ĐẶT VẤN ĐỀ Rau quả là một trong những nguồn thực phẩm quý mà thiên nhiên dành cho con người, nó là một phần không thể thiếu cũng như không thể thay thế trong khẩu phần ăn của con người. Thành phần chủ yếu trong rau quả là nước chiếm khoảng 80%, hàm lượng lipid thấp nhưng chứa nhiều chất xơ, khoáng, acid hữu cơ, chất thơm,…Những thành phần này góp phần làm tăng chuyển hóa thức ăn trong cơ thể, làm cân bằng độ acid-kiềm trong máu và dịch bào, nhờ vậy độ pH trong cơ thể luôn ổn định. Đặc điểm của rau quả là có tính thời vụ và ở dạng tươi dễ hư hỏng, vì vậy nó được quan tâm nghiên cứu, bảo quản chế biến nhằm kéo dài thời gian sống, tiện dụng và dễ phân phối, vận chuyển đi xa. Việt Nam là nước nhiệt đới, nhưng trải dài trên nhiều vĩ tuyến nên hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau, từ tiểu vùng có gió mùa Đông Bắc đến tiểu vùng có khí hậu gần ôn đới như Sa Pa, Đà Lạt,… và tiểu vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm miền Nam.
Với điều kiện khí hậu đa dạng như vậy nhưng rau quả Việt Nam vẫn chưa phát triển đúng mức so với những tiềm năng của chúng. Nguyên nhân là còn thiếu những công trình nghiên cứu có hệ thống về giống, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc trước thu hoạch và bảo quản chế biến sau thu hoạch và việc phát triển các sản phẩm giá trị từ nguồn nguyên liệu này. Trong những loại quả ở Việt Nam, nhãn được trồng khá phổ biến, đặc biệt là ở miền Nam. Qua khảo sát và nghiên cứu, tại Việt Nam, cây nhãn được trồng ở nhiều tỉnh và có nhiều giống khác nhau.
Việc thu hoạch và bán trái nhãn tươi đem lại thu nhập thêm cho bà con nông dân khá tốt. An Giang cũng là tỉnh có diện tích trồng nhãn khá lớn và nhiều nhất là trên địa bàn xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú. Giống nhãn trồng tại đây được đánh giá rất cao về giá trị cảm quan (màu sắc, độ ngọt, mùi thơm và cấu trúc của thịt trái). Thực tế cho thấy, cây nhãn đã đồng hành cùng người dân xã Khánh Hòa hàng chục năm nay và góp phần không nhỏ trong việc cải thiện đời sống cho các hộ gia đình trồng nhãn.
Tuy nhiên, dưới góc nhìn khoa học và kinh tế có thể thấy, ngoài việc thu hoạch – bán trái nhãn tươi thì cần có nhiều nghiên cứu chế biến các sản phẩm có giá trị cao và thời gian bảo quản lâu cho nguồn nguyên liệu này. Nguyên nhân do cây nhãn thường thu hoạch trái đồng loạt dẫn tới thị trường không ổn định và giá nhãn rất bấp bênh, không bền vững. Hơn nữa, trái nhãn 1 rất khó giữ được trạng thái tươi ngon trong thời gian lâu nên các chủ vườn thường bị các thương lái ép giá. Vì vậy, để đa dạng hóa các sản phẩm trong ngành công nghệ thực phẩm nói chung và bên lĩnh vực rau quả nói riêng, cũng như xây dựng thương hiệu xoay quanh trái nhãn Khánh Hòa có thể vận chuyển bán buôn khắp cả nước và thị trường quốc tế thì nước nhãn đóng lon có bổ sung thịt nhãn cần được quan tâm nghiên cứu (sản phẩm có giá trị cảm quan về trạng thái và cấu trúc tương tự như các sản phẩm nước yến đóng lon có mặt trên thị trường nhưng mang mùi thơm và vị đặc trưng của trái nhãn Khánh Hòa).2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm nước nhãn đóng lon có bổ sung thịt nhãn, đồng thời xác định các thông số kỹ thuật cho quy trình sản xuất, nhằm tối ưu hóa điều kiện chế biến để tạo ra sản phẩm mới có hương vị thơm ngon, bảo quản trong thời gian dài và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, nội dung nghiên cứu gồm có: - Khảo sát ảnh hưởng thời gian ngâm và nồng độ dung dịch CaCl2 đến chất lượng của sản phẩm.
- Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ vitamin C sử dụng đến chất lượng sản phẩm. - Khảo sát ảnh hưởng nồng độ dịch sirô và pectin đến chất lượng của sản phẩm. - Khảo sát tỉ lệ phối chế thịt quả nhãn đến chất lượng sản phẩm. - Khảo sát mức độ chấp nhận của người tiêu dùng đối với sản phẩm.4 TÍNH MỚI CỦA NGHIÊN CỨU Đề tài nghiên cứu “nghiên cứu chế biến nước nhãn đóng lon có bổ sung thịt nhãn từ nhãn xuồng cơm vàng Khánh Hòa” góp phần phát triển tạo ra sản phẩm thực phẩm đặc trưng cho vùng Châu Phú – An Giang, vừa tiện lợi vừa an toàn, chất lượng.
Đồng thời, đề tài nghiên cứu trên cũng có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho các sinh viên khóa sau. 2 CHƢƠNG 2 LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LIỆU 2.1 Giới thiệu chung nguyên liệu nhãn Nhãn có tên khoa học là Dimocarpus longan Lour thuộc họ Sapidaceal, chi Euphoria. Nhãn là cây có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á, được trồng nhiều ở các nước như: Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan,… Ở nước ta cây nhãn được trồng nhiều ở các tỉnh miền Nam như Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long với diện tích 30,000 ha. Do cây nhãn rất dễ trồng và cho năng suất cao nên diện tích ngày càng mở rộng, nhất là ở các tỉnh Đông Nam Bộ như Bình Dương, Bình Phước,… (Hoàng Minh, 2005).1 Thành phần hóa học Nhãn là loại cây ăn quả rất được ưa chuộng vì trái chín thơm, ngọt dịu, nhiều nước, chứa nhiều dinh dưỡng Bảng 1: Thành phần hóa học của nhãn Thành phần Giá trị/100g Nước (g) 81,00 Calo (kcal) 71,00 Glucid (g) 15,10 Protid (g) 1,00 Lipid (g) 1,40 Tro (g) 1,00 Ca (mg) 23,00 P (mg) 36,00 Fe (mg) 0,40 Vitamin B (mg) 0,30 Vitamin C (mg) 56,00 (Nguồn: Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Thị Kim Thoa, 2003) 3 2.2 Đặc điểm sinh lý * Yêu cầu về nhiệt độ: Cây nhãn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á, nhiệt độ bình quân thích hợp cho nhãn là 20 – 210C, nhiệt độ thấp tuyệt đối không được quá -10C.
Nhãn yêu cầu có một thời gian nhiệt độ thấp khoảng 8 – 140C vào mùa đông để thuận lợi cho việc phân hóa mầm hoa. * Yêu cầu về nước và chế độ ẩm: Lượng mưa trung bình cho trồng nhãn là 1200 – 1800 mm/năm. Nhãn cần nhiều nước ở thời kì phân hóa mầm và đặc biệt ở thời kì phát triển. Độ ẩm không khí thích hợp cho trồng nhãn là 70 – 80%.
* Yêu cầu về đất đai: Nhãn là cây không kén đất, có thể trồng trên nhiều loại đất: đất phù sa, đất sét, đất cát ven biển, đất gò đồi ở Trung du và miền núi, đất dòng cát chua mặn ở ven biển. Độ pH thích họp cho cây nhãn sinh trưởng phát triển là 5 – 6,5 (Hoàng Minh, 2005).3 Một số giống nhãn * Nhãn lồng: Cây nhãn tổ hiện vẫn còn ở xã Hồng Nam. Tại sao lại gọi là nhãn lồng? Tên "nhãn lồng" bắt nguồn từ việc khi nhãn chín phải dùng lồng bằng tre, nứa giữ cho chim, dơi khỏi ăn. Nhãn lồng có quả to hơn các giống nhãn khác.
