Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam đóng vai trò then chốt trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, nông hộ sang mô hình trang trại quy mô lớn và chăn nuôi gia công công nghiệp. Trong hệ thống chăn nuôi lợn nái ngoại sinh sản hiện đại, nâng cao số lượng lợn con cai sữa/nái/năm, tạo ra con giống khỏe mạnh, tăng sức đề kháng và giảm tỷ lệ còi cọc cũng như tỷ lệ chết ở giai đoạn theo mẹ là những mục tiêu kinh tế - kỹ thuật quan trọng hàng đầu.

Giai đoạn lợn con bú mẹ là thời kỳ cơ thể non nớt, hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, rất mẫn cảm với các tác nhân gây bệnh từ môi trường và đường ruột như Escherichia coli, Salmonella spp., Clostridium, cũng như các vi khuẩn đường hô hấp (Mycoplasma hyopneumoniae, Pasteurella multocida, Streptococcus suis). Việc sử dụng kháng sinh bổ sung vào khẩu phần ăn của lợn nái trong giai đoạn mang thai cuối nhằm hạn chế mầm bệnh truyền dọc sang con và tăng cường sức đề kháng cho lợn con qua sữa mẹ đã được áp dụng trong thực tiễn, song đòi hỏi phải xác định liều lượng và thời điểm can thiệp hợp lý để nâng cao hiệu quả chăn nuôi và kiểm soát nguy cơ kháng thuốc.

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất tại trang trại, đề tài tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể sau:

  1. Xác định khả năng sinh trưởng (sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối) của lợn con giai đoạn theo mẹ từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi.
  2. Xác định khả năng chuyển hóa thức ăn tập ăn, mức tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME) và protein/kg tăng khối lượng của lợn con thí nghiệm.
  3. Xác định khả năng kháng bệnh (tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tái phát, thời gian an toàn, thời gian điều trị) đối với bệnh phân trắng và bệnh đường hô hấp ở lợn con.
  4. Đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua chi phí thuốc thú y và kháng sinh trên một kilôgam tăng khối lượng của lợn con.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lợn nái ngoại chửa kỳ 2 (giống CP 909, phối giống với đực Pidu71, lứa đẻ thứ 4, khối lượng 280 - 300 kg) và đàn lợn con sinh ra theo mẹ từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi.
  • Phạm vi không gian: Trại lợn thuộc Công ty Cổ phần Bình Minh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 08/12/2014 đến ngày 24/05/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên các cơ sở khoa học về sinh lý sinh trưởng, phát dục và miễn dịch của lợn con, sinh lý tiết sữa của lợn nái, hệ vi sinh vật đường tiêu hóa - hô hấp, cùng cơ chế tác động của kháng sinh:

  • Sinh lý sinh trưởng và phát dục: Tốc độ tăng khối lượng của lợn con theo mẹ diễn ra rất nhanh (khối lượng cai sữa lúc 60 ngày tuổi có thể gấp 10 - 15 lần khối lượng sơ sinh), đi kèm khả năng tích lũy protein mạnh mẽ. Tuy nhiên, giai đoạn sau 21 ngày tuổi thường xảy ra khủng hoảng sinh trưởng do sản lượng sữa mẹ bắt đầu giảm sút và hàm lượng hemoglobin máu sụt giảm, đòi hỏi phải tập cho lợn con ăn sớm.
  • Đặc điểm miễn dịch và sinh lý tiết sữa: Lợn con sơ sinh không có $\gamma$-globulin trong máu, toàn bộ lượng kháng thể ban đầu phụ thuộc hoàn toàn vào việc hấp thu $\gamma$-globulin từ sữa đầu của lợn mẹ trong 24 giờ đầu sau khi sinh. Sản lượng sữa của nái đạt đỉnh ở khoảng 21 ngày tuổi rồi giảm dần.
  • Hệ vi sinh vật và bệnh học: Đường ruột của lợn tồn tại hệ vi khuẩn cộng sinh nhưng dễ mất cân bằng khi gặp stress, tạo điều kiện cho E. coli và Salmonella bùng phát gây bệnh phân trắng. Ở đường hô hấp, các tác nhân như Streptococcus suis, Pasteurella multocida, Mycoplasma hyopneumoniae thường trực gây viêm phổi và suyễn lợn.
  • Cơ chế thuốc kháng sinh Nova-Amoxicol: Đây là chế phẩm kháng sinh kết hợp phổ rộng do Công ty Liên doanh TNHH Anova sản xuất, chứa hai hoạt chất chính:
    • Amoxicillin: Kháng sinh nhóm Penicillin, có phổ tác dụng rộng trên vi khuẩn Gram âm và Gram dương, diệt khuẩn thông qua ức chế tổng hợp mucopeptide ở thành tế bào vi khuẩn, bền vững trong môi trường acid dịch vị.
    • Colistin: Kháng sinh nhóm Polymyxin, chuyên biệt tác dụng diệt khuẩn trên các trực khuẩn Gram âm đường ruột thông qua thay đổi tính thấm màng tế bào; đào thải chủ yếu qua phân ở dạng không đổi khi dùng đường uống hoặc truyền qua sữa mẹ.

