Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây dừa (Cocos nucifera L.) là cây trồng nông nghiệp truyền thống có vai trò kinh tế - sinh thái quan trọng tại Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 2020b), diện tích dừa thu hoạch của Việt Nam năm 2020 đạt 163,543 nghìn ha (xếp thứ 8 trên thế giới) với sản lượng hơn 1,7 triệu tấn (đứng thứ 6 thế giới). Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chiếm gần 80% diện tích dừa cả nước (khoảng 130 nghìn ha), trong đó tỉnh Bến Tre là thủ phủ dừa với trên 72 nghìn ha và gần 200 nghìn hộ dân canh tác. Riêng nhóm dừa uống nước (dừa xiêm xanh) tại Bến Tre đạt khoảng 15,865 nghìn ha, chiếm 20,53% diện tích dừa toàn tỉnh (Cục Thống kê tỉnh Bến Tre, 2022).

Sau đợt hạn mặn lịch sử niên vụ 2019 – 2020 khiến các vườn dừa suy kiệt, vào tháng 7 năm 2020, loài sâu hại mới ăn lá và vỏ quả dừa được phát hiện bùng phát tại huyện Bình Đại và Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Kết quả giám định của cơ quan chuyên môn xác định đây là sâu đầu đen hại dừa có tên khoa học là Opisina arenosella Walker (Lepidoptera: Xyloryctidae). Đến tháng 3 năm 2021, sâu đã lây lan sang các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh; tính đến cuối tháng 6 năm 2022, diện tích nhiễm sâu đầu đen tại Bến Tre là 554,96 ha (Cục Thống kê Bến Tre, 2022). Xuất phát từ sự đa dạng của các giống dừa trồng tại địa phương (dừa xiêm xanh, dừa xiêm lửa, dừa dứa, dừa ta cao) và tính cấp bách trong quản lý dịch hại, đề tài được triển khai nhằm cung cấp các dẫn liệu sinh học phục vụ công tác kiểm soát loài dịch hại này.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Xác định ảnh hưởng của lá 4 giống dừa (dừa xiêm xanh, dừa xiêm lửa, dừa ta cao, dừa dứa) đến các đặc điểm sinh học của sâu đầu đen hại dừa Opisina arenosella Walker.
  2. Xác định ảnh hưởng của 5 nồng độ mật ong bổ sung (10%, 20%, 40%, 80%, 100%) kết hợp nghiệm thức nước cất và đối chứng đến khả năng sinh sản và tuổi thọ của thành trùng cái sâu đầu đen Opisina arenosella Walker.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sâu đầu đen hại dừa Opisina arenosella Walker; lá của 4 giống dừa (xiêm xanh, xiêm lửa, dừa ta cao, dừa dứa); mật ong nguyên chất pha ở các nồng độ.
  • Phạm vi không gian: Phòng thí nghiệm Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Bến Tre.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 05/2022 đến tháng 11/2022.
  • Điều kiện môi trường kiểm soát: Nhiệt độ phòng thí nghiệm 28 ± 2°C, ẩm độ không khí 75 ± 5%, quang kỳ 12 giờ sáng : 12 giờ tối.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết côn trùng học nông nghiệp và sinh thái học côn trùng về mối quan hệ giữa thức ăn ký chủ với vòng đời, khả năng sinh trưởng, phát triển và sức sinh sản của loài bướm đêm gây hại Opisina arenosella Walker thuộc họ Xyloryctidae, bộ Lepidoptera. Đề tài kế thừa các nghiên cứu quốc tế về phân loại, phân bố địa lý (CABI, 2022; Shameer và ctv, 2018), đặc điểm hình thái và tập tính sinh học của O. arenosella (Chomphukhiao và ctv, 2011, 2017, 2018; Kumara và ctv, 2015a; Lu và ctv, 2016; Atanu, 2019), danh mục thiên địch tự nhiên (ong ký sinh Goniozus nephantidis, Bracon hebetor, nấm Aspergillus flavus) cũng như các biện pháp hóa học và sinh học đang được áp dụng tại Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm sinh học trong phòng thí nghiệm thông qua 2 thí nghiệm đơn yếu tố bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (Completely Randomized Design - CRD):

