Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Các điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội hình thành giống lợn 1. Nguồn gốc các giống lợn nhà Giống lợn nhà hiện nay là do lợn rừng tiến hoá mà thành và bắt nguồn từ hai nhóm lợn rừng hoang dại.
Đó là lợn rừng Châu Âu (Sus serofaferus) và lợn rừng Châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus, Sus vittatus) được con người thuần hoá trong thời gian dài mà thành. Căn cứ vào hình dáng của tai, người ta chia cả hai nhóm lợn nguyên thuỷ Châu Âu và Châu Á thành hai loại: Lợn tai dài và lợn tai ngắn. Giống lợn lai cổ đại là do giống lợn nguyên thuỷ Châu Âu và nguyên thuỷ Châu Á tạp giao mà thành. Giống lợn này được nuôi chủ yếu tại các nước dọc theo Địa Trung Hải.
Trong đó lấy giống lợn lông xoăn La Mã và lợn ở bán đảo Ban Căng lai với lợn Trung Quốc là giống thành thục sớm, phẩm chất thịt ngon, mềm, ở đời sau cho tự giao và hình thành giống lợn lai cổ đại. Các giống lợn nhà nuôi hiện nay là do các giống lợn Cổ đại trước kia thông qua các phương pháp tạp giao cải lương khác nhau mà dần hình thành nên, (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [37]. Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tới việc hình thành giống lợn Trong quá trình thuần hoá lợn rừng, do điều kiện tự nhiên của các vùng khác nhau, điều kiện lịch sử và trình độ phát triển sản xuất không giống nhau dẫn đến việc hình thành các giống lợn khác nhau. Để giải quyết nhu cầu về thịt, con người đã cải thiện các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và tạo nên giống lợn nguyên thuỷ Châu Á từ lợn rừng Châu Á có đặc điểm dễ béo, sớm thành thục.
Ở Châu Âu, cũng do điều kiện tự nhiên đã hình thành nên các giống lợn nguyên thuỷ Châu Âu có đặc điểm như thành thục muộn, khả năng chịu đựng kham khổ cao. 5 Nguyễn Thiện và cs, (2005) [53] cho biết khi đã được thuần hoá, lợn hoang đã có nhiều thay đổi. Điều trông thấy rõ rệt là thân hình bé, nên các loại lợn nhà nguyên thuỷ đều bé nhỏ. Ở Châu Âu, mãi đến cuối thời kỳ Trung Cổ, mới có các loại lợn to lớn, có những đặc điểm bên ngoài như tai rủ, qua quá trình thuần dưỡng về sau này do lai tạo có ý thức nên khối lượng lợn được cải thiện, đa dạng hơn về hình dáng và tăng về chiều dài, cao chân, mông phát triển.
Vào những thập kỷ 20, nước ta đã nhập nhiều giống lợn cao sản. - Tại miền Nam từ những năm 1950 đã tuần tự nhập các giống Berkshire, Yorkshire, Large white, Landrace… - Tại miền Bắc từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước nhập hàng loạt lợn Tân Kim, Tân Cương… từ Trung Quốc. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của lợn 1. Đặc điểm di truyền các tính trạng Cũng như các loài gia súc khác đặc điểm di truyền các tính trạng chất lượng và số lượng trên lợn cũng tuân theo các quy luật di truyền của Mendel, màu sắc lông da như trắng, đen, vàng là những tính trạng chất lượng… còn tính trạng số lượng được thể hiện qua các chỉ tiêu như: Số con trên lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất thịt xẻ,… Đó là những tính trạng do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau, (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [51].
Giá trị kiểu hình của 1 tính trạng được ký hiệu là P (Phenotype). Giá trị kiểu gen được ký hiệu là G (Genotype) và sai lệch môi trường được ký hiệu bằng E (Environment). Quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G + E. Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (Minorgene) cấu tạo thành.
Đó là các gen có hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygen). Các minorgene này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và át gen. Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức: 6 G=A+D+I Trong đó: G : Giá trị kiểu gen A : Giá trị cộng gộp D : Giá trị sai lệch trội I : Giá trị sai lệch tương tác A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con đường thực nghiệm.
Lasley, (1974) [27] cho biết những tính trạng có hệ số di truyền (h2) từ 0,12 - 0,30 là những tính trạng có hệ số di truyền thấp. Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng có hệ số di truyền trung bình. Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,5 trở lên là những tính trạng có hệ số di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao. Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao.