Phương pháp bố trí thí nghiệm: Đề tài sử dụng phương pháp phân lô so sánh trên đàn nái ngoại có sự đồng đều về giống, lứa đẻ, thể trọng và thời gian sinh (chênh lệch 1 - 3 ngày):

Chỉ tiêu bố trí Lô Đối chứng (ĐC) Lô Thí nghiệm (TN)
Số lợn nái theo dõi (con) 3 3
Giống lợn nái CP 909 CP 909
Lứa đẻ của nái 4 4
Khối lượng nái (kg) 280 - 300 280 - 300
Số lợn con theo mẹ theo dõi (con) 30 30
Công thức lai CP 909 $\times$ Pidu71 CP 909 $\times$ Pidu71
Khẩu phần thức ăn nái Khẩu phần cơ sở (KPCS): 4 kg thức ăn 567SF/con/ngày KPCS (4 kg thức ăn 567SF/con/ngày) + Kháng sinh Nova-Amoxicol
Liều lượng kháng sinh 0 1 g/20 kg khối lượng/ngày (15 g/nái/ngày)
Thời gian sử dụng Không bổ sung 15 ngày trước khi đẻ
Thức ăn tập ăn của lợn con Thức ăn hỗn hợp viên hoàn chỉnh 550SF (96% VCK, 3300 Kcal ME, 21% Protein) Thức ăn hỗn hợp viên hoàn chỉnh 550SF (96% VCK, 3300 Kcal ME, 21% Protein)

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:

  • Cân khối lượng lợn con cá thể vào các thời điểm: sơ sinh, 7 ngày tuổi, 14 ngày tuổi và 21 ngày tuổi (cân vào buổi sáng trước khi ăn, cố định một người cân và một loại cân).
  • Tính toán sinh trưởng tuyệt đối ($A = \frac{P_2 - P_1}{t_2 - t_1}$, đơn vị g/con/ngày) và sinh trưởng tương đối ($R = \frac{P_2 - P_1}{(P_1 + P_2)/2} \times 100$, đơn vị %).
  • Ghi nhận lượng thức ăn tập ăn tiêu thụ hàng ngày của lợn con từ 7 đến 21 ngày tuổi để tính tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, tiêu tốn ME (Kcal) và protein (g)/kg tăng khối lượng.
  • Theo dõi dịch tễ lâm sàng: ghi nhận thời gian an toàn trung bình, số lợn mắc bệnh lần 1, tỷ lệ mắc bệnh (%), số lợn tái phát, tỷ lệ tái phát (%), thời gian điều trị (ngày) và tỷ lệ khỏi bệnh (%) đối với bệnh phân trắng và bệnh hô hấp.
  • Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê sinh vật học bằng phần mềm Minitab 14 theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện (2002), kiểm định sai khác giữa các giá trị trung bình qua tiêu chuẩn $P < 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc phát triển chăn nuôi lợn tập trung theo hướng công nghiệp; nêu rõ thực trạng tỷ lệ mắc bệnh đường tiêu hóa và hô hấp cao ở lợn con theo mẹ gây thiệt hại kinh tế; xác định mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung Nova-Amoxicol vào khẩu phần nái chửa đến sinh trưởng, chuyển hóa thức ăn và khả năng kháng bệnh của lợn con; xác định ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài trong việc hoàn thiện quy trình chăn nuôi lợn nái ngoại.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng hợp hệ thống lý luận về đặc điểm sinh lý sinh trưởng, phát dục, cơ chế hấp thu kháng thể qua sữa đầu và quy luật tiết sữa của lợn nái; phân tích thành phần hệ vi sinh vật đường ruột (E. coli, Salmonella) và các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp (Pasteurella multocida, Streptococcus suis, Mycoplasma hyopneumoniae); giới thiệu cấu trúc hóa học, phổ kháng khuẩn và nguyên tắc sử dụng kháng sinh Nova-Amoxicol (Amoxicillin và Colistin); tổng quan tình hình nghiên cứu sử dụng kháng sinh bổ sung trong thức ăn chăn nuôi trên thế giới (các công trình của Cromwell, Hays, Zimmerman) và tại Việt Nam (các nghiên cứu của Vũ Duy Giảng, Đào Trọng Đạt, Lê Thị Tài).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết địa điểm thực hiện tại Trại lợn Công ty CP Bình Minh (Mỹ Đức, Hà Nội) trong thời gian từ 08/12/2014 đến 24/05/2015; đối tượng gồm 6 lợn nái CP 909 lứa 4 và 60 lợn con theo mẹ; phương pháp phân lô so sánh (lô ĐC không bổ sung, lô TN bổ sung 1 g Nova-Amoxicol/20 kg thể trọng/ngày trong 15 ngày trước khi đẻ); quy trình chăm sóc nái bằng thức ăn 567SF và lợn con tập ăn bằng thức ăn 550SF; phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối, hệ số chuyển hóa thức ăn/ME/protein, các chỉ tiêu bệnh lý lâm sàng và phương pháp phân tích thống kê trên Minitab 14.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này được chia thành hai nội dung chính:

1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất

Phản ánh các hoạt động kỹ thuật trực tiếp tại trang trại:

  • Tham gia quy trình chăm sóc nái chửa theo các tuần mang thai (tuần 1 - 12 ăn 1,5 - 2 kg thức ăn 566; tuần 13 - 14 ăn 2,5 - 3 kg thức ăn 566; từ tuần 15 ăn 3,5 - 4 kg thức ăn 567SF), chuyển nái lên chuồng đẻ trước 7 - 10 ngày.
  • Thực hiện vệ sinh, tiêu độc chuồng trại bằng dung dịch Ommicide (320 ml/1000 lít nước, 2 lần/ngày), xút NaOH 10%, vôi bột và vôi xút theo lịch sát trùng tuần.
  • Theo dõi động dục và thực hiện kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho 42 lợn nái đạt tỷ lệ thụ thai 100%.
  • Tham gia đỡ đẻ 134 ca an toàn 100%; xuất chuồng 4800 lợn con; tiêm phòng sắt Dextran-Fe cho 1450 lợn con lúc 3 và 7 ngày tuổi; thiến 730 lợn đực an toàn 100%.
  • Tham gia chẩn đoán và điều trị bệnh thực tế: điều trị viêm tử cung nái (26/26 con khỏi, đạt 100%), viêm vú nái (3/3 con khỏi, đạt 100%), viêm bao khớp do Streptococcus ở lợn con (92/98 con khỏi, đạt 93,87%), bệnh phân trắng lợn con (304/304 con khỏi, đạt 100%), bệnh viêm phổi do Mycoplasma (120/135 con khỏi, đạt 88,89%).