  • Quy trình thu thập và nhân nuôi nguồn sâu: Thu thập ổ sâu non và nhộng ngoài đồng ruộng tại Bến Tre đưa về phòng thí nghiệm, nuôi tích lũy trên từng loại lá dừa trong hộp nhựa chuyên dụng (28,5 × 17 × 9,2 cm) ở điều kiện chuẩn (28 ± 2°C, ẩm độ 75 ± 5%, sáng 12 giờ). Thay lá định kỳ 2 ngày/lần. Thu nhận ấu trùng tuổi 1 (1 ngày tuổi) đồng đều để tiến hành thí nghiệm.
  • Thí nghiệm 1 (Ảnh hưởng của 4 loại thức ăn lá dừa): Gồm 4 nghiệm thức tương ứng với lá của 4 giống dừa (dừa xiêm xanh, dừa xiêm lửa, dừa ta cao, dừa dứa). Bố trí 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại gồm 30 ấu trùng tuổi 1 nuôi trong hộp nhựa 500 mL có lỗ thông khí. Sau khi vũ hóa, chọn ngẫu nhiên 3 cặp thành trùng bắt cặp giao phối để theo dõi khả năng sinh sản.
  • Thí nghiệm 2 (Ảnh hưởng của dinh dưỡng bổ sung mật ong): Gồm 7 nghiệm thức (mật ong 10%, 20%, 40%, 80%, 100%, nước cất và đối chứng không cho ăn), bố trí 10 lần lặp lại; mỗi lần lặp lại là 1 cặp thành trùng mới vũ hóa nuôi riêng trong hộp nhựa 500 mL có gòn thấm dung dịch dinh dưỡng.
  • Chỉ tiêu theo dõi: Kích thước (chiều dài, chiều rộng bằng kính hiển vi soi nổi Olympus SZX10 độ phóng đại 0,63X – 6,3X và thước đo); thời gian phát triển các pha trứng, ấu trùng (tuổi 1 đến tuổi 6), nhộng, thành trùng; khối lượng ấu trùng tuổi 6 và nhộng 6 ngày tuổi (bằng cân tiểu ly AS ONE độ chính xác 0,001 g); tổng thời gian vòng đời; thời gian tiền đẻ trứng; sức đẻ trứng hàng ngày; tổng số trứng/con cái; tuổi thọ thành trùng cái.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thu thập và tính toán sơ bộ bằng Microsoft Excel 2016; phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh trung bình nghiệm thức theo trắc nghiệm LSD ở mức ý nghĩa α = 0,05 trên phần mềm thống kê SAS 9.4. Các số liệu về số lượng trứng được chuyển đổi theo công thức $\log(x)$ hoặc $\log(x+1)$ trước khi phân tích thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa các tư liệu khoa học về cây dừa và dịch hại sâu đầu đen:

  • Cây dừa: Nguồn gốc lịch sử, phân loại học (nhóm dừa cao thụ phấn chéo và nhóm dừa lùn tự thụ phấn), giá trị kinh tế đa dụng và hiện trạng sản xuất tại các quốc gia hàng đầu (Philippines, Indonesia, Ấn Độ) cùng vùng nguyên liệu ĐBSCL.
  • Các loài sâu hại chính trên cây dừa: Tổng quan hơn 900 loài sinh vật gây hại, trong đó nhấn mạnh bọ cánh cứng (Brontispa longissima), đuông dừa (Rhynchophorus ferrugineus) và sâu đầu đen (Opisina arenosella).
  • Đối tượng sâu đầu đen Opisina arenosella Walker: Phân tích chi tiết lịch sử phân bố tại Nam Á, Đông Nam Á và Trung Quốc; đặc điểm hình thái từng pha phát triển; tập tính ăn biểu bì mặt dưới lá chét tạo mạng tơ kết dính phân thành đường hầm ẩn nấp; phổ cây ký chủ mở rộng ngoài họ Arecaceae (chuối, mít, điều, cọ dầu); hệ thống các loài thiên địch (38 loài ký sinh, 23 loài ăn mồi, 6 loài vi sinh vật gây bệnh) và các giải pháp phòng trừ bằng thuốc hóa học (tiêm thân cây) và đấu tranh sinh học.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết vật liệu nghiên cứu, thiết bị đo lường, quy trình thiết lập điều kiện vi khí hậu phòng thí nghiệm và phương pháp bố trí 2 thí nghiệm đơn yếu tố (CRD):