Trọng lượng trung bình của quả 11 - 12 gam, quả to khoảng 14 - 15 gam/quả. Quả trên chùm nhãn có kích thước đồng đều nhau. Đặc điểm của quả nhãn lồng là các múi chồng lên nhau ở đỉnh quả, trên mặt ngoài cùi nhãn hình thành nếp nhăn. Hạt nhãn nhỏ có màu nâu đen, độ bám giữa cùi và hạt cũng như giữa cùi và vỏ tương đối yếu.
Tỷ lệ cùi/quả đạt trung bình từ 62 - 63%. Quả chín ăn giòn ngọt đậm. * Nhãn đường phèn Nhãn đường phèn được trồng từ lâu đời ở khu vực sông đáy (Hà Tây cũ). Màu sắc vỏ quả và chùm quả tương tự như nhãn lồng, nhưng quả tròn và nhỏ hơn.
Quả chín muộn hơn nhãn cùi 20 - 25 ngày. Trọng lượng trung bình cảu quả 7 - 12 gam/quả, vỏ quả màu nâu nhạt, dày. Cùi tương đối dày, trên mặt có những u nhỏ như đường phèn, dịch nước quả có màu hơi đục, vị ngọt sắc. Tỷ lệ cùi/quả đạt 60%.
4 * Nhãn cùi Đặc điểm lá có màu xanh đậm, ít bóng hoặc không bóng, trung bình có 8 -10 lá chét, phiến lá dày, gợn sóng, mép lá quăn, trọng lượng quả từ 8,5 - 11,5 gam/ quả, quả có hình hơi dẹt, vỏ màu vàng nâu, cùi dày 4 - 5 mm, tỷ lệ cùi/quả đạt 58%. Độ ngọt và hương thơm đứng sau nhãn lồng và nhãn đường phèn. Nhãn cùi chủ yếu để sấy khô làm long nhãn xuất khẩu. * Nhãn Hương chi Là giống nhãn do Viện nghiên cứu rau quả chọn được từ nhãn lồng Hưng Yên và được công nhận là giống năm 2000.
* Nhãn muộn Là giống nhãn chín muộn được trồng ở tỉnh Hà Tây cũ, do Viện nghiên cứu rau quả tuyển chọn và được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật năm 2005 và được ký hiệu là (HTM-1). * Nhãn tiêu da bò Có các giống như tiêu huế, tiêu lá bầu, tiêu đường,. là những giống nhãn đang được nhà vườn ưa chuộng do có nhiều ưu điểm như cây phát triển nhanh, năng suất cao, dễ xử lý ra hoa trái vụ, 2 năm có thể cho 3 vụ trái. Cây 8 - 10 năm tuổi có năng suất trung bình 120 - 180 kg quả/cây/năm.
Quả chín có màu da bò, trọng lượng quả trung bình 8 - 12 gam/quả, cùi nhãn màu trắng đục, dầy 5 - 6 mm hơi dai, ít nước, ngọt vừa, ít mùi thơm. * Nhãn Super Cây ra hoa tự nhiên, mùa thu hoạch chín vào tháng 6 đến tháng 7 dương lịch, vụ thu hoạch phụ vào tháng 12 đến tháng 1. Cây 4-5 tuổi có năng suất trung bình 30 kg/ cây/ năm. Vỏ quả khi chín có màu vàng sậm đến vàng sáng.
Trọng lượng quả trung bình 10- 14gam/quả. Cùi nhãn có màu trắng, hanh vàng dầy 5 - 8 mm, cùi ráo, giòn, ngọt vừa, ít thơm. * Nhãn xuồng cơm vàng Nhãn xuồng cơm vàng là đặc sản nổi tiếng ở An Giang bởi khí hậu ở đây cực kỳ tốt cho loại nhãn này. Nhãn xuồng cơm vàng là giống có nhiều triển vọng, khả năng sinh trưởng khá.
Cây 15 - 20 tuổi có năng suất trung bình 100 - 140 kg/cây/năm. Quả trên chùm to đều, vỏ quả khi chín có màu vàng da bò, trọng lượng trung bình của quả đạt 15 - 16 gam/quả, cùi có màu trắng hanh vàng, thịt quả màu trắng hơi vàng dầy từ 5,5 - 6,2 mm, cùi ráo, dai, giòn, ngọt và có mùi thơm, dùng để ăn tươi là chính.