MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thức ăn chiếm khoảng 60-70 % trong giá thành sản phẩm, nên sử dụng loại thức ăn hỗn hợp có hàm lượng dinh dưỡng phù hợp thì chăn nuôi mới đạt hiệu quả kinh tế cao (Trần Quốc Việt và Đặng Thái Hải, 2010 [24]). Cân bằng các chất dinh dưỡng, đáp ứng nhu cầu của gia cầm là biện pháp tốt để tăng năng suất sản phẩm và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn. Trước hết là khẩu phần đó có hàm lượng và tỷ lệ thích hợp giữa năng lượng và protein.Tùy theo hướng sản xuất, giai đoạn phát triển của cơ thể và giống mà nhu cầu về năng lượng, protein, amino acid, khoáng và vitamin khác nhau giữa các cơ thể (Nguyễn Đức Hưng, 2006 [7]).
Mặt khác, giá trị dinh dưỡng của thức ăn gia súc, gia cầm trong cơ sở dữ liệu ở nước ta đang được biểu thị dưới dạng thành phần các dinh dưỡng tổng số. Chất dinh dưỡng tổng số chính là giá trị tiềm năng của thức ăn, đối với các loại thức ăn khác nhau, tỷ lệ tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng trong cơ thể gia cầm là khác nhau. Do đó, khả năng ứng dụng cơ sở dữ liệu thức ăn cho gia cầm vào thực tiễn chăn nuôi ở nước ta là rất thấp (trích bởi Diệp Thị Lệ Chi, 2012 [2]). Năng lượng trao đổi và protein có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên khi xây dựng khẩu phần ăn cho gia cầm người ta đã đề ra chỉ tiêu ME (tính bằng kcal)/CP (tính bằng % trong khẩu phần).
Trong những năm gần đây, ngoài tỷ lệ ME/CP, các nhà khoa học còn tập trung nghiên cứu tỷ lệ giữa năng lượng trao đổi với một số aa thiết yếu: ME/lysine, ME/methionine …. Theo đa số các nhà khoa học, việc nghiên cứu tỷ lệ giữa ME với các aa trong khẩu phần sẽ cho kết quả chính xác hơn so với tỷ lệ giữa năng lượng trao đổi với % protein trong khẩu phần. Tuy nhiên, việc nghiên cứu này đòi hỏi rất công phu và tốn kém nên rất khó thực hiện (Nguyễn Duy Hoan, 2010 [5]). n 2 Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lai tạo, khả năng sinh trưởng, chất lượng thịt của gà Ri (R) lai với gà Lương Phượng (LP) và loại gà này cũng đã được nuôi phổ biến ở nhiều địa phương.
Lê Huy Liễu (2004) [8] khẳng định, gà lai F1 (♂ Lương Phượng × ♀ Ri) và F1 (♂ Kabir ×♀ Ri) nuôi thịt ở Thái Nguyên quanh năm đều có khả năng thích ứng và sinh trưởng tốt, năng suất thịt cao hơn gà nội (gà Ri), chất lượng thịt tốt ngang bằng gà Ri, gà Lương Phượng và gà Kabir. Trong đó, gà lai F1LR có năng suất cao hơn gà lai F1KR. Hồ Xuân Tùng (2009) [20] cho biết, các tính trạng năng suất như khả năng sinh trưởng, sinh sản, tỷ lệ nuôi sống, sức đề kháng với bệnh tật của gà F1 (LP x R) và F1 (R x LP) hầu như tương đương nhau và đều cao hơn gà Ri. Trong đó, hai tính trạng chính là khả năng sinh trưởng và sản lượng trứng, nếu so với gà Lương Phượng thì khả năng sinh trưởng mới đạt 67,7 %, sản lượng trứng đạt 79 %, nhưng so với gà Ri thì khối lượng cơ thể lúc 19 tuần tuổi cao hơn 28 - 35,8 % và sản lượng trứng đến 52 tuần tuổi cao hơn 14,5 - 16 %.
