ĐẶT VẤN ĐỀ Ô nhiễm môi trƣờng nói chung đang là vấn đề đáng quan tâm hàng đầu của toàn cầu, trong đó ô nhiễm môi trƣờng nƣớc nói riêng cần đƣợc chú trọng xử lý cấp thiết hơn nữa. Nguồn gốc ô nhiễm môi trƣờng nƣớc chủ yếu do hoạt động nhân tạo của con ngƣời, nguồn nƣớc thải không qua xử lý, thải trực tiếp ra môi trƣờng bao gồm: Các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, vui chơi giải trí.Trong đó nƣớc thải từ các hoạt động công nghiệp có ảnh hƣởng nhiều nhất đến môi trƣờng do tính đa dạng và phức tạp về thành phần của nó. Đƣợc biết đến là một trong những ngành công nghiệp đƣợc hình thành từ rất sớm tại nƣớc ta, công nghiệp giấy đã nhanh chóng khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân, góp phần đáng kể vào sự tăng trƣởng kinh tế của cả nƣớc. Với quá trình hình thành lâu dài và phát triển, đến nay nƣớc ta có khoảng gần 500 doanh nghiệp giấy phân bố ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam.
Trong tƣơng lai, ngành Giấy còn hứa hẹn sự phát triển hơn nữa cả về quy mô lẫn số lƣợng các nhà máy, công ty, xí nghiệp phục vụ cho ngành Giấy. Tuy nhiên, ở Việt Nam công nghệ sản xuất giấy còn rất lạc hậu. Để sản xuất ra một tấn giấy thành phẩm, các nhà máy phải sử dụng khoảng 2 tấn gỗ và 100-350 m3 nƣớc, trong khi các nhà máy giấy hiện đại của thế giới chỉ sử dụng 7-15 m3 nƣớc /tấn giấy. Sự lạc hậu này không chỉ gây lãng phí nguồn nƣớc ngọt, tăng chi phí xử lý nƣớc thải mà còn đƣa ra sông, rạch lƣợng nƣớc thải khổng lồ [10].
Là một trong những doanh nghiệp sản xuất giấy đầu tiên của huyện Mai Châu – tỉnh Hòa Bình, Công ty trách nhiệm hữu hạn Quốc Đại, xã Đồng Bảng, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của ngành giấy nói chung và đem lại những lợi ích kinh tế cho địa phƣơng nói riêng. Bên cạnh những tác động tích cực đó, trong quá trình sản xuất của mình, Công ty đã gây những ảnh hƣởng tiêu cực đến môi trƣờng là không thể tránh khỏi điển hình là môi trƣờng nƣớc. Từ đó đặt ra yêu cầu 1 nghiên cứu ảnh hƣởng đến môi trƣờng nƣớc bởi nƣớc thải của Công ty là vô cùng cần thiết, cũng bởi vậy khóa luận “ Nghiên cứu ảnh hưởng của nước thải sản xuất giấy tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Quốc Đại, xã Đồng Bảng, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đến chất lượng môi trường nước khu vực xung quanh Công ty” đã đƣợc thực hiện nhằm góp phần đánh giá một cách chính xác chất lƣợng môi trƣờng nƣớc tại khu vực nghiên cứu do chịu ảnh hƣởng từ nƣớc thải sản xuất của Công ty trách nhiệm hữu hạn Quốc Đại. Từ đó đƣa ra đƣợc những giải pháp hợp lý nhằm giảm thiểu sự suy giảm chất lƣợng môi trƣờng tại khu vực nghiên cứu.
2 Chƣơng I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. T ổng quan về ngành sản xuất giấy trên thế giới Những ký hiệu ngôn ngữ đầu tiên đã đƣợc con ngƣời từ thời cổ xa xƣa viết trên đá, xƣơng, sau đó là gỗ, kim loại, thạch cao. Trải qua hàng ngàn năm phát triển cùng với biết bao tiến bộ văn minh nhân loại, giấy thực sự trở thành một vật dụng tối quan trọng trong đời sống con ngƣời. Việc tạo ra giấy là một trong những phát minh vĩ đại của ngƣời Trung Quốc.
