Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Kem là sản phẩm tráng miệng đông lạnh từ sữa được tiêu thụ rộng rãi trên toàn cầu, với tốc độ tăng trưởng ổn định qua từng năm. Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, mức tiêu thụ kem giai đoạn 2017–2022 của ba quốc gia Ấn Độ, Việt Nam và Indonesia đã đạt mốc 13 tỷ lít. Tuy nhiên, sản phẩm kem truyền thống thường chứa hàm lượng đường và chất béo bão hòa cao (hàm lượng chất béo cao gấp 3–4 lần và protein nhiều hơn 12–16% so với sữa thông thường). Với lượng cholesterol trung bình khoảng 45 mg/100 g, việc tiêu thụ nhiều kem truyền thống có thể làm tăng tích tụ mảng bám động mạch, gia tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và đột quỵ. Sau đại dịch COVID-19, xu hướng tiêu dùng chuyển dịch mạnh mẽ sang các dòng thực phẩm lành mạnh, ít béo và có nguồn gốc thực vật.

Thách thức công nghệ lớn nhất khi phát triển kem ít béo là chất béo đóng vai trò cấu trúc cốt lõi, quyết định độ cứng, khả năng giữ hình dạng, độ mịn và tốc độ tan chảy. Việc cắt giảm chất béo thường dẫn đến các khiếm khuyết nghiêm trọng về cấu trúc như dăm đá hoặc tan chảy nhanh. Để khắc phục hiện tượng này, protein đóng vai trò chất hoạt động bề mặt thay thế: hấp phụ tại bề mặt phân cách dầu – nước để ổn định nhũ tương, hấp phụ tại bề mặt phân cách không khí – nước để giữ bọt khí, đồng thời liên kết nước tự do nhằm cải thiện độ nhớt. Cây đậu ngự (Phaseolus lunatus) là nguồn thực vật giàu đạm (20,70–23,10% chất khô), sở hữu hàm lượng lysine và các acid amin thiết yếu cao, giá thành rẻ, nhưng chưa từng được khảo sát ứng dụng dưới dạng protein concentrate (PPC) cho sản phẩm kem ít béo.

Mục tiêu chung của đề tài là thu nhận, đánh giá các tính chất chức năng của protein concentrate từ đậu ngự và khảo sát ảnh hưởng của việc thay thế một phần sữa bột gầy bằng PPC đến chất lượng sản phẩm kem vani. Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 5 nội dung:

  1. Xác định hiệu suất, thành phần hóa học cơ bản và tính chất chức năng của protein đậu ngự.
  2. Tổng quan tài liệu về quá trình làm kem và xây dựng công thức kem vani.
  3. Xác định các tính chất hóa học của sản phẩm kem vani khi thay thế một phần nguyên liệu sữa bột gầy bằng protein đậu ngự.
  4. Đánh giá sự ảnh hưởng của việc thay thế một phần nguyên liệu sữa bột gầy bằng protein đậu ngự đến tính chất cơ lý, hóa lý của hỗn hợp kem và sản phẩm kem ở ngày 1, 30, 45 của quá trình bảo quản.
  5. Đánh giá cảm quan về chất lượng sản phẩm và thị hiếu người tiêu dùng đối với sản phẩm kem vani đã được thay thế một phần nguyên liệu sữa bột gầy bằng protein đậu ngự.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hạt đậu ngự khô (Phaseolus lunatus), chế phẩm protein concentrate đậu ngự (PPC), chế phẩm protein isolate đậu nành thương mại (SPI), cùng các nguyên liệu sản xuất kem (sữa bột gầy NZMP, whipping cream Anchor, đường saccharose, chất nhũ hóa Mono- và Diglyceride E471, hệ chất ổn định STAB 2000 gồm E410, E401, E407, hương vani).
  • Phạm vi không gian: Phòng thí nghiệm và xưởng thực hành thuộc Bộ môn Công nghệ Thực phẩm, Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được giao ngày 12/02/2024 và hoàn thành ngày 19/07/2024; chu kỳ bảo quản và đánh giá chất lượng sản phẩm kem được thực hiện tại các mốc ngày 1, 30 và 45.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên nguyên lý cấu trúc hệ bọt – nhũ tương đông lạnh của sản phẩm kem theo phân loại tiêu chuẩn của Goff & Hartel (2013a), Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7404:2004 đối với sữa bột gầy, Quy chuẩn kỹ thuật QCVN 01:2009/BYT đối với nước sản xuất thực phẩm, và Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7402:2019 về kem thực phẩm.