Số lượng đàn gà của Việt Nam năm 2012 là 223,7 triệu con (Trung tâm Thông tin PTNNNT, 2013 [19]), trong đó gà lai có ½ máu gà nội, đặc biệt là gà Ri lai có số lượng đáng kể trong tổng số đàn gà thịt của Việt nam. Nhưng đến thời điểm hiện nay, chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về chế độ dinh dưỡng tối ưu cho gà Ri lai. Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi chọn thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của các mức lysine khác nhau trong khẩu phần thức ăn có cùng mức năng lượng và protein đến sức sản xuất thịt của gà Ri lai (♂Ri ×♀Lương Phượng)”. Mục tiêu của đề tài và yêu cầu của đề tài - Đánh giá ảnh hưởng của các mức lysine khác nhau trong khẩu phần thức ăn có cùng mức năng lượng và protein đến sức sản xuất thịt của gà Ri lai.
n 3 - Đánh giá khả năng sản xuất và hiệu quả kinh tế của gà Ri lai. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Kết quả nghiên cứu góp phần tìm hiểu ảnh hưởng của các mức lysine khác nhau trong khẩu phần đến khả năng sản xuất thịt của gà Ri lai. - Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để phục vụ giảng dạy và các nghiên cứu tiếp theo.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà Ri lai bằng việc sử dụng thức ăn chăn nuôi hợp lý. - Các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi, nông dân có thể ứng dụng kết quả để sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt và phương pháp xác định Năng lượng rất cần thiết cho sự duy trì cho mọi hoạt động, sinh trưởng và phát triển cơ thể. Mỗi hoạt động sống của cơ thể động vật đều gắn liền với quá trình sử dụng và trao đổi năng lượng. Quá trình này đòi hỏi sự lấy vào các chất dinh dưỡng để bù đắp vào chỗ vật chất của cơ thể bị đốt cháy, tạo ra năng lượng tích luỹ cho cơ thể lớn lên và phát triển được. Năng lượng trong thức ăn được tiềm trữ trong các dạng vật chất của thức ăn đó như lipid, protein, carbohydrate (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1999 [4]).
* Nhu cầu năng lượng duy trì cho gà Để cung cấp đầy đủ chính xác khẩu phần cho gia cầm thì yếu tố đầu tiên là mức năng lượng thích hợp, cần thiết cho nhu cầu duy trì các hoạt động, sinh trưởng và phát triển của cơ thể. Năng lượng cho duy trì bao gồm năng lượng cho trao đổi chất cơ bản và năng lượng cho hoạt động bình thường. Nhu cầu năng lượng cho hoạt động bình thường phụ thuộc vào mức độ hoạt động của con vật. Theo Singh (1988) [30], trong điều kiện nuôi dưỡng bình thường thì năng lượng cho hoạt động bằng 50 % năng lượng trao đổi cơ bản.
Nhu cầu năng lượng trao đổi cơ bản là nhu cầu dưỡng chất để bù đắp cho sự tiêu hao năng lượng, đây là các chất dinh dưỡng phân giải lúc đói trong điều kiện tiêu chuẩn không vận động, không làm việc. Năng lượng trao đổi chất cơ bản là mức năng lượng cần thiết để đảm bảo sự sống, được dùng cho hoạt động như hô hấp, tuần hoàn của máu, hoạt động thần kinh, hoạt động của các cơ quan trong điều kiện không kích thích, năng lượng để điều hòa thân nhiệt, sự biến dưỡng của các mô như biểu bì, lông và sự sản xuất các kích thích tố và enzyme (Nguyễn Xuân Mùi và ctv, 1996 [14]). Trong thực tiễn sản xuất, người ta thường tính nhu cầu năng lượng cho 1 kg khối lượng trao đổi (W 0,75), trị số 70 kcal ± 15 % và ít biến động giữa các loài. Đối với gà nhu cầu năng lượng trao đổi cơ bản cho 1 kg khối lượng là 72 kcal/ngày, còn 1 kg W 0,75 là 86 kcal/ngày (Nguyễn Đức Hưng, 2006 [7]).