2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm chuyên đề

  • Khả năng sinh trưởng của lợn con: Khối lượng sơ sinh ở lô TN đạt 1,42 kg/con, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lô ĐC (1,33 kg/con) ($P = 0,001$). Đến 21 ngày tuổi, khối lượng lô TN đạt 6,84 kg/con so với 6,09 kg/con ở lô ĐC ($P = 0,001$). Sinh trưởng tuyệt đối trung bình giai đoạn sơ sinh - 21 ngày tuổi ở lô TN đạt 257,08 g/con/ngày, cao hơn lô ĐC (226,86 g/con/ngày), tương ứng mức tăng 13,32%. Sinh trưởng tương đối giảm dần theo quy luật qua các giai đoạn tuổi ở cả hai lô.
  • Khả năng chuyển hóa thức ăn tập ăn: Lợn con lô TN tiêu tốn 0,20 kg thức ăn tập ăn/kg tăng khối lượng (giai đoạn 7 - 21 ngày tuổi), thấp hơn so với lô ĐC (0,22 kg). Tiêu tốn ME trung bình ở lô TN là 674,12 Kcal/kg tăng khối lượng (thấp hơn lô ĐC 59,56 Kcal); tiêu tốn protein ở lô TN là 42,89 g/kg tăng khối lượng (thấp hơn lô ĐC 3,80 g).
  • Khả năng kháng bệnh của lợn con:
    • Bệnh phân trắng: Lô TN có thời gian an toàn trung bình 12 ngày, tỷ lệ mắc bệnh lần 1 là 20,00% (6/30 con), tỷ lệ tái phát 2,85% (1 con), thời gian điều trị trung bình 3 ngày. Ở lô ĐC, thời gian an toàn là 5,46 ngày, tỷ lệ mắc bệnh lần 1 lên tới 46,00% (14/30 con), tỷ lệ tái phát 64,28% (9 con), thời gian điều trị trung bình 5 ngày.
    • Bệnh đường hô hấp: Lô TN có thời gian an toàn 12 ngày, tỷ lệ mắc bệnh lần 1 là 6,67% (2/30 con), không có trường hợp tái phát (0%), thời gian điều trị trung bình 3 ngày. Lô ĐC có thời gian an toàn 7 ngày, tỷ lệ mắc bệnh 20,00% (6/30 con), tỷ lệ tái phát 33,30% (2 con), thời gian điều trị trung bình 5 ngày.
  • Hiệu quả chi phí thuốc thú y: Mặc dù lô TN phát sinh thêm chi phí bổ sung kháng sinh cho nái (216.000 đồng), nhưng nhờ giảm mạnh chi phí thuốc điều trị bệnh ở lợn con và tăng tổng khối lượng lợn con cai sữa (109,64 kg ở lô TN so với 95,65 kg ở lô ĐC), chi phí thuốc thú y và kháng sinh trên mỗi kilôgam lợn con tăng khối lượng ở lô TN chỉ bằng 67,79% so với lô ĐC (tương đương mức giảm 32,21%).

Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị

Đưa ra kết luận khẳng định việc bổ sung Nova-Amoxicol vào khẩu phần nái chửa 15 ngày trước sinh đem lại hiệu quả rõ rệt về sinh trưởng, giảm tiêu tốn thức ăn và nâng cao tỷ lệ bảo hộ bệnh; kiến nghị áp dụng quy trình vào chăn nuôi lợn nái ngoại sinh sản tại cơ sở.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp bộ dẫn liệu thực nghiệm đầy đủ về các chỉ tiêu kỹ thuật và kinh tế khi bổ sung kháng sinh Nova-Amoxicol vào khẩu phần ăn của lợn nái chửa kỳ cuối:

Nhóm chỉ tiêu Chỉ tiêu cụ thể Đơn vị tính Lô Đối chứng (ĐC) Lô Thí nghiệm (TN) Mức chênh lệch / Ý nghĩa ($P$)
Sinh trưởng tích lũy Khối lượng sơ sinh kg/con $1,33 \pm 0,018$ $1,42 \pm 0,015$ Cao hơn 0,09 kg ($P = 0,001$)
Khối lượng 7 ngày tuổi kg/con $2,91 \pm 0,033$ $3,19 \pm 0,033$ Cao hơn 0,28 kg ($P = 0,001$)
Khối lượng 14 ngày tuổi kg/con $4,58 \pm 0,053$ $5,16 \pm 0,050$ Cao hơn 0,58 kg ($P = 0,001$)
Khối lượng 21 ngày tuổi kg/con $6,09 \pm 0,078$ $6,84 \pm 0,065$ Cao hơn 0,75 kg ($P = 0,001$)
Sinh trưởng tuyệt đối Giai đoạn SS - 7 ngày g/con/ngày 225,09 251,33 Cao hơn 26,24 g/con/ngày
Giai đoạn 7 - 14 ngày g/con/ngày 239,85 282,14 Cao hơn 42,29 g/con/ngày
Giai đoạn 14 - 21 ngày g/con/ngày 215,61 239,95 Cao hơn 24,34 g/con/ngày
Trung bình SS - 21 ngày g/con/ngày 226,86 257,08 Tăng 13,32%
Chuyển hóa thức ăn Tiêu tốn TĂ tập ăn (7-21 ngày) kg TĂ/kg tăng KL 0,22 0,20 Giảm 0,02 kg
Tiêu tốn ME (7-21 ngày) Kcal/kg tăng KL 733,68 674,12 Giảm 59,56 Kcal
Tiêu tốn Protein (7-21 ngày) g/kg tăng KL 46,69 42,89 Giảm 3,80 g
Bệnh phân trắng Thời gian an toàn ngày 5,46 12,00 Kéo dài thêm 6,54 ngày
Tỷ lệ mắc bệnh lần 1 % 46,00 (14 con) 20,00 (6 con) Giảm 26,00%
Tỷ lệ tái phát % 64,28 (9 con) 2,85 (1 con) Giảm 61,43%
Thời gian điều trị TB ngày/con 5,00 3,00 Rút ngắn 2 ngày
Tỷ lệ điều trị khỏi % 100 100 Tương đương
Bệnh đường hô hấp Thời gian an toàn ngày 7,00 12,00 Kéo dài thêm 5 ngày
Tỷ lệ mắc bệnh lần 1 % 20,00 (6 con) 6,67 (2 con) Giảm 13,33%
Tỷ lệ tái phát % 33,30 (2 con) 0,00 (0 con) Giảm 33,30%
Thời gian điều trị TB ngày/con 5,00 3,00 Rút ngắn 2 ngày
Tỷ lệ điều trị khỏi % 100 100 Tương đương
Kinh tế thú y Tỷ lệ chi phí thuốc/kg tăng KL % 100 67,79 Giảm 32,21% chi phí

Các giải pháp và kiến nghị kỹ thuật do tác giả đề xuất:

  • Bổ sung kháng sinh Nova-Amoxicol vào khẩu phần ăn của lợn nái chửa trước khi đẻ 15 ngày với liều 1 g/20 kg khối lượng cơ thể/ngày (tương đương 15 g/nái/ngày đối với nái có thể trọng 280 - 300 kg) để nâng cao chất lượng sữa đầu và khả năng bảo hộ lợn con.
  • Đảm bảo toàn bộ lợn con sơ sinh được bú sữa đầu đầy đủ ngay trong những giờ đầu sau khi sinh nhằm tiếp nhận lượng $\gamma$-globulin tối đa.
  • Áp dụng quy trình tập ăn sớm cho lợn con bắt đầu từ 7 ngày tuổi bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh dạng viên chất lượng cao (550SF) để kích thích hệ tiêu hóa phát triển và hạn chế hiện tượng khủng hoảng cai sữa.

Đóng góp của khóa luận:

  • Bổ sung cơ sở dữ liệu thực nghiệm về việc can thiệp kháng sinh dự phòng qua đường thức ăn của lợn mẹ trên tổ hợp lai thương phẩm CP 909 $\times$ Pidu71 nuôi tại miền Bắc Việt Nam.
  • Cung cấp số liệu định lượng chi tiết về mức độ giảm chi phí thuốc điều trị và nâng cao chỉ số chuyển hóa dinh dưỡng (ME, protein) ở giai đoạn lợn con theo mẹ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu được văn bản phản ánh:

  • Quy mô mẫu thí nghiệm còn ở mức cơ sở chuyên đề (theo dõi trên 6 lợn nái và 60 lợn con), giới hạn trong một cơ sở chăn nuôi (Công ty CP Bình Minh, Hà Nội).
  • Thời gian theo dõi thực nghiệm dừng lại ở mốc 21 ngày tuổi (thời điểm kết thúc giai đoạn theo mẹ), chưa đánh giá ảnh hưởng kéo dài của quy trình ở giai đoạn sau cai sữa và giai đoạn nuôi thịt thương phẩm.
  • Nghiên cứu chưa thực hiện các phân tích định lượng chuyên sâu trong phòng thí nghiệm về mức độ tồn dư kháng sinh trong huyết thanh/mô bào lợn con hoặc đếm mật độ vi sinh vật đường ruột bằng phương pháp vi sinh học phân tử.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng thử nghiệm trên quy mô đàn nái lớn hơn và các tổ hợp lai khác nhau.
  • Tiếp tục theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ sống của đàn lợn thí nghiệm ở giai đoạn sau cai sữa và vỗ béo xuất chuồng.
  • Đánh giá chỉ số kháng kháng sinh và thời gian đào thải hoàn toàn hoạt chất trong cơ thể vật nuôi.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Chăn nuôi - Thú y: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm phân lô so sánh trên gia súc sinh sản; phương pháp tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng tích lũy, tuyệt đối, tương đối và các chỉ tiêu chuyển hóa năng lượng, protein.
  • Kỹ thuật viên trang trại và người chăn nuôi lợn sinh sản: Tham khảo quy trình chăm sóc, khẩu phần ăn theo từng tuần mang thai của lợn nái ngoại; phác đồ phòng trị bệnh phân trắng, viêm bao khớp, viêm tử cung, viêm vú; quy trình vệ sinh tiêu độc bằng hóa chất sát trùng.
  • Các nhà sản xuất thức ăn và thuốc thú y: Tham khảo dữ liệu thực tế về hiệu quả phối hợp kháng sinh Amoxicillin và Colistin trong thức ăn bổ sung cho gia súc mang thai.

Câu hỏi thường gặp

1. Loại kháng sinh nào được sử dụng để bổ sung cho lợn nái chửa trong nghiên cứu, liều dùng và thời gian sử dụng ra sao?
Nghiên cứu sử dụng kháng sinh Nova-Amoxicol (chứa Amoxicillin và Colistin) do Công ty Liên doanh TNHH Anova sản xuất. Liều dùng là 1 g/20 kg khối lượng cơ thể/ngày (tương đương 15 g/con/ngày cho nái 280 - 300 kg), trộn vào khẩu phần ăn 4 kg thức ăn 567SF/ngày (chia 2 bữa sáng - chiều), sử dụng liên tục trong 15 ngày trước ngày đẻ dự kiến.

2. Khối lượng và tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con ở lô thí nghiệm có sự khác biệt như thế nào so với lô đối chứng?
Lợn con ở lô thí nghiệm đạt khối lượng sơ sinh 1,42 kg và 21 ngày tuổi đạt 6,84 kg, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lô đối chứng (sơ sinh 1,33 kg và 21 ngày tuổi đạt 6,09 kg) với $P = 0,001$. Sinh trưởng tuyệt đối trung bình giai đoạn sơ sinh - 21 ngày tuổi ở lô thí nghiệm đạt 257,08 g/con/ngày, cao hơn lô đối chứng (226,86 g/con/ngày), tương ứng mức tăng 13,32%.

3. Việc bổ sung kháng sinh cho lợn mẹ ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ mắc bệnh phân trắng và bệnh hô hấp ở lợn con theo mẹ?
Ở bệnh phân trắng, lô thí nghiệm có thời gian an toàn kéo dài 12 ngày (so với 5,46 ngày ở đối chứng), tỷ lệ mắc bệnh lần 1 giảm từ 46,00% xuống 20,00%, tỷ lệ tái phát giảm từ 64,28% xuống 2,85%, thời gian điều trị rút ngắn từ 5 ngày xuống 3 ngày. Ở bệnh đường hô hấp, tỷ lệ mắc bệnh giảm từ 20,00% xuống 6,67%, không có ca tái phát (0% so với 33,30% ở đối chứng) và thời gian điều trị rút ngắn từ 5 ngày xuống 3 ngày.

4. Khả năng chuyển hóa thức ăn tập ăn (FCR, ME, Protein) của lợn con giữa hai lô chênh lệch như thế nào?
Trong giai đoạn 7 - 21 ngày tuổi, lợn con lô thí nghiệm tiêu tốn 0,20 kg thức ăn tập ăn/kg tăng khối lượng (thấp hơn 0,02 kg so với mức 0,22 kg của lô đối chứng). Tiêu tốn năng lượng trao đổi ở lô thí nghiệm là 674,12 Kcal/kg tăng khối lượng (thấp hơn 59,56 Kcal so với lô đối chứng đạt 733,68 Kcal). Tiêu tốn protein ở lô