Năm 105 sau Công nguyên, ông Thái Luân ngƣời Trung Quốc đã phát minh ra cách làm giấy từ các vỏ than cây, sợi than cây, cây gai dầu, giẻ rách và lƣới đánh cá cũ [10]. Tuy nhiên nhà máy giấy đầu tiên trên thế giới xuất hiện ở Cordoba, sau đó là tại Seville (Tây Ban Nha), tiếp theo là ở Fabriano (Ý) vào khoảng năm 1250 [10]. Tháng Giêng năm 1799, Loius – Nicolas Robert (1761- 1828), một đốc công trẻ của nhà máy ở Essones (Pháp) cùng cha đã phát minh ra máy xeo giấy liên tục. Đây là một mốc lịch sử quan trọng vì từ đây giấy đƣợc sản xuất nhanh hơn, nhiều hơn và rẻ hơn [10].
Năm 1840 một ngƣời Đức là Friedricch Gottlob Keller đã tìm ra các thớ sợi có thể sử dụng làm ra giấy và lấy ra bằng cách mài gỗ trên đá. Từ những phát hiện đó máy gỗ đã đƣợc phát minh và đƣa vào sử dụng. Năm 1857, một ngƣời Mỹ là Jojeph Coyetty đã phát minh ra giấy toilet, nó chỉ đƣợc phổ biến tại Pháp vào đầu thế kỷ 20. Từ những năm thập niên 60 của thế kỷ 20 nó đƣợc sử dụng rộng rãi [10].
Nhƣ vậy theo quy luật phát triển tất yếu khách quan, giấy đã đƣợc phát minh, sản xuất và đi vào đời sống con ngƣời nhƣ một vật dụng không thể 3 thiếu. Công nghệ sản xuất giấy từ thô sơ tại thời điểm sơ khai, đến nay ngành công nghiệp giấy đã phát triển mạnh mẽ và toàn diện trên phạm vi toàn thế giới, với công nghệ ngày càng hiện đại và sản phẩm ngày càng phong phú, sự phát triển đó thực sự đã đem lại cuộc sống ngày càng tiện lợi, văn minh cho con ngƣời. Tổng quan về ngành công nghiệp giấy ở Việt Nam Hiện nay cùng với sự phát triển nhanh của xã hội nhu cầu đƣợc sử dụng giấy của mọi ngƣời đang ngày càng tăng cao. Để đáp ứng tốt đƣợc nhu cầu của khách hàng, các công ty, doanh nghiệp sản xuất giấy trong nƣớc luôn luôn phải cạnh tranh nhau khốc liệt cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng sản phẩm đầu ra.
Tuy nhiên do chƣa có bƣớc đi đúng nên nhìn chung ngành Công nghiệp giấy của nƣớc ta vào thời điểm này vẫn đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Năm 1912, nhà máy sản xuất bột giấy đầu tiên bằng phƣơng pháp công nghiệp đi vào hoạt động với công suất 4.000 tấn/năm tại Việt Trì. Trong thập niên 1960, nhiều nhà máy giấy đƣợc đầu tƣ xây dựng nhƣng hầu hết có công suất nhỏ (dƣới 20. Năm 1975, tổng công suất thiết kế của ngành giấy Việt Nam là 72.000 tấn/ năm nhƣng do ảnh hƣởng của chiến tranh và mất cân đối giữa sản lƣợng bột giấy và giấy nên sản lƣợng thực tế chỉ đạt 28.
Từ năm 1990 đến năm 1999, tốc độ tăng trƣởng bình quân của ngành sản xuất và bột giấy là 16%/ năm, từ năm 2000 đến 2004 đạt 20%/ năm, và đến năm 2009 đã là 28%/ năm. Cuối năm 2007, toàn ngành giấy đã có trên 239 nhà máy với tổng công suất đạt 1,38 triệu tấn giấy/ năm trong đó có 66 nhà máy sản xuất bột giấy với tổng công suất 600. Tuy nhiên nguồn cung cấp nhƣ vậy chỉ đáp ứng đƣợc gần 64% nhu cầu tiêu dùng giấy năm 2008, phần còn lại vẫn phải nhập khẩu. 4 Năm 2010, mức tiêu thụ trung bình giấy trên đầu ngƣời là 22kg/ngƣời/ /năm, sản lƣợng sản xuất giấy trong nƣớc đạt hơn 1,38 triệu tấn giấy/năm (trong đó khoảng 56% là nhóm giấy công nghiệp bao bì và 25% là nhóm giấy vệ sinh) và 600.000 tấn giấy bột.