Singh (1988) [30] đã đưa ra công thức tính nhu cầu năng lượng thuần cho duy trì (NEm) là: NEm= 83 × W0,75 (W là khối lượng cơ thể) n 5 Năng lượng thuần cho duy trì chiếm 82 % năng lượng trao đổi cho duy trì và năng lượng cho hoạt động sống bình thường bằng 50 % năng lượng trao đổi cơ bản. Dựa vào đó, ta có thể tính được nhu cầu năng lượng duy trì của gà đối với khối lượng khác nhau. * Nhu cầu năng lượng cho sản xuất: Nhu cầu năng lượng cho sản xuất phụ thuộc vào loại sản phẩm chăn nuôi. Đối với gia súc, gia cầm đang sinh trưởng phụ thuộc vào tăng khối lượng hằng ngày và thành phần thân thịt xẻ, còn đối với gia cầm đẻ trứng nhu cầu này phụ thuộc vào sản lượng, khối lượng trứng và tỷ lệ đẻ của cả đàn (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2001[6]).
* Nhu cầu năng lượng cho tăng khối lượng: Theo Bùi Đức Lũng (2004) [9]; (Nguyễn Đức Hưng, 2006 [7]) có thể tính nhu cầu năng lượng cho tăng khối lượng theo công thức: Pt (0,3 x 5,7 + 0,05 x 9,5) MEtt = 0,82 Trong đó: MEtt: nhu cầu năng lượng cho tăng khối lượng/ngày Pt: số gam tăng khối lượng/ngày 0,3: % protein trong thịt 5,7: số kcal/g protein 0,05: % mỡ trong thịt 9,5: số kcal/g mỡ 0,82: hiệu suất sử dụng năng lượng trao đổi cho tăng khối lượng. Trong thời kỳ sinh trưởng, nhu cầu năng lượng của gia cầm rất khác nhau, không chỉ là sự thay đổi về tỷ lệ năng lượng chuyển thành nhiệt mà còn do sự thay đổi về số lượng năng lượng được tích lũy và phân chia năng lượng tích lũy đó thành protein và mỡ Khi mức năng lượng ăn vào cao, khoảng 85 % năng lượng tích lũy trong mỡ và 15 % năng lượng dự trữ trong protein. n 6 Khi mức năng lượng ăn vào thấp, một lượng mỡ cơ thể được huy động trong khi protein được tích lũy. Hệ số dự trữ năng lượng trong protein và trong mỡ ước tính tương đương 0,66 và 0,86 (Nguyễn Đức Hưng, 2006 [7]).
* Nhu cầu về protein và axít amin của gà thịt và phương pháp xác định Protein là các polymer được tạo nên từ các trình tự xách định các amino acid (axít amin, viết tắt aa). Protein là hợp chất hữu cơ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong cơ thể sống. Ngoài vai trò là thành phần chính trong cấu trúc của tế bào và mô, protein còn có nhiều chức năng phong phú khác quyết định những đặc điểm cơ bản của sự sống như sự truyền đạt thông tin di truyền, sự chuyển hóa các chất. Protein có vai trò sinh học là: tạo hình, xúc tác, bảo vệ, vận chuyển, vận động, dự trữ và dinh dưỡng, dẫn truyền tín hiệu thần kinh, điều hòa, cung cấp năng lượng (Hồ Trung Thông và cs, 2006 [18]).
Trong phân tử các aa tồn tại trong tự nhiên, các nhóm – COOH và – NH2 đều gắn với carbon ở vị trí α. Hầu hết các aa thu nhận được khi thủy phân protein đều ở dạng L-α. Như vậy, các aa chỉ khác nhau ở mạch nhánh (gốc R).