Đặc điểm về cấu tạo hệ tiêu hoá và sinh lý tiêu hoá Theo Hoàng Toàn Thắng và cs, (2006) [44] cho biết dạ dày lợn là dạ dày trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, bao gồm 5 phần như: dạ dày đơn vùng thực quản (nhỏ), vùng manh nang, vùng thượng vị, vùng thân vị và vùng hạ vị. Vùng thực quản không có tuyến, vùng manh nang và thượng vị có tuyến tiết ra dịch nhầy không có pepsin và HCl. Theo Nguyễn Thiện và cs, (1998) [51], ruột non của lợn dài gấp 14 lần chiều dài cơ thể gồm 3 phần: phần tá tràng, khổng tràng và hồi tràng. Ruột già dài khoảng 4 - 5 m gồm 3 đoạn: manh tràng, kết tràng và trực tràng.
Đặc điểm của hoạt động thần kinh và thể dịch mà lợn có khả năng tiêu hoá thức ăn cao. Để sản xuất ra 1kg khối lượng cơ thể, lợn chỉ sử dụng hết 4 - 6 kg thức ăn, trong khi đó bò phải ăn hết 8 - 12 kg và dê cừu phải ăn hết 6 - 10 kg. 7 Dựa vào các đặc điểm sinh học của hệ tiêu hoá nói trên chúng ta có thể nghiên cứu phối hợp khẩu phần ăn cho phù hợp với hệ tiêu hoá của lợn, để nâng cao năng suất trong chăn nuôi lợn. Đặc điểm sinh sản của lợn Sinh sản là hoạt động sinh lý cơ bản của động vật để duy trì nòi giống, là truyền đạt thông tin di truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia thông qua các tế bào sinh dục là tinh trùng và trứng.
Sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử và phát triển thành phôi, thai và sinh ra một thế hệ mới. Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể dịch của cơ thể điều khiển, chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, dinh dưỡng. Lợn cái nuội 3 - 4 tháng đã động dục và có hiện tượng rụng trứng, đối với con cái ngoại 5 - 6 tháng tuổi đã động dục. Lợn là loài gia súc đa thai như: Lợn Móng Cái đẻ 11 - 14 con/ lứa, lợn Ỉ đẻ 10 - 12 con/ lứa.
Thời gian chửa đẻ của lợn ngắn từ 113 - 114 ngày (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [51]. Tập tính sinh sản của lợn Trong tự nhiên lợn rừng sống theo bầy đàn, giao phối tự nhiên. Vào mùa sinh sản của lợn thường xảy ra các cuộc chiến tranh giành giật lợn cái giữa các con đực. Lợn nhà thích nghi nhanh với những tập luyện do con người như hiệu lệnh, đúng giờ ăn, nơi thải phân, nước tiểu và nằm ngủ đúng chỗ quy định.
Lợn còn có những đặc thù riêng biệt như: Khi con bú lợn mẹ nằm nghiêng, lợn con sinh ra có thể đứng ngay và có thể tìm vú mẹ để bú, lợn mẹ có thể vừa đẻ vừa cho con bú, đó là những tập tính sinh hoạt và đặc thù riêng của lợn. Hiểu biết những tập tính đó sẽ có tác dụng rất tốt đối với việc xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi, huấn luyện lợn theo phản xạ có điều kiện, làm cho khả năng thích nghi của lợn trong điều kiện chăn nuôi tập trung trở nên phong phú hơn. Cơ sở khoa học về sự sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn 1. Sự sinh trưởng, phát dục của lợn Theo Trần Đình Miên và cộng sự (1975) [35] sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề 8 ngang, thể tích, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước.
Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Khi nói đến sự sinh trưởng có nghĩa là nói đến sự phát dục vì hai quá trình này đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục là sự tích luỹ về chất. * Các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói riêng đều tuân theo các quy luật: - Quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều. Quy luật này thể hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi.
- Quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn, quy luật này được chia ra làm 2 giai đoạn đó là giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. Giai đoạn trong thai gồm: Thời kỳ phôi thai từ 1 - 22 ngày, thời kỳ tiền phôi thai từ 23 - 38 ngày, thời kỳ thai nhi từ 39 - 114 ngày. Trong thực tế sản xuất người ta chia ra lợn chửa thành 02 kỳ, chửa kỳ I là bắt đầu từ khi thụ thai đến 1 tháng trước khi đẻ. Lợn chửa kỳ II rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ nuôi sống, 3/4 khối lượng sơ sinh được sinh trưởng ở giai đoạn chửa kỳ II.
Theo Trương Lăng, (1995) [31] bào thai lợn tháng thứ 2 phát triển tăng 33,5 lần so với tháng thứ nhất, tháng thứ 3 phát triển tăng 8,7 lần và 3 tuần tháng thứ 4 chỉ tăng 2,2 lần.