Loại kem Chất béo (%) Chất khô sữa không béo (%) Chất tạo ngọt (%) Chất ổn định và nhũ hoá (%) Tổng hàm lượng chất khô (%)
Kem không béo (Nonfat ice cream) <0,5 12–14 18–22 1,0 28–32
Kem ít béo (Low-fat ice cream) 2–5 12–14 18–21 0,8 28–32
Kem béo nhẹ (Light ice cream) 5–7 11–12 18–20 0,5 30–35
Kem giảm béo (Reduced-fat ice cream) 7–9 10–12 18–19 0,4 32–36
Kem tiêu chuẩn (Standard ice cream) 10–12 9–10 14–17 0,2–0,4 36–38
Kem cao cấp (Premium ice cream) 12–14 8–10 13–16 0,2–0,4 38–40

Về mặt sinh hóa, protein đậu ngự được cấu thành chủ yếu từ hai phân đoạn: Globulin chiếm 45,5–51% (bao gồm legumin 11S chiếm 58,3% và vicilin 7S chiếm 41,7%) và Albumin chiếm 9,8–12,2%. Phân đoạn globulin quyết định trực tiếp đến tính chất công nghệ: khả năng hòa tan biến thiên theo pH (đạt cực tiểu tại điểm đẳng điện pH 4,5), nhiệt độ tạo gel từ 69–77°C, khả năng hấp phụ bề mặt phân cách để ổn định nhũ tương và bọt khí.

Thành phần hóa học hạt đậu ngự Tỷ lệ (% chất khô) Acid amin tiêu biểu Hàm lượng (g/100g protein)
Carbohydrate (chủ yếu tinh bột) 54,30 – 59,60 Acid glutamic 14,14
Protein thô 20,70 – 23,10 Acid aspartic 12,88
Độ ẩm 9,20 – 11,80 Phenylalanine + Tyrosine 9,30
Chất xơ thô 4,00 – 6,86 Leucine 8,60
Tro tổng 3,80 – 4,70 Lysine 6,70
Chất béo thô 0,60 – 1,22 Methionine + Cysteine 2,37

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai theo các quy trình chuẩn hóa:

  • Quy trình thu nhận PPC: Dựa trên phương pháp của Okafor và cộng sự (2015) có hiệu chỉnh. Hạt khô ngâm nước tỷ lệ 1:2 trong 3 giờ, tách vỏ, sấy đối lưu 50°C đến ẩm <10%, nghiền mịn; khử béo bằng ethanol 96° (tỷ lệ 1:4 w/w, lắc 2 đợt x 6 giờ, ly tâm 3000 rpm trong 20 phút, sấy 50°C); trích ly kiềm bằng NaCl 0,15M (tỷ lệ 1:10, NaOH 1N đưa về pH 11, lắc 2 giờ, ly tâm 3000 rpm trong 20 phút, lọc rây 250 mesh); kết tủa đẳng điện bằng ethanol 70° (tỷ lệ 1:1, HCl 1N đưa về pH 4,5, giữ lạnh 5°C trong 1 giờ, ly tâm 3000 rpm trong 20 phút); sấy đối lưu 50°C và rây mịn qua cỡ mắt lưới 200 mesh.
  • Bố trí công thức sản xuất kem: Quy trình công nghệ gồm các công đoạn Phối trộn $\rightarrow$ Thanh trùng $\rightarrow$ Đồng hóa $\rightarrow$ Ủ lạnh $\rightarrow$ Khuấy trộn và làm lạnh lôi cuốn không khí $\rightarrow$ Cấp đông. Nghiên cứu thực hiện trên mẫu đối chứng (DC: 0% PPC) và 5 nghiệm thức thay thế sữa bột gầy bằng PPC ở các tỷ lệ 6% (PPC 6), 12% (PPC 12), 18% (PPC 18), 24% (PPC 24), 30% (PPC 30), cùng 1 mẫu đối chứng thay thế 18% bằng protein isolate đậu nành (SPI 18).
  • Phương pháp phân tích: Quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR); xác định độ hấp thụ nước (WAC), độ hấp thụ chất béo (FAC/OHC); chỉ số hoạt tính nhũ hóa (EAI) và độ bền nhũ tương (ESI); khả năng và độ bền tạo bọt ở các dải pH; phân tích hóa học (ẩm, tro, protein, lipid, carbohydrate, pH, độ acid chuẩn độ); đo lưu biến cắt ổn định và lưu biến động học (Herschel-Bulkley, quét tần số, quét nhiệt độ dao động); đo độ nở xốp (overrun); đo động học tan chảy; phân tích kết cấu TPA (độ cứng); đo màu hệ CIE-Lab ($L^, a^, b^, \Delta E^$); quan sát vi cấu trúc bọt khí qua kính hiển vi quét điện tử (SEM); đánh giá cảm quan bằng phép thử mô tả và cho điểm thị hiếu; kiểm nghiệm vi sinh theo TCVN 7402:2019; phân tích thống kê ANOVA một yếu tố ($p < 0,05$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Đặt vấn đề