Theo báo cáo của Tổng công ty Giấy Việt Nam, năm 2011 là năm đầy khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành giấy. Tổng công ty Giấy Việt Nam là một ví dụ điển hình, giá trị sản xuất công nghiệp của tổng công ty chỉ đạt 91% kế hoạch năm (2.883 tỷ đồng), sản phẩm giấy các loại chỉ đạt 279.050 tấn, bằng 88% kế hoạch, lợi nhuận của tổng công ty đạt 114 tỷ đồng, bằng 99% so với cùng kỳ năm trƣớc và đặc biệt là lƣợng tồn kho của tổng công ty hiện còn rất lớn, hơn 19. Việc sụt giảm sản lƣợng, doanh thu, lợi nhuận… không đạt mục tiêu đề ra diễn ra ở hầu hết các công ty con, công ty liên kết của tổng công ty nhƣ: Công ty Giấy Tân Mai, Công ty Giấy Bãi Bằng [16]. Trong tháng 5/2012 sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành giấy tiếp tục giảm mặc dù các nhà máy bắt đầu sản xuất giấy in, viết phục vụ khai giảng năm học 2012 - 2013.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2012, sản phẩm giấy bìa các loại ƣớc đạt 745,7 nghìn tấn, giảm 2,2%. Giá giấy in, giấy viết sản xuất trong nƣớc sản xuất đang ở mức giá tƣơng đƣơng với giá giấy nhập khẩu, trung bình 21 triệu đồng/tấn; còn giá giấy in báo nhập khẩu đang cao hơn giá giấy in báo sản xuất trong nƣớc khoảng 200.000 đồng/tấn, giữ mức 16,2 triệu đồng/tấn [17]. Theo Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, năm 2013 là năm cực kỳ khó khăn với các doanh nghiệp ngành giấy. Tính tới đầu tháng 6, nhu cầu tiêu thụ giấy các loại trong nƣớc đã giảm khoảng 3% so với cùng kỳ, giảm mạnh nhất là giấy Tissue và giấy tráng phấn cao cấp.
Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, 7 tháng đầu năm, giấy là 1 trong 5 ngành công nghiệp chế biến có chỉ số tồn kho tăng cao nhất so với cùng kỳ (12,1%). 5 Tháng 5/2014, sản xuất các sản phẩm từ giấy và bìa chƣa đƣợc phân vào đâu tăng 22,9%. Nhóm hàng có chỉ số tiêu thụ giảm so với cùng kỳ bao gồm sản xuất giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy và bìa (giảm 4,6%). Về nhập khẩu hàng hóa: Xét về giá, so với cùng kỳ, giá nhập khẩu bình quân của mặt hàng giấy giảm 5,8%.
Xét về lƣợng, mặt hàng tính đƣợc về lƣợng nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ bao gồm giấy các loại (tăng 12,7%). Theo Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam (VPPA), trong 5 năm qua ngành sản xuất giấy đã tăng trƣởng mạnh với tốc độ 15-17%/năm. Năm 1975, tổng sản lƣợng giấy của cả nƣớc chỉ đƣợc 28 nghìn tấn/năm, nhƣng nay đã vƣợt 2 triệu tấn/năm, đáp ứng đƣợc 64% nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc. Báo cáo của Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam cho biết, tổng lƣợng giấy tiêu thụ cả nƣớc ta trong năm 2012 vừa qua lên tới 2,9 triệu tấn giấy các loại.
Trong khi các nƣớc phát triển tiêu thụ giấy trên 130 kg/ngƣời/năm, thì ngƣời dân các nƣớc châu Á có mức tiêu thụ giấy chƣa nhiều, bình quân đạt 40 kg/ngƣời/năm. Mức tiêu thụ giấy bình quân đầu ngƣời ở Việt Nam còn thấp hơn, mới chỉ đạt hơn 30 kg/năm. Sức tiêu thụ giấy của ngƣời dân nƣớc ta đã liên tục tăng nhanh trong những năm qua: năm 2010 bình quân sử dụng 26,44 kg/năm/ngƣời; năm 2011 đạt 29,61 kg/năm/ngƣời; năm 2012 đạt 32,7 kg/năm/ngƣời. Với 88 triệu dân và mức sống ngày càng đƣợc nâng cao đã mở ra thị trƣờng rộng lớn cho ngành giấy Việt Nam.
Tổng cầu giấy không ngừng tăng lên qua từng năm.