Chương 1. Tổng quan: Nêu lý do thực hiện nghiên cứu, đưa ra các thông tin tong quan liên quan đền đề tài nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết: Trinh bày các cơ sở lý thuyết, các khái niệm, thống kê các nghiên cứu có liên quan, xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu từ những hạn chê của các nghiên cứu trước. Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu: Quy trình nghiên cứu, cách thức thu thập dữ liệu, cách thức xử lý dữ liệu, kết quả đánh giá thang đo sơ bộ băng phần mém SPSS 20.
Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả kiểm định mô hình thang đo sau khi phân tích dữ liệu băng phần mềm SPPS 20, AMOS 20. Thảo luận về các kết quả đạt được sau nghiên cứu. Kết luận và kiến nghị. Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu đạt được, cùng với các kêt luận và kiên nghị cho nghiên cứu.
CƠ SO LY THUYET Mục tiêu chương này nhằm nêu ra các cơ sở ý thuyết, định nghĩa các khái niệm nghiên cứu, thông kê lại các kết quả nghiên cứu trước có liên quan để tìm ra cơ hội nghiên cứu, đồng thời hình thành nên mô hình nghiên cứu và các giả thuyết về mối quan hệ giữa các khải niệm nghiên cứu. ĐỊNH NGHĨA CÁC KHÁI NIỆM 2. Lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng Lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng (Consumer goods) bao gồm nhiều ngành công nghiệp như thực phẩm, đồ uống, đồ gia dụng và các sản phẩm cá nhân khác. Trong 3 nhóm ngành chính nay chia nhỏ ra thành các nhóm ngành như sau: Bia rượu, đồ uống và nước giải khát, hàng cá nhan, hàng may mặc, thực phanm, thuốc lá, điện tử tiêu dùng.
Đặc điểm thị trường của hàng tiêu dùng - San xuat hang loat - Quan tâm đến bao bì va thương hiệu vì sự cạnh tranh lớn - Khách hang dé thay đổi thương hiệu mới, thiếu sự trung thành vì chi phí cơ hội hầu như bang không. Đặc điểm của hàng tiêu dùng - Mối liên hệ với khách hang là đại trà - Trong vòng đời san pham, hỗ trợ khách hàng không được quan tâm - Hệ thống phân phối hàng hóa gián tiếp Đặc điểm người mua hàng tiêu dùng - Ca nhân hoặc tap thé - Nhu cau va sở thích đa dang, phong phú - Khách hang it có su hiéu biét vé su khac biét giữa các nhãn hiệu của các công ty cạnh tranh - Khách hang thường quyết định mua san phẩm chủ yếu dựa vào giá cả Ngành hàng tiêu dùng bao gồm các công ty chuyên sản xuất các mặt hàng tiêu dùng như: vệ sinh cá nhân, thức ăn, nước uống, quân áo, điện tử. Tại Việt Nam, một số công ty sản xuất hàng tiêu dùng lớn như: P&G, Unilever, Vina Acecook, Meiji Việt Nam, SamSung. chuyên sản xuất và cung cấp một lượng hàng tiêu dùng lớn phục vụ cho nhu cầu tại thị trường Việt Nam.
Vi tính chất vòng đời sản phẩm ngan, gia ca thấp nên ngày càng có nhiều công ty tham gia vao thị trường ngành hang tiêu dùng, tạo nên áp lực cạnh tranh lớn giữa các công ty trong thị trường Việt Nam. Trong nghiên cứu này, học viên tiên hành nghiên cứu các đôi tượng là các công ty trong lĩnh vực sản xuât hàng tiêu dùng tại Việt Nam, thực hiện vừa sản xuât vừa phân phối cho các đại lý trên toàn quốc và xuất khẩu ra nước ngoài. Kết quả hoạt động logistics 2. Định nghĩa logistics Logistics có rất nhiều định nghĩa khác nhau và phạm vi hoạt động của nó rất rộng.
Dưới đây là một số định nghĩa khác nhau về logistics. Logistcs là một qua trình hoạch định, thực hiện va kiểm soát sự lưu thông và tích trữ một cách hiệu quả tôi ưu các loại hàng hóa, thành phẩm. bán thành phẩm, nguyên vật liệu, dịch vụ và các thông tin đi kèm từ điểm khởi đầu đến điểm kết thúc nhăm mục đích tuân theo các yêu cầu của khách hàng. Logistics là việc quản lý dòng trung chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm, quá trình sản xuất và xử lý các thông tin liên quan,.
từ nơi xuất hàng đên nơi tiêu thụ cuôi cùng theo yêu câu của khách hàng. Logistics là một quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc trung chuyển và lưu kho có hiệu quả về hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi xuất đến nơi tiêu thụ theo các yêu cầu của khách hàng (Lambert, 1998). Thực tế, Logistics được áp dụng trong rất nhiều ngành khác nhau như Quân sự, Sản xuất tiêu thụ, Giao thông vận tải,. theo nghĩa tiếng việt Logistics được gọi là hậu cần.
Hoạt động logistics được chia thành các loại sau: - Supply Chain Management Logistics — Logisitics quan ly chudi cung tng. - Transportation Management Logistics — Logistics vận chuyển hàng hóa. - Warehousing/ Inventory Management Logistics — Logistics về quan lý lưu kho, kiểm kê hàng hóa, kho bãi. Vì lĩnh vực Logistics rất đa dạng và phong phú bao gồm nhiều quy trình khác nhau nên hiện nay Logistics có 4 phương thức hoạt động như sau: ° Logistics tự cung cấp: Các công ty tự thực hiện các hoạt động logistics của mình.
Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn nhân lực khác bao gồm ca con người dé thực hiện các hoạt động logistics. ° Second Party Logistics (2PL): là các công ty chuyên quản lý các hoạt động logistics truyền thông như vận tải hay kho vận. Công ty không sở hữu hoặc có đủ phương tiện và cơ sở hạ tầng thì có thể thuê ngoài các dịch vụ cung cấp logistics nhằm cung cấp phương tiện thiết bị hay dịch vụ cơ bản. ° Third Party Logistics (3PL): hay còn gọi là logistics theo hợp đồng là phương thức sử dụng các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt động logistics, có thé là toàn bộ quá trình quản lý logistics hoặc chỉ một số hoạt động có chọn lọc.
Một cách định nghĩa khác cho 3PL là các hoạt động do một công ty cung cấp dịch vụ Logistics thực hiện trên danh nghĩa khách hàng của họ, tối thiểu bao gồm việc quản lý và thực hiện hoạt động vận tải và kho vận ít nhất một năm có hoặc không có hợp đồng hợp tác. ° Fourth Party Logistics (4PL): Hay còn gọi là Logistics chuỗi phân phối. 4PL là một khái niệm được phát triển dựa trên nên tảng của 3PL nhằm tạo ra ự đáp ứng dịch vụ, hướng về khách hàng và linh hoạt hơn. 4PL quản lý và thực hiện các hoạt động Logistics phức hợp như quan lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát và các chức năng kiến trúc va tích hợp các hoạt động Logistics.
4PL có phạm vi hoạt động rộng hơn bao gồm cả 3PL, các dịch vụ công nghệ thông tin, quản lý các tiến trình kinh doanh. 4PL được xem là nơi liên lạc duy nhất, nơi thực hiện việc quản lý, tông hợp các nguôn lực và giám sát các chức năng 3PL xuyên suôt chuôi phân phôi nhăm vươn đên thi trường toàn câu, lợi thê chiên lược và các môi quan hệ lâu bên. Qua phân tích ở trên, ta thay được định nghĩa Logistics là vô cùng da dạng và phạm vi hoạt động của nó là rất lớn. Tuy nhiên, do giới hạn về nguồn lực và thời gian trong quá trình nghiên cứu nên tác gia chi tập trung vào phân tích hoạt động logistics trong các công ty thuộc lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng.
Logistics lúc này được định nghĩa là: “Logistics là việc quan lý dòng trung chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất và xử lý các thông tin liên quan,. từ nơi xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng. Định nghĩa kết quả hoạt động logistics Kết quả hoạt động logistics truyền thống được đo lường bởi dịch vụ (ví dụ, thời gian chu kỳ đặt hàng và mức độ đáp ứng của các mặt hàng), chi phí và lợi nhuận trên tài sản hoặc vốn đầu tư (Brewer và cộng sự, 2000; Morash va cộng sự, 1996) và nhận thức của nhà quản lý về sự hài lòng của khách hàng và lòng trung thành (Chow và cộng sự, 1994; Holmberg va Stefan, 2000). Mentzer định nghĩa két qua hoạt động logistics là hiệu quả và hiệu suất trong việc thực hiện các hoạt động logistics (Mentzer và cộng sự, 1991).
Langley mở rộng định nghĩa nay bằng cách thêm vào yếu tố “Sự khác biệt” - một yếu tô quan trọng của hoạt động logistics về giá trị mà khách hàng nhận được từ các hoạt động logistics và nó được xem như là một chỉ số về kết quả hoạt động logistics (Langley và cộng sự, 1992). Kết quả hoạt động logistics nên được khuyến khích là mục tiêu chính trong lĩnh vực logistics (Andersson và cộng sự, 1989). Trong nghiên cứu của Porter, ông nhắn mạnh rằng việc nâng cấp và đôi mới hoạt động logistics sẽ dẫn đến khả năng cạnh tranh trên phạm vi toàn quốc (Porter, 1990). Do đó, đo lường kết quả hoạt động logistics hiện dang trở thành một xu hướng trong nghiên cứu (Griffis và cộng sự, 2007), điều này tạo nên một thách thức đối với các tô chức (Forslund và cộng sự, 2007).
Góc nhìn về kết quả hoạt động logistics đã được thảo luận lần đầu vào năm 1985 tại một hội thảo ở Hà Lan bởi Hiệp hội Hà Lan về Quản lý Logistics (NAVEM). Trong 10 hội thảo này, các mô hình chỉ số thực hiện đã được thành lập và các chỉ số đã được áp dụng ở một số công ty. Kết quả hoạt động logistics được định nghĩa là "phân tích của cả hai yếu tố là hiệu quả và hiệu suất của hoạt động logistics trong việc hoàn thành một nhiệm vụ” (Mentzer va cộng sự, 1991). Chủ dé nay cứ thé được tiếp tục nghiên cứu và kết quả hoạt động logistics được coi là đa chiều và được định nghĩa là mức độ hiệu qua, và hiệu quả của hoạt động logistics này được phân biệt với hiệu quả của quảng cáo kết hợp với các thành tựu từ các hoạt động khác (Fugate và cộng sự, 2010).
Các nhà nghiên cứu luôn luôn cảm thấy khó khăn để xác định kết quả hoạt động logistics vì mỗi tổ chức có nhiều mục tiêu và các mục tiêu này thường xuyên mâu thuẫn với nhau (Chow và cộng sự, 1994). Như đã dé cập trước đó, kết quả hoạt động logistics đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Theo nghiên cứu của Stabler năm 1992, kết luận rằng các đánh giá được dựa trên mức độ đáp ứng mục tiêu cùng với việc mở rộng hiệu suất quảng cáo và năng suất tổng thể sẽ phản ánh kết quả hoạt động logistics.