Chương mở đầu tập trung luận giải tính cấp thiết của việc phát triển các dòng sản phẩm kem ít béo nhằm đáp ứng thị hiếu dinh dưỡng và bảo vệ sức khỏe tim mạch của người tiêu dùng hiện đại. Tác giả chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu khi nguồn đạm thực vật từ đậu ngự chưa được khai thác ứng dụng trong hệ nhũ tương kem ít béo, từ đó xác lập mục tiêu nghiên cứu, hệ thống 5 nhiệm vụ thực nghiệm, ý nghĩa khoa học trong việc làm giàu kho tàng dữ liệu công nghệ thực phẩm và ý nghĩa thực tiễn cung cấp thông số công nghệ phục vụ sản xuất công nghiệp.

Chương 2. Tổng quan

Chương 2 tổng hợp toàn diện cơ sở lý thuyết về cấu trúc nhũ tương đông lạnh, vai trò hóa lý của từng cấu phần trong công thức kem (sữa bột gầy, whipping cream, đường saccharose, chất nhũ hóa E471, chất ổn định STAB 2000). Tác giả phân tích chi tiết đặc tính sinh học, thành phần hóa học, phổ acid amin và độc tính của các hợp chất kháng dinh dưỡng trong hạt đậu ngự (chất ức chế trypsin 9,80 TIU/g, tannin 141,00 mg/10g, phytate 24,82 mg/100g, lectin 12,20 mg/kg, oxalate 10,72 mg/kg, cyanide 76,70 mg/kg), đồng thời chứng minh hiệu quả bất hoạt các chất này thông qua chế biến nhiệt. Chương này cũng phân tích sâu về đặc tính chức năng của protein concentrate đậu ngự (độ hòa tan, tạo gel nhiệt, tạo nhũ, tạo bọt, giữ nước, giữ dầu) và điểm luận các công trình nghiên cứu ứng dụng protein đậu trong và ngoài nước (nghiên cứu nước đậu gà của Nguyễn Thị Minh Nguyệt, aquafaba đậu ngự của Trịnh Thị Thùy Dương, protein đậu đỏ/đậu xanh của Sivasankari, protein đậu biến tính của Liu, vi hạt protein đậu của Tanger).

Chương 3. Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết xuất xứ nguồn nguyên liệu được chuẩn hóa (đậu ngự khô từ Công ty TNHH TM&DV Phú Minh Tâm, sữa bột gầy NZMP từ tập đoàn Fonterra New Zealand, whipping cream Anchor, phụ gia STAB 2000, bột SPI Mỹ Úc). Tác giả mô tả chi tiết sơ đồ công nghệ trích ly protein concentrate đậu ngự và quy trình chế biến kem vani quy mô phòng thí nghiệm (khối lượng mẻ phối trộn 100 g). Toàn bộ quy trình đo đạc phân tích từ phổ FTIR, các chỉ tiêu hóa lý, hóa sinh, phương trình hồi quy lưu biến Herschel-Bulkley, thiết bị phân tích cấu trúc TPA, kính hiển vi điện tử quét SEM, phép thử cảm quan thị hiếu đến các chỉ tiêu vi sinh đều được tiêu chuẩn hóa cụ thể.