  • Trình bày công thức thức ăn, cách tạo nguồn ấu trùng đồng nhất 1 ngày tuổi.
  • Quy định chế độ thay thức ăn 2 ngày/lần, phương pháp gắn gòn thấm mật ong cho thành trùng.
  • Quy chuẩn hóa công thức đo đếm các chỉ tiêu sinh học và thuật toán xử lý phương sai ANOVA, phân hạng LSD (α = 0,05) trên phần mềm chuyên dụng SAS 9.4.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được từ 2 thí nghiệm chính, đi kèm bảng thống kê và đối chiếu với các công bố quốc tế:

1. Ảnh hưởng của 4 giống dừa đến đặc tính hình thái và thời gian phát triển của sâu đầu đen

  • Pha ấu trùng: Trải qua 6 tuổi phát triển, tổng thời gian ấu trùng kéo dài từ 29 đến 46 ngày. Chiều dài và chiều rộng cơ thể tăng dần qua các tuổi lột xác:
    • Tuổi 1: Chiều dài từ 1,75 ± 0,04 mm (xiêm lửa) đến 1,94 ± 0,05 mm (dừa dứa); chiều rộng 0,18 – 0,20 mm; thời gian phát triển 6,18 – 6,97 ngày (khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các giống dừa).
    • Tuổi 2: Chiều dài 2,38 – 2,78 mm; chiều rộng 0,25 – 0,30 mm; thời gian 5,18 – 5,87 ngày. Nghiệm thức dừa ta cao có kích thước lớn nhất (2,78 mm chiều dài, 0,30 mm chiều rộng).
    • Tuổi 3: Sâu nuôi trên lá xiêm lửa có kích thước nhỏ nhất (dài 2,85 mm, rộng 0,33 mm), khác biệt có ý nghĩa với xiêm xanh (3,55 mm), dừa ta cao (3,46 mm), dừa dứa (3,46 mm). Thời gian phát triển dao động 5,17 – 6,02 ngày.
    • Tuổi 4: Sâu nuôi trên lá dừa xiêm xanh đạt chiều dài lớn nhất (6,39 ± 0,02 mm), khác biệt có ý nghĩa với xiêm lửa (5,53 mm) và dừa dứa (5,95 mm). Thời gian phát triển dao động 5,37 – 6,50 ngày.
    • Tuổi 5: Chiều dài ở nghiệm thức xiêm xanh (12,14 mm) và dừa dứa (11,82 mm) vượt trội có ý nghĩa thống kê so với xiêm lửa (10,60 mm) và dừa ta cao (10,94 mm). Thời gian phát triển của ấu trùng trên dừa ta cao dài nhất (6,37 ngày).
    • Tuổi 6: Kích thước ấu trùng không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa 4 loại thức ăn (chiều dài 15,81 – 16,90 mm; chiều rộng 2,12 – 2,27 mm). Tuy nhiên, thời gian phát triển tuổi 6 trên dừa ta cao kéo dài nhất (7,66 ± 0,80 ngày), khác biệt có ý nghĩa với xiêm xanh (6,47 ngày), xiêm lửa (6,73 ngày) và dừa dứa (6,03 ngày).
