Đặt vấn đề Kháng kháng sinh đã và đang trở thành mối lo toàn cầu khi các nhà khoa học xác định được vi khuẩn có tới 890 enzyme kháng kháng sinh, nhiều hơn tổng số kháng sinh đã sản xuất ra. Hiện nay, để khắc phục tình trạng kháng kháng sinh và tiến tới một nền nông nghiệp sạch, phát triển bền vững thì yêu cầu được đặt ra là các hoạt động chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, ngoài quy mô và cơ cấu hợp lý còn phải đáp ứng các quy định về đảm bảo an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và an toàn môi trường. Gần đây, việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gia súc, gia cầm đã được biết đến nhưng chưa được sử dụng rộng rãi. Việc sử dụng chế phẩm sinh học có nhiều ưu điểm như: tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, hạn chế dịch bệnh, không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, vật nuôi, giải quyết tốt môi trường chăn nuôi, tạo ra những sản phẩm an toàn về chất lượng… Trong xu hướng hiện nay, việc sử dụng các chế phẩm sinh học thay thế cho việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi là điều đang rất được quan tâm trong thời đại yêu cầu, nhu cầu cao về chất lượng thịt và nâng cao chất lượng thịt.
Giảm sự phụ thuộc vào kháng sinh trong chăn nuôi và tồn dư kháng sinh trong thịt, ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của men DM farm đến khả năng phòng một số bệnh của lợn thương phẩm nuôi tại công ty TNHH Thiên Thuận Tường Quảng Ninh”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu Biết được việc bổ bổ sung chế phẩm trong chăn nuôi có những ưu điểm gì so với sử dụng mỗi thức ăn của công ty cung cấp.
Đánh giá hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm DM Farm trong chăn nuôi lợn thịt làm cơ sở khuyến khích người chăn nuôi lợn sử dụng thay thế kháng sinh nhằm hạn chế tình trạng kháng kháng sinh và có được sản phẩm thịt lợn an toàn cung cấp cho thị trường. Yêu cầu Xác định ảnh hưởng của men DM Farm đến khả năng phòng một số bệnh ở lợn thương phẩm nuôi tại công ty TNHH Thiên Thuận Tường Quảng Ninh. So sánh được sự khác biệt giữa lô TN và lô ĐC. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU 2.
Điều kiện trang trại thí nghiệm 2. Vị trí địa lý Trang trại lợn thịt của công ty TNHH Thiên Thuận Tường Quảng Ninh nằm trên địa phận tổ 2, khu 1, phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Phía Đông giáp sông Mông Dương và huyện Vân Đồn. Phía Tây giáp phường Cẩm Phú và xã Dương Huy.
Phía Nam giáp Biển. Phía Bắc giáp phường Mông Dương. Điều kiện khí hậu Thành phố Cẩm Phả có nhiệt độ trung bình năm 230C, độ ẩm trung bình 84,6%, lượng mưa hàng năm 2.307 mm, mùa đông thường có sương mù. Do đó, trại lợn của công ty TNHH Thiên Thuận Tường Quảng Ninh cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng.
- Với nhiệt độ trung bình của năm là 230C và nhiệt độ cao nhất rơi vào tháng 7 là 390C, nhiệt độ thấp nhất rơi vào tháng 1 là 120C. - Lượng mưa: lượng mưa trung bình năm là 2. Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, chế độ mưa chia làm 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tổng lượng mưa cả năm gần như tập trung vào mùa mưa chiếm 80% - 85% tổng lượng mưa cả năm.
Mùa khô thì lượng rất nhỏ chỉ chiếm khoảng 10% - 15% tổng lượng mưa cả năm. - Độ ẩm: độ ẩm trong khu vực tương đối khá cao, trung bình tháng thấp nhất đạt 78% vào tháng 10 và độ ẩm tương đối trung bình tháng cao nhất đạt 88% vào tháng 3. 4 - Giông, bão: mỗi năm tỉnh Quảng Ninh (trong đó có thành phố Cẩm Phả) chịu ảnh hưởng trung bình của 5 đến 6 đợt bão, năm nhiều nhất có thể đến 9 đến 10 đợt. Bão thường từ cấp 8 đến cấp 9, đặc biệt trong đó có cơn bão cấp 12.
Tháng 7 và tháng 8 là những tháng bão hay đổ bộ vào tỉnh Quảng Ninh. Các cơn giông thường xảy ra vào mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 chủ yếu là gió Nam và Đông Nam. Tốc độ gió trung bình năm là 3 - 3,4 m/s. Quá trình thành lập và cơ sở hạ tầng Trang trại sản xuất lợn công ty TNHH Thiên Thuận Tường Quảng Ninh nằm trên địa phận tổ 2, khu 1, phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Trại được thành lập năm 2007, là trại lợn của tư nhân do ông Trần Hòa làm Chủ đầu tư và phát triển, đồng thời cũng là chủ tịch Hội đồng. - Trại lợn của công ty TNHH Thiên Thuận Tường Quảng Ninh có diện tích 140 ha, trong đó trên 6 ha xây dựng trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động sinh hoạt khác của trại. - Khu nhà ở của công nhân được xây dựng 2 tầng, gồm có 7 phòng và 1 phòng họp. - Khu nhà ăn xây dựng ngay cạnh khu nhà ở, đảm bảo quá trình đi lại, ăn uống và sinh hoạt thuận tiện.