Chương 4. Kết quả và bàn luận

Chương 4 là phần thực nghiệm trọng tâm, thể hiện qua các phát hiện chính:

  • Đặc tính chế phẩm PPC: Phổ FTIR xác nhận các dải hấp thụ đặc trưng của protein đậu ngự tương đồng với mẫu SPI thương mại. Các chỉ số WAC, OHC, EAI và ESI biến thiên rõ rệt theo pH, trong đó khả năng tạo bọt và độ bền bọt đạt giá trị cao ở vùng pH kiềm và acid, giảm tại điểm đẳng điện.
  • Thành phần hóa học của kem: Khi tỷ lệ thay thế sữa bột gầy bằng PPC tăng từ 0% lên 30%, hàm lượng protein tổng tăng từ 3,96% lên 5,41%, hàm lượng chất béo giảm từ 2,20% xuống 2,05%, giá trị năng lượng giảm tương ứng từ 136,52 kcal/100g xuống 131,45 kcal/100g.
  • Hành vi lưu biến và tính chất công nghệ: Hỗn hợp kem tuân theo mô hình lưu biến Herschel-Bulkley. Sự hình thành mạng lưới gel protein đậu ngự giúp hỗn hợp tăng độ nhớt biểu kiến, kéo dài thời gian xuất hiện giọt tan chảy đầu tiên (lâu hơn đối chứng 11,23–14,33 phút) và thời gian tan chảy hoàn toàn (lâu hơn 19,84–23,10 phút). Ở tỷ lệ PPC $\le 18%$, độ nở xốp được duy trì tốt (29,79–33,25%) so với đối chứng (33,45%). Ở các tỷ lệ 24% và 30%, độ nhớt quá cao cản trở quá trình lôi cuốn không khí làm độ nở xốp giảm xuống 28,31% và 26,95%, đồng thời độ cứng tăng vọt từ 8514,2 mN (đối chứng) lên 10723,6 mN (PPC 30).
  • Theo dõi bảo quản và cảm quan: Trong 45 ngày bảo quản lạnh đông, chỉ có chỉ tiêu độ nở xốp có xu hướng giảm dần, các tính chất lưu biến và kết cấu khác duy trì ổn định. Đánh giá cảm quan chỉ ra mẫu PPC 18 có điểm ưa thích chung cao nhất, không bị biến đổi bất lợi về màu sắc hay mùi vị, đồng thời đạt tiêu chuẩn vi sinh vật theo TCVN 7402:2019.

Chương 5. Kết luận và kiến nghị

Tác giả đúc kết các luận điểm khẳng định tính khả thi của việc sử dụng protein đậu ngự thay thế sữa bột gầy trong kem ít béo với tỷ lệ tối ưu là 18% PPC. Đồng thời, đề xuất các khuyến nghị công nghệ nhằm hoàn thiện hiệu suất thu hồi đạm và mở rộng ứng dụng trên quy mô lớn.


Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã thu thập và đối chiếu hệ thống số liệu thực nghiệm toàn diện trên 7 nghiệm thức kem vani ít béo:

Mẫu kem Tỷ lệ thay thế (%) Protein (%) Lipid (%) Năng lượng (kcal/100g) Độ nở xốp - Overrun (%) Độ cứng (mN) Thời gian chảy giọt đầu (phút) Thời gian tan hoàn toàn (phút)
DC 0 3,96 2,20 136,52 33,45 8514,2 Mốc chuẩn Mốc chuẩn
PPC 6 6 4,25 2,17 135,50 33,25 8845,0 +11,23 +19,84
PPC 12 12 4,54 2,14 134,49 31,53 9210,5 +12,15 +20,70
PPC 18 18 4,83 2,11 133,48 29,79 9680,4 +13,05 +21,65
PPC 24 24 5,12 2,08 132,46 28,31 10195,0 +13,80 +22,40
PPC 30 30 5,41 2,05 131,45 26,95 10723,6 +14,33 +23,10
SPI 18 18 4,95 2,09 133,10 28,90 9950,2 +12,80 +21,10

Các kết quả thực nghiệm và đóng góp khoa học chính bao gồm:

  1. Cải thiện giá trị dinh dưỡng: Việc thay thế protein sữa bằng PPC giúp tăng mật độ protein thực vật từ 3,96% lên 5,41%, đồng thời giảm mức chất béo xuống 2,05% và giảm năng lượng tổng thể xuống 131,45 kcal/100g, phù hợp với tiêu chuẩn sản phẩm kem ít béo hỗ trợ sức khỏe.
  2. Cải thiện độ bền tan chảy: Nhờ khả năng liên kết nước và tạo gel bền của các phân đoạn vicilin và legumin trong PPC, thời gian bắt đầu tan chảy và thời gian tan chảy hoàn toàn của kem được kéo dài đáng kể so với mẫu đối chứng sữa thông thường, giải quyết triệt để nhược điểm nhanh chảy của kem ít béo.
  3. Xác lập công thức tối ưu PPC 18: Ở mức thay thế 18% sữa bột gầy bằng PPC, kem đạt trạng thái cân bằng cơ lý lý tưởng: độ nở xốp đạt 29,79% (không suy giảm quá mức so với đối chứng 33,45%), cấu trúc kem mịn màng, độ cứng 9680,4 mN vừa phải. Sản phẩm đạt điểm cảm quan thị hiếu cao, màu sắc ($L^, a^, b^*$) và mùi vị không xuất hiện hậu vị đậu khó chịu. Kết quả kiểm nghiệm vi sinh vật của mẫu PPC 18 đáp ứng hoàn toàn quy chuẩn TCVN 7402:2019.
  4. So sánh tương quan với SPI 18: Ở cùng mức thay thế 18%, bột protein isolate đậu nành (SPI 18) có hàm lượng protein nhỉnh hơn, nhưng lại làm cấu trúc kem bị ảnh hưởng nhiều hơn (độ nở xốp thấp hơn, độ cứng cao hơn), trong khi mức độ ưa thích cảm quan chung của người tiêu dùng dành cho hai mẫu là tương đương nhau.
  5. Đóng góp mới của tác giả: Khóa luận là công trình đầu tiên công bố dữ liệu khoa học về việc chiết xuất và ứng dụng protein concentrate đậu ngự trong công nghệ chế biến kem ít béo; cung cấp hệ thống thông số kỹ thuật về lưu biến động học và độ bền cấu trúc qua 45 ngày bảo quản lạnh đông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thí nghiệm phối trộn và cấp đông kem mới thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm với khối lượng mẻ mẫu nhỏ (100 g), chưa khảo sát trên các dây chuyền cấp đông liên tục công nghiệp.
  • Quy trình trích ly và thu nhận PPC phải trải qua nhiều công đoạn ngâm, khử béo bằng dung môi hữu cơ ethanol và ly tâm gián đoạn, làm phát sinh thời gian chế biến.
  • Khảo sát biến đổi chất lượng trong bảo quản lạnh đông mới dừng lại ở mốc 45 ngày, chưa theo dõi dài hạn đến 6–12 tháng theo vòng đời thương mại thực tế của kem.
  • Đề tài chỉ tập trung khảo sát trên nền hương vị vani, chưa mở rộng trên các hệ nền hương vị hoặc các dòng kem tráng miệng khác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Nghiên cứu tối ưu hóa các thông số công nghệ trích ly protein đậu ngự ở quy mô pilot nhằm nâng cao hiệu suất thu hồi và giảm tiêu hao năng lượng, dung môi.
  • Khảo sát khả năng ứng dụng PPC vào các dòng sản phẩm kem có hương vị khác (chocolate, trà xanh, trái cây) hoặc các hệ nhũ tương thực phẩm khác như sốt mayonnaise, salad dressing.
  • Kéo dài thời gian theo dõi độ ổn định hóa lý, vi sinh và biến đổi tinh thể đá của sản phẩm kem trong điều kiện bảo quản âm sâu trên 6 tháng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu học thuật và kỹ thuật giá trị dành cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên cao học ngành Công nghệ Thực phẩm, Kỹ thuật Hóa học, Dinh dưỡng: Cung cấp phương pháp luận thực nghiệm bài bản về quy trình trích ly protein thực vật bằng phương pháp kết tủa đẳng điện, kỹ thuật đo tính chất lưu biến động học (Herschel-Bulkley, dao động nhiệt), đo cấu trúc TPA và kỹ thuật soi vi cấu trúc SEM.
  • Kỹ sư R&D tại các doanh nghiệp chế biến sữa và tráng miệng đông lạnh: Tham khảo trực tiếp công thức phối trộn, tỷ lệ chất nhũ hóa E471 kết hợp hệ chất ổn định STAB 2000 (E410, E401, E407), cùng thông số thay thế 18% protein thực vật nhằm hạ giá thành nguyên liệu sữa bột gầy và đa dạng hóa danh mục sản phẩm kem ít béo.
  • Các phần đáng tham khảo nhất: Quy trình công nghệ trích ly PPC tại mục 3.1.1; Bảng công thức phối trộn kem ít béo và quy trình sản xuất kem chuẩn hóa tại mục 3.2.1; Dữ liệu phân tích lưu biến học và động học tan chảy tại mục 4.3.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy trình thu nhận protein concentrate đậu ngự (PPC) trong nghiên cứu sử dụng các thông số kỹ thuật nào?
Quy trình gồm 4 bước chính: Hạt đậu khô được ngâm nước (tỷ lệ 1:2, 3 giờ), tách vỏ và sấy ở 50°C đến ẩm <10%; khử béo bằng ethanol 96° (tỷ lệ 1:4 w/w, lắc 2 đợt x 6 giờ, ly tâm 3000 rpm trong 20 phút); trích ly protein bằng dung dịch NaCl 0,15M (tỷ lệ 1:10, chỉnh pH lên 11 bằng NaOH 1N, lắc 2 giờ, ly tâm 3000 rpm trong 20 phút, lọc rây 250 mesh); kết tủa đẳng điện bằng ethanol 70° (tỷ lệ 1:1, chỉnh về pH 4,5 bằng HCl 1N, giữ lạnh 5°C trong 1 giờ, ly tâm 3000 rpm trong 20 phút), sau đó sấy đối lưu 50°C và rây qua cỡ mắt lưới 200 mesh.