Chỉ tiêu sinh học theo pha phát triển Lá dừa xiêm xanh Lá dừa xiêm lửa Lá dừa ta cao Lá dừa dứa Mức ý nghĩa ($F$ tính)
Chiều dài nhộng 6 ngày tuổi (mm) 10,38 ± 0,27 9,90 ± 0,13 9,51 ± 0,01 10,09 ± 0,15 4,62*
Chiều rộng nhộng 6 ngày tuổi (mm) 2,51 ± 0,04 2,45 ± 0,04 2,33 ± 0,00 2,44 ± 0,04 4,81*
Thời gian phát triển nhộng (ngày) 7,67 ± 0,58 8,40 ± 0,30 8,23 ± 0,57 9,10 ± 0,17 5,38*
Chiều dài sải cánh thành trùng (mm) 24,26 ± 0,53 22,57 ± 0,12 21,21 ± 0,45 23,23 ± 0,38 10,12*
Chiều rộng cánh thành trùng (mm) 3,29 ± 0,01 3,10 ± 0,06 2,85 ± 0,02 3,29 ± 0,01 12,09*
Thời gian thành trùng sống (ngày) 7,67 ± 0,64 7,80 ± 0,96 6,98 ± 0,63 7,60 ± 1,04 $0,56^{ns}$
Chiều dài trứng (mm) 0,54 ± 0,01 0,57 ± 0,01 0,59 ± 0,01 0,61 ± 0,00 13,30*
Thời gian phát triển pha trứng (ngày) 5,33 ± 0,06 5,33 ± 0,12 5,31 ± 0,22 5,33 ± 0,12 $0,02^{ns}$
  • Khối lượng, vòng đời và khả năng sinh sản:
    • Khối lượng ấu trùng tuổi 6 dao động 0,03 – 0,04 g (không khác biệt ý nghĩa). Khối lượng nhộng 6 ngày tuổi trên lá dừa ta cao đạt 0,03 ± 0,00 g, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với 3 giống dừa còn lại (đều đạt 0,04 ± 0,00 g).
    • Vòng đời sâu đầu đen nuôi trên lá dừa xiêm xanh ngắn nhất (48,03 ± 1,38 ngày), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với dừa xiêm lửa (52,10 ± 0,26 ngày), dừa ta cao (52,10 ± 1,18 ngày) và dừa dứa (51,17 ± 1,63 ngày).
    • Thời gian tiền đẻ trứng (2,00 – 2,67 ngày) và số lượng trứng đẻ hàng ngày (60,38 – 82,52 trứng/ngày) không khác biệt có ý nghĩa. Tuy nhiên, tổng số trứng/thành trùng cái nuôi bằng lá dừa ta cao thấp nhất (186,50 ± 34,77 trứng), thấp hơn có ý nghĩa so với lá dừa xiêm xanh (276,88 ± 59,19 trứng), dừa xiêm lửa (260,56 ± 28,81 trứng) và dừa dứa (297,50 ± 35,52 trứng).

2. Ảnh hưởng của nồng độ mật ong đến sức sinh sản và tuổi thọ thành trùng cái

Nghiên cứu đánh giá 7 chế độ dinh dưỡng bổ sung cho thành trùng cái bắt cặp giao phối:

Nghiệm thức dinh dưỡng Thời gian tiền đẻ trứng (ngày) Số trứng đẻ hàng ngày (trứng/ngày) Tổng số trứng (trứng/thành trùng cái) Tuổi thọ thành trùng cái (ngày)
Mật ong 10% 1,70 ± 0,78 76,27 ± 24,56 237,30 ± 64,47 5,90 ± 1,87
Mật ong 20% 1,80 ± 0,75 68,21 ± 26,71 227,20 ± 89,36 5,60 ± 1,96
Mật ong 40% 2,00 ± 0,89 64,74 ± 10,92 241,50 ± 87,61 6,60 ± 1,80
Mật ong 80% 1,90 ± 0,83 65,87 ± 15,76 298,70 ± 56,39 7,30 ± 1,42
Mật ong 100% 2,50 ± 0,92 75,23 ± 23,22 301,60 ± 74,29 7,90 ± 1,30
Nước cất 1,60 ± 0,80 71,44 ± 22,95 346,70 ± 118,17 8,10 ± 1,81
Đối chứng (không ăn) 1,80 ± 0,40 53,52 ± 12,65 183,60 ± 55,03 6,30 ± 2,10
$F$ tính (ANOVA) $1,12^{ns}$ $1,41^{ns}$ 3,82* 2,93*
  • Thành trùng cái bổ sung nước cất hoặc mật ong nồng độ cao (80%, 100%) có tổng số trứng đạt mức cao nhất (lần lượt là 346,70; 298,70 và 301,60 trứng/con cái), vượt trội có ý nghĩa thống kê so với đối chứng không cho ăn (183,60 trứng/con cái) và các nồng độ mật ong thấp 10% – 40%.
  • Nghiệm thức bổ sung nước cất giúp kéo dài tuổi thọ thành trùng cái cao nhất (8,10 ± 1,81 ngày), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức mật ong 10% (5,90 ngày) và 20% (5,60 ngày).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác định được ấu trùng sâu đầu đen hại dừa O. arenosella tại Bến Tre có 6 tuổi, thời gian phát triển của pha ấu trùng từ 29 đến 46 ngày trong điều kiện phòng thí nghiệm (28 ± 2°C, 75 ± 5% ẩm độ).
  • Thức ăn từ lá dừa xiêm xanh tạo điều kiện tối ưu nhất cho sự phát triển của sâu đầu đen: vòng đời ngắn nhất (48,03 ± 1,38 ngày), nhộng có kích thước lớn (10,38 mm chiều dài, 2,51 mm chiều rộng), sải cánh thành trùng lớn nhất (24,26 mm) và sức sinh sản cao (276,88 ± 59,19 trứng/con cái). Ngược lại, lá dừa ta cao làm kéo dài thời gian phát triển ấu trùng tuổi 5, tuổi 6 và vòng đời (52,10 ngày), đồng thời làm giảm rõ rệt tổng số trứng đẻ (186,50 trứng/con cái).
  • Bổ sung nước cất hoặc mật ong nồng độ cao (80% – 100%) cho thành trùng cái giúp gia tăng số lượng trứng đẻ (đạt từ 298,70 đến 346,70 trứng/con cái) và duy trì tuổi thọ thành trùng cái dài nhất (7,30 – 8,10 ngày) so với đối chứng không cho ăn (183,60 trứng và 6,30 ngày).

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm đầu tiên về các chỉ tiêu hình thái chi tiết qua 6 tuổi ấu trùng và các pha phát triển của quần thể sâu đầu đen Opisina arenosella xâm nhiễm tại tỉnh Bến Tre.
  • Xác định mức độ thích ứng sinh học của sâu đối với 4 giống dừa phổ biến tại địa phương, chứng minh giống dừa xiêm xanh mẫn cảm và thuận lợi nhất cho sâu nhân mật số, làm cơ sở khoa học cho công tác dự tính, dự báo và xây dựng quy trình phòng trừ tổng hợp (IPM) dịch hại dừa tại ĐBSCL.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các thí nghiệm chỉ mới đánh giá trên một số chỉ tiêu hình thái, thời gian phát triển và sức sinh sản cơ bản trong phạm vi phòng thí nghiệm có kiểm soát (nhiệt độ 28 ± 2°C, ẩm độ 75 ± 5%), chưa thực hiện khảo sát thành phần sinh hóa chi tiết trong lá của từng giống dừa để giải thích cơ chế dinh dưỡng ảnh hưởng đến sinh thái học của sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu biến động mật số và đặc điểm sinh học của sâu đầu đen ngoài điều kiện tự nhiên theo mùa vụ; phân tích mối tương quan giữa hàm lượng dinh dưỡng/hợp chất thứ cấp trong lá dừa với mức độ gây hại; thử nghiệm các loài thiên địch ký sinh (ong Goniozus nephantidis, Habrobracon hebetor) trên nguồn sâu nhân nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học, giảng viên và nghiên cứu viên các ngành Nông học, Bảo vệ thực vật, Côn trùng học nông nghiệp và Quản lý dịch hại cây trồng.
  • Nội dung giá trị:
    • Quy trình kỹ thuật nhân nuôi sâu đầu đen trong phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu và nhân nuôi thiên địch.
    • Bộ dữ liệu hình thái học (kích thước, màu sắc đặc trưng của 6 tuổi ấu trùng, nhộng, thành trùng) phục vụ công tác giám định, nhận diện ngoài đồng ruộng.
    • Cơ sở thực nghiệm giúp cán bộ ngành BVTV địa phương xây dựng mô hình dự báo bùng phát dịch hại trên các vườn dừa chuyên canh giống xiêm xanh.