Khu nấu ăn được trang bị 1 phòng nấu riêng đảm bảo vệ sinh khi nấu nướng, có trang bị 3 tủ lạnh để bảo quản thức ăn và bếp gas công nghiệp. - Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng nuôi bao gồm: + 1 chuồng đực giống. 5 + 1 chuồng lợn con cai sữa. + 3 chuồng lợn thương phẩm.
Cùng một số công trình phụ cho chăn nuôi như: Kho cám, phòng để dụng cụ và trang thiết bị, phòng pha chế tinh, kho để thuốc và bảo quản vắc xin. - Hệ thống quy mô chuồng nuôi được xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát làm mát bằng hơi nước, cuối chuồng có 4 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 4 quạt đối với các chuồng bầu, chuồng thương phẩm là có 5 quạt, chuồng nái hậu bị và đực giống và chuồng cai sữa là có 4 quạt. Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng sốp và tôn chống nóng.
Ngoài ra, mỗi chuồng lợn thịt thương phẩm còn được trang bị hệ thống siro cho ăn tự động và hệ thống máng gõ. - Phòng pha chế tinh của trại được trang bị các dụng cụ như: Kính hiển vi để soi xem mật độ tinh, thiết bị cảm ứng nhiệt, tủ lạnh, máy giữ nhiệt độ 370C để pha tinh, các dụng cụ đóng liều tinh và một số thiết bị khác. - Trong khu chăn nuôi, trong và ngoài chuồng nuôi đều được đổ bê tông để đi lại thuận tiện giữa các trại và các khu. - Hệ thống đường nước trong trại để cho lợn uống là nước bơm từ giếng lên hay mua từ bên ngoài vào (do trại xây dựng gần biển nên không thể khoan giếng lấy nước ngọt được).
Nước tắm cho lợn, nước xả phân, rửa chuồng nuôi được bơm từ ao chứa nước trong trang trại bơm lên bể chứa nước và theo hệ thống ống nước dẫn nước tới các chuồng nuôi. Tình hình sản xuất của trang trại * Công tác chăn nuôi Thức ăn cho lợn thịt và lợn con là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao được cung cấp bởi công ty TNHH De Heus thuộc tập đoàn Hoàng Gia De Heus - Hà Lan. 6 * Công tác Thú y: Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật trại công ty TNHH De Heus thuộc tập đoàn Hoàng Gia De Heus - Hà Lan. - Công tác vệ sinh và Thú y: Hệ thống chuồng nuôi luôn luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông.
Hàng tuần phải phun thuốc sát trùng trong khu vực trong và ngoài chuồng nuôi, kho cám, rắc vôi lối đi ngoài hành lang, quét ngoài hành lang đi lại và trong chuồng hàng ngày để đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, ngăn ngừa vi khuẩn và nấm mốc sinh sôi và phát triển. Khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải mặc quần áo bảo hộ rồi phun sát trùng mới được xuống chuồng. Đối với sinh viên, kỹ sư, công nhân trước khi vào trại để thực hiện các công đoạn chăn nuôi đều phải cách ly 2 ngày rồi mới được vào trại để trực tiếp chăn nuôi và thực hiện các công việc khác. - Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi trong chuồng và ngoài chuồng nuôi đều được rắc vôi bột, có hố vôi để sát trùng ủng khi đi vào chuồng nuôi, các phương tiện vào trại đều sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào của trại.
- Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm ngặt và đầy đủ, đúng kỹ thuật, số tuần tuổi. Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn khi được đưa vắc xin vào cơ thể. Không tiêm cho những đang ốm hoặc mắc các bệnh truyền nhiễm khác. - Công tác điều trị bệnh: Người trực tiếp chăn nuôi tại trại hoặc ô chuồng đó phải có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên về các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại để cách li, báo ngay cho kỹ thuật trại để điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh để điều trị kịp thời và tránh lây lan dịch bệnh gây thiệt hại về số lượng cũng như kinh tế.
Cơ sở khoa học của đề tàì 2. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn Tốc độ sinh trưởng là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu trong chăn nuôi lợn thịt. Tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ góp phần giảm tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng, tăng tỷ lệ thịt nạc trong thịt xẻ, giảm chi phí chăn nuôi… Khả năng sinh trưởng được tính theo gam/ngày hay kg/tháng. Tốc độ sinh trưởng của các giống lợn khác nhau.
Các giống lợn nội có khả năng tăng khối lượng thấp hơn lợn lai và lợn ngoại. Vì vậy, việc sử dụng kháng sinh vào trong chăn nuôi đang trở thành mối lo toàn cầu nên việc sử dụng các chế phẩm sinh học trong chăn nuôi là rất cấp thiết.