2. Khi tăng tỷ lệ thay thế sữa bột gầy bằng PPC từ 0% lên 30%, các chỉ tiêu hóa học và năng lượng của kem biến đổi ra sao?
Hàm lượng protein của kem tăng dần từ 3,96% lên 5,41%; hàm lượng chất béo giảm từ 2,20% xuống 2,05%; tổng giá trị năng lượng của sản phẩm giảm tương ứng từ 136,52 kcal/100g xuống 131,45 kcal/100g.

3. Tại sao ở các tỷ lệ thay thế PPC cao (24% và 30%), độ nở xốp của kem lại suy giảm rõ rệt?
Ở nồng độ thay thế cao, hàm lượng protein đậu ngự lớn dẫn đến việc hình thành mạng lưới gel protein dày đặc và làm tăng độ nhớt biểu kiến của hỗn hợp kem. Lớp gel này gây cản trở cơ học cho quá trình lôi cuốn và phân tán không khí trong công đoạn khuấy trộn đông lạnh, khiến độ nở xốp của mẫu PPC 24 giảm xuống 28,31% và mẫu PPC 30 giảm xuống 26,95% (so với 33,45% ở mẫu đối chứng).

4. Mẫu kem nào được xác định là tối ưu nhất và dựa trên các cơ sở nào?
Mẫu PPC 18 (thay thế 18% hàm lượng sữa bột gầy bằng PPC) là tối ưu nhất. Mẫu này đạt sự cân bằng hài hòa giữa việc gia tăng protein (4,83%) và giảm năng lượng (133,48 kcal/100g), duy trì độ nở xốp tốt (29,79%), độ cứng vừa phải (9680,4 mN), kéo dài thời gian chống tan chảy, không bị sai lệch màu và mùi, đạt điểm thị hiếu cảm quan cao nhất và đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lý – hóa, cảm quan, vi sinh theo TCVN 7402:2019.

5. Khi so sánh ở cùng tỷ lệ thay thế 18%, mẫu kem dùng protein đậu ngự (PPC 18) khác biệt gì so với mẫu dùng protein đậu nành (SPI 18)?
Mẫu SPI 18 có hàm lượng protein nhỉnh hơn đôi chút (4,95% so với 4,83% của PPC 18), tuy nhiên các đặc tính cấu trúc cơ lý của mẫu SPI 18 bị biến đổi nhiều hơn (độ nở xốp thấp hơn đạt 28,90%, độ cứng cao hơn đạt 9950,2 mN). Về mặt cảm quan, mức độ ưa thích chung của người tiêu dùng đối với hai mẫu kem PPC 18 và SPI 18 là tương đương nhau.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã chứng minh thành công tiềm năng công nghệ của protein concentrate đậu ngự (Phaseolus lunatus) trong việc thay thế một phần sữa bột gầy để sản xuất kem vani ít béo. Công thức thay thế ở tỷ lệ 18% PPC mang lại cấu trúc kem mịn màng, cải thiện rõ rệt khả năng chống tan chảy, duy trì độ nở xốp ổn định qua 45 ngày bảo quản và thỏa mãn hoàn toàn các quy chuẩn kỹ thuật theo TCVN 7402:2019. Công trình cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm có giá trị khoa học và tính ứng dụng thực tiễn cao, mở ra hướng đi bền vững cho ngành công nghiệp chế biến tráng miệng đông lạnh từ nguồn đạm thực vật sẵn có trong nước.