Câu hỏi thường gặp

1. Sâu đầu đen hại dừa Opisina arenosella trải qua bao nhiêu tuổi ấu trùng và thời gian phát triển của pha này là bao lâu?
Trong điều kiện phòng thí nghiệm (28 ± 2°C, ẩm độ 75 ± 5%), ấu trùng sâu đầu đen trải qua 6 tuổi phát triển với tổng thời gian dao động từ 29 đến 46 ngày trước khi hóa nhộng.

2. Giống dừa nào trong 4 giống thí nghiệm làm cho sâu đầu đen có vòng đời ngắn nhất và khả năng sinh sản cao?
Lá giống dừa xiêm xanh giúp sâu đầu đen có vòng đời ngắn nhất (48,03 ± 1,38 ngày) và sức sinh sản cao (276,88 ± 59,19 trứng/thành trùng cái). Trong khi đó, lá dừa ta cao làm kéo dài vòng đời lên 52,10 ± 1,18 ngày và tổng số trứng đẻ thấp nhất (186,50 ± 34,77 trứng/thành trùng cái).

3. Khối lượng của ấu trùng tuổi 6 và nhộng 6 ngày tuổi của sâu đầu đen đạt bao nhiêu?
Khối lượng ấu trùng tuổi 6 ở cả 4 nghiệm thức lá dừa đạt từ 0,03 đến 0,04 g. Khối lượng nhộng 6 ngày tuổi ở nghiệm thức dừa xiêm xanh, xiêm lửa và dừa dứa đạt 0,04 ± 0,00 g, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức dừa ta cao (0,03 ± 0,00 g).

4. Chế độ bổ sung dinh dưỡng nào giúp thành trùng cái sâu đầu đen đẻ nhiều trứng nhất và sống lâu nhất?
Thành trùng cái được bổ sung nước cất đạt tổng số trứng cao nhất (346,70 ± 118,17 trứng/con cái) và tuổi thọ dài nhất (8,10 ± 1,81 ngày), kế tiếp là các nghiệm thức bổ sung mật ong nồng độ 100% (301,60 trứng; 7,90 ngày) và mật ong 80% (298,70 trứng; 7,30 ngày), cao hơn rõ rệt so với đối chứng không cho ăn (183,60 trứng; 6,30 ngày).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Thị Mỹ Hướng đã xác định chi tiết các chỉ tiêu sinh học của sâu đầu đen Opisina arenosella Walker khi nuôi bằng lá của 4 giống dừa và các nồng độ dinh dưỡng mật ong tại Bến Tre. Kết quả chứng minh lá dừa xiêm xanh là nguồn thức ăn tối ưu giúp sâu rút ngắn vòng đời và nâng cao khả năng sinh sản, đồng thời việc bổ sung nước cất hoặc mật ong nồng độ cao giúp gia tăng đáng kể sức đẻ trứng của thành trùng cái. Đây là công trình thực nghiệm có giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp dữ liệu nền tảng phục vụ công tác giám sát, dự tính dự báo và quản lý sinh học loài sâu hại nguy hiểm này tại các vùng trồng dừa trọng điểm.