lời mở đầu, kết luận và các phần kết cấu khác, nội dung chính tại luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần thƣơng mại Gia Trang. Chƣơng 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần thƣơng mại Gia Trang. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP 1.
Vốn kinh doanh tại doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm tại vốn kinh doanh Vốn là yếu tố cơ bản và là tiền đề không thể thiếu tại quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp. Muốn tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn.
Vốn trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu tại quỹ là để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tức là mục đích tích luỹ chứ không phải mục đích tiêu dùng nhƣ một vài quỹ tiền tệ khác trong các doanh nghiệp. Đứng trên các giác độ khác nhau có cách nhìn khác nhau về vốn. [14,T61]; Theo David Begg, vốn là phạm trù bao gồm: Vốn hiện vật và vốn tài chính doanh nghiệp.
Trong đó vốn hiện vật là dự trữ hàng hoá để sản xuất ra các hàng hoá khác. Còn vốn tài chính doanh nghiệp là tiền và các giấy tờ có giá tại doanh nghiệp. Ở đây David Begg đã đồng nhất vốn với tài sản tại doanh nghiệp, đã cho thấy: thực chất vốn tại doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền tại tất cả các tài sản tại doanh nghiệp, nhƣng chƣa vạch rõ đâu là vốn kinh doanh tại doanh nghiệp. [6, T72-74] Theo quan điểm tại Mark - nhìn nhận dƣới giác độ tại các yếu tố sản xuất thì ông cho rằng: “Vốn chính là tƣ bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dƣ, là một đầu vào tại quá trình sản xuất”.
Tuy nhiên, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dƣ cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan điểm tại Mark. 6 Sau Mark, các trƣờng phái kinh tế học hiện đại đã kế thừa và phát huy các quan điểm tại ông trong quá trình nghiên cứu về vốn. Đáng kể nhất là quan điểm tại David Begg và P.
Samuelson có quan niệm về vốn trên một giác độ rộng hơn khi ông cho rằng vốn là “hàng hóa” đƣợc sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là “đầu vào” cho hoạt động sản xuất tại một doanh nghiệp. Vốn kinh doanh có thể tồn tại dƣới cả hình thái tiền tệ và hình thái hiện vật nhƣ là: máy móc, thiết bị, nhà xƣởng, nguyên vật liệu, hàng hóa trung gian. Nhƣ vậy, theo P.Samuelson, vốn chính là toàn bộ các loại tài sản tại doanh nghiệp, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, được sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh để sinh lời cho doanh nghiệp. Từ các quan điểm trên có thể định nghĩa tổng quát về vốn kinh doanh nhƣ sau: Vốn kinh doanh tại doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền tại toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Để quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả cần nắm vững các đặc điểm tại vốn kinh doanh: [ 13, 14, 16,17] Đặc điểm đầu tiên tại vốn kinh doanh tại doanh nghiệp đó là biểu hiện giá trị tại toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng tại doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Cụ thể, đó là biểu hiện tại tất cả các giá trị có thực tại doanh nghiệp, dù đó là các tài sản hữu hình (nhà xƣởng, máy móc, thiết bị, sản phẩm …) hoặc là các tài sản vô hình (thƣơng hiệu, thông tin, bằng phát minh sáng chế …) a. Vốn phải đƣợc tích tụ và tập trung đến một lƣợng nhất định mới có thể phát huy tác dụng trong hoạt động kinh doanh. Để đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh, phải tập trung một lƣợng vốn đủ lớn để mua sắm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh và chủ động trong các phƣơng án sản xuất kinh doanh.
Do đó, các doanh nghiệp ngoài việc tự huy động vốn 7 còn phải tìm cách thu hút vốn từ nhiều nguồn khác nhau (nhƣ: phát hành cổ phiếu, liên doanh liên kết, phát hành trái phiếu.) để đáp ứng nhu cầu tại hoạt động kinh doanh ở một quy mô nhất định. Vốn phải vận động để sinh lời. Vốn đƣợc biểu hiện bằng tiền, nhƣng tiền chỉ là dạng tiềm năng tại vốn. Để tiền biến thành vốn thì đồng tiền đó phải đƣợc vận động sinh lời.
Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhƣng điểm xuất phát và điểm cuối cùng tại tuần hoàn phải là giá trị – tiền tệ với giá trị lớn hơn (T – H – T’). Đó là nguyên lý tại đầu tƣ, sử dụng và bảo toàn vốn. Vốn có giá trị về mặt thời gian. Tức là đồng vốn tại các thời điểm khác nhau có giá trị không giống nhau.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp huy động và sử dụng vốn kịp thời đồng thời trong quá trình huy động, sử dụng và quản lý vốn kinh doanh, doanh nghiệp phải xem xét đến yếu tố thời gian tại đồng vốn do sự thay đổi tại các yếu tố nhƣ: lạm phát, tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ hội đầu tƣ, biến động giá cả, biến động chính trị … d. Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới đƣợc chi tiêu tiết kiệm, hiệu quả vì việc sử dụng vốn gắn liền với lợi ích hợp pháp tại chủ sở hữu. Ở đây, cần phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn.
Tuỳ theo hình thức đầu tƣ mà ngƣời sở hữu hay ngƣời sử dụng có thể đồng nhất hay tách rời, song dù trƣờng hợp nào thì ngƣời sở hữu vốn vẫn đƣợc ƣu tiên, đảm bảo quyền lợi và phải đƣợc tôn trọng quyền sở hữu tại mình. Đây là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong việc huy động và sử dụng vốn. Nó cho phép huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cƣ vào sản xuất kinh doanh, đồng thời quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả. Vốn là một thứ hàng hóa đặc biệt.
Khác với hàng hoá thông thƣờng, hàng hoá vốn khi bị bán đi ngƣời chủ không bị mất quyền sở hữu mà chỉ bị mất quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định theo thoả thuận. Giá cả tuân theo quy luật cung cầu trên thị trƣờng. Vốn đựơc biểu hiện dƣới nhiều hình thái khác nhau. Vốn không chỉ biểu hiện bằng tài sản hữu hình mà còn bao gồm cả những tài sản vô hình nhƣ: bằng phát minh sáng chế, lợi thế thƣơng mại, bản quyền, vị trí kinh doanh,.
Nhận thức đƣợc đặc trƣng này, các doanh nghiệp cần có biện pháp khai thác, tạo lập vốn để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh tại từng đơn vị. Phân loại vốn kinh doanh [ 14, T62-68] * Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển vốn kinh doanh đƣợc chia thành hai loại là: Vốn cố định và vốn lƣu động. Đây là hình thức phân loại thể hiện rõ ràng, chính xác và phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay. a) Vốn cố định Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền tại toàn bộ tài sản cố định.
Hay nói cách khác vốn cố định tại doanh nghiệp là một bộ phận tại vốn đầu tƣ ứng trƣớc về tài sản cố định mà đặc điểm tại nó là luân chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất đƣợc tài sản cố định về mặt giá trị. Quy mô tại vốn cố định sẽ quyết định đến quy mô tại tài sản cố định (TSCĐ). Song ngƣợc lại, những đặc điểm kinh tế kỹ thuật tại tài sản cố định trong quá trình sử dụng lại chi phối đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển tại vốn cố định.TSCĐ có đặc điểm là thời gian thu hồi trên một năm hay ngoài một chu kỳ kinh doanh tại doanh nghiệp. Đặc điểm này tại TSCĐ đã quyết định đến đặc điểm luân chuyển tại vốn cố định.
Một: Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển, điều này do đặc điểm tại TSCĐ có thời gian sử dụng lâu dài, nó tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất do đó vốn cố định – hình thái biểu hiện bằng tiền tại tài sản cố định cũng tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất tƣơng ứng. 9 Hai: trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn cố định chu chuyển giá trị dần dần từng phần và đƣợc thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Ba: vốn cố định chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất đƣợc tài sản cố định về mặt giá trị - tức là khi thu hồi đủ tiền khấu hao tài sản cố định. Trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản cố định bị hao mòn, giá trị tại tài sản cố định chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm.
Theo đó, vốn cố định cũng đƣợc tách thành hai phần: một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất (dƣới hình thức chi phí khấu hao) tƣơng ứng với phần hao mòn tại tài sản cố định. Phần còn lại tại vốn cố định đƣợc “cố định” trong tài sản cố định. Trong các chu kỳ sản xuất tiếp theo nếu nhƣ phần vốn luân chuyển đƣợc dần dần tăng lên thì phần vốn “cố định” lại dần dần giảm đi tƣơng ứng với mức giảm dần giá trị sử dụng tại tài sản cố định. Kết thúc sự biến thiên nghịch chiều đó cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng và vốn cố định hoàn thành một vòng chu chuyển Vốn cố định tại doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng đối với một doanh nghiệp trong quá trình hình thành và phát triển.
Do đó, việc thƣờng xuyên bổ sung thêm vốn cố định trong các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc tại ngƣời lao động. b) Vốn lƣu động Vốn lƣu động là biểu hiện bằng tiền tại toàn bộ tài sản lƣu động.