Chương 1 THU HỒI ĐẤT ĐỂ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP, KẾT CẤU HẠ TẦNG - TÍNH CẤP THIẾT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CỦA NÔNG DÂN 1. Tính cấp thiết phải thu hồi đất để xây dựng đô thị, khu công nghiệp, kết cấu hạ tầng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân ở nước ta. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho việc xây dựng khu công nghiệp, đô thị và kết cấu hạ tầng ở nước ta Chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, hay công nghiệp hóa là xu thế phát triển tất yếu của tất cả các nước trên thế giới. Ngày nay, với sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế tri thức, công nghiệp hóa lại gắn với hiện đại hóa, làm biến đổi cấu trúc kinh tế, thúc đẩy các ngành nghề có hàm lượng tri thức cao, sử dụng công nghệ hiện đại, tạo điều kiện cho các nước đi sau có thể rút ngắn quá trình CNH.
Ở Việt Nam, CNH được đề ra tại Đại hội của Đảng lần thứ III năm 1960, và sau khi đổi mới, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ VII (Khóa VII) đã xác định: “CNH, HĐH là quá trình biến đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đề ra chủ trương: “Cơ cấu lại, xây dựng nền công nghiệp theo hướng phát triển mạnh những ngành có tính nền tảng, có lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế, từng bước có khả năng tham gia sâu, có hiệu quả vào mạng lưới sản xuất và phân phối toàn cầu”. Và đặt ra chỉ tiêu đến năm 2015 công nghiệp và xây dựng đạt 41 – 42%; sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt 35% tổng GDP. 190] Như vậy, để tiến hành quá trình CNH, HĐH ở nước ta, chúng ta vừa phải chuyển dịch lao động nông nghiệp sang công nghiệp, vừa phải xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Trong quá trình CNH, tất yếu phải xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, nên phải thu hồi đất để phát triển các KCN, KĐT và KCHT. Nghị định 36 CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ Việt Nam đã định nghĩa KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định (có tường bao quanh, không có dân cư sinh sống), do các cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền quyết định thành lập (theo đúng trình tự pháp luật). ĐTH là quá trình song song với sự phát triển của CNH và cách mạng khoa học - công nghệ, biểu hiện cụ thể là dân cư nông thôn chuyển dần sang sống tại các đô thị. Theo số liệu thống kê năm 2009, tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, tỷ lệ dân số sống ở nông thôn là 78,9%, dân số trong nông nghiệp là 75,8%; tại Myanmar tương ứng là: 70% và 69%; tại Campuchia: 80,8% và 68,5%; tại Việt Nam: 73,8% và 65,7%; tại Thái Lan: 67,9% và 45,8%; tại Inđônêsia: 53,2% và 41,5%; tại Phillippin: 38,2% và 375; tại Singapone: 0% và 0,12%; tại Brunây: 23,2% và 0,6%; còn ở Malaixia: 35,1% và 15% [39].
Mục tiêu mà nước ta đề ra có khoảng 38% dân số đô thị vào năm 2015, và 40% vào năm 2020 là khó đạt. Vì tốc độ quy hoạch đô thị đang diễn ra nhanh nhưng chưa đồng bộ với việc phát triển dân số đô thị. Ở nước ta quá trình thu hồi đất đã và đang diễn ra như sau: Thứ nhất, thu hồi đất để xây dựng các KCN, KCX, nhằm thu hút đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ. Theo số liệu của Bộ kế hoạch và đầu tư, đến cuối năm 2010, cả nước có 260 KCN, được thành lập với tổng diện tích trên 71.300 ha nhưng tỷ lệ lấp đầy tại các KCN mới chỉ đạt 46%.
Trong tổng số KCN, có 173 KCN đã hoàn thiện KCHT và đi vào hoạt động, số còn lại đang giải phóng mặt bằng. Các KCN đã thu hút 3960 dự án FDI với số tiền đầu tư là 53,6 tỷ USD; 4.380 dự án trong nước với tổng kinh phí 336.000 tỷ đồng cho đầu tư sản xuất kinh doanh [8]. Với sự đầu tư này, doanh thu từ các KCN đạt khá cao và giải quyết khoảng 1,6 triệu lao động trực tiếp, và 1 triệu lao động gián tiếp phục vụ cho hoạt động công nghiệp [8].Số lượng và tổng diện tích các KCN đã thành lập tính đến hết năm 2010 phân theo vùng lãnh thổ. Vùng Số lượng khu công nghiệp Tổng diện tích (ha) Đồng bằng Sông Hồng 66 15.031 Trung du miền núi Băc Bộ 16 2.261 Đồng Nam Bộ 88 33.290 Đồng bằng Sông Cửu Long 43 10.394 ( nguồn: Vụ quản lý các khu kinh tế - tháng 2/2011) Theo quy hoạch được Thủ tướng chính phủ phê duyệt vào tháng 8/ 2005, đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 cả nước có khoảng 80.000 ha đất dành cho KCN và KCX.
