đức là những quy định hành vi phù hợp với những kỳ vọng của xã hội.
Đây điều mà một doanh nghiệp không bắt buộc phải làm, tuy nhiên để một doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển đòi hỏi rất nhiều yếu tố. Và cái “tâm”, sự đạo đức là những yếu tố nâng tầm giá trị của doanh nghiệp đi lên. Dựa vào những chuẩn mực đạo đức, công ty sẽ thiết lập được các tiêu chuẩn cho đội ngũ, hoạt động có trách nhiệm trong kinh doanh,. Và trong những năm gần đây, các mối quan tâm về đạo đức trên khắp thế giới tăng lên gấp bội.
Như vậy, dù không phải là yếu tố tiên quyết tạo nên thành công của doanh nghiệp nhưng trách nhiệm đạo đức sẽ là công cụ bao hàm và phản ánh bề sâu của công ty. Do vậy các bên đối tác hay khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm khi sử dụng dịch vụ và sản phẩm của họ. 9 - Trách nhiệm từ thiện Bản chất của trách nhiệm này là tự nguyện, được xuất phát bởi mong muốn của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có thể tham gia các hoạt động từ thiện như tài trợ hiện kim, hiện vật, hay đóng góp công sức, dịch vụ, sản phẩm của chính công ty với xã hội hoặc các bên liên quan.