Thứ hai, thu hồi đất để xây dựng và phát triển đô thị bao gồm xây dựng các công trình: nhà ở của dân cư đô thị, trụ sở làm việc của bộ máy hành chính, các công trình công cộng phúc lợi xã hội như trường học, bệnh viện, công viên, các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh thương mại ở đô thị, các công trình dịch vụ giao thông, điện nước…. Song song với quá trình CNH, các đô thị sẽ mọc lên nhanh chóng. Nhu cầu mở rộng đô thị trở nên cấp thiết do sự phát triển của kinh tế - xã hội và sự gia tăng dân số đô thị, đặc biệt với các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ… Năm 1990, cả nước ta có khoảng 500 đô thị, với tỷ lệ dân cư sống tại đô thị khoảng từ 17% -18% và đến năm 2010, cả nước có khoảng hơn 700 đô thị. Theo dự báo đến 2020 tỷ lệ đô thị hóa ở Việt Nam đạt khoảng 40%, tương đương 45 triệu người.
Bình quân đầu người tại khu vực ĐTH là 100m2/người, ước tính khoảng 450.000 ha đất đô thị. Hiện tại mới chỉ đáp ứng được khoảng 1/4 (105.000 ha), có nghĩa là cần thu hồi khoảng 345.000ha trong những năm tới. Ví dụ thành phố Hồ Chí Minh quy hoạch đáp ứng 3 triệu dân, nhưng số dân hiện tại là 7 triệu [8]. Thứ ba, thu hồi đất để nâng cấp, xây dựng mới hệ thống KCHT phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng.
Đó là các nhu cầu xây dựng hạ tầng giao thông, hệ thống điện lưới quốc gia, thông tin, liên lạc, bưu chính viễn thông, hệ thống thủy lợi…Việc xây dựng KCHT là nhu cầu cấp thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Để phát triển các mặt của đời sống xã hội cần phải có KCHT hiện đại, đây là một trong những tiêu chí của hiện đại hóa. KCHT được phát triển sẽ thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các vùng miền, giữa các quốc gia. Sự phát triển hệ thống này có vai trò quan trọng cho việc thu hút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, mở rộng thị trường…Qũy đất để xây dựng hệ thống KCHT là quỹ đất được chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp bị thu hồi.
Ở nước ta KCHT được đầu tư khá mạnh, giai đoạn năm 2001 đến 2008 nguồn vốn đầu tư cho giao thông khoảng 117.794 tỷ đồng, chưa tính đến nguồn vốn ODA và FDI. Tính đến 2012 chúng ta có 295.046 km đường bộ (gồm 94 đường quốc lộ, 03 đường cao tốc) và nhiều cây cầu lớn. So với những năm đầu của thập kỷ 90, tổng chiều dài đường bộ trên cả nước tăng gấp 2 lần. Đường sắt cũng tăng, đến năm 2012 cả nước có 2.
Kết cấu hạ tầng về hàng không, cũng có nhiều cảng được xây dựng, đến năm 2012 có tổng số là 22 cảng trên khắp các tỉnh thành cả nước [48]. Để có mặt bằng cho hệ thống kết cấu trên cũng đã phải thu hồi một số đất ở, đất nông nghiệp và các loại đất khác. Tính đến hết năm 2010 tổng diện tích thu hồi trên cả nước là 192.212 ha, theo tính toán thu hồi cho KCN, KĐT như trên thì KCHT có diện tích đất đã thu hồi là 15. Đến nay chưa có số liệu thống kê chính thức, nhưng sẽ gia tăng cùng với tốc độ phát triển KCHT.
Thu hồi đất để phát triển công nghiệp và đô thị đã đặt ra những vấn đè cấp thiết Thứ nhất, giảm diện tích đất canh tác, phải rút bớt lao động nông nghiệp để chuyển sang công nghiệp và dịch vụ. Theo quy luật, trong quá trình công nghiệp hóa, tất yếu lao động nông nghiệp sẽ giảm sút một cách tuyệt đối và tương đối, không những do năng suất lao động tăng lên và việc ứng dụng công nghệ mới đòi hỏi ít lao động sống trên một đơn vị diện tích mà còn do ruộng đất có hạn. Bình quân diện tích trên một nhân khẩu giảm đi, khiến cho nhiều người không còn đủ ruộng đất để canh tác, buộc phải đi làm việc ở các ngành sản xuất phi nông nghiệp (công nghiệp phục vụ nông nghiệp, hoặc các ngành công nghiệp độc lập với nông nghiệp). Ở thời điểm trước đổi mới, một lao động ở miền Bắc Việt Nam có khoảng 3 sào bắc bộ (1080m2); ở miền Nam đất nông nghiệp trên 1 lao động gấp 2 - 2,5 lần (tức khoảng 2160m2 – 2700m2).
Sau đổi mới, diện tích đất nông nghiệp trên một lao động bị giảm sút. Theo điều tra, năm 1980 -1990, diện tích đất nông nghiệp bình quân là 2 sào/1 nhân khẩu, đến năm 2010 là 1,3 sào/1nhân khẩu, có nơi chỉ còn 10 thước/1nhân khẩu ( tức 240 m2) [22, tr. Trung bình 1 lao động nông nghiệp có thể canh tác gấp 4 - 5 lần diện tích được giao (khoảng từ 5,2 - 6,5 sào/1 lao động). Theo thống kê cả nước ta quỹ đất nông nghiệp có gần 9,3 triệu ha, trong đó đất trồng cây hàng năm hơn 5 triệu ha, đất trồng lúa 4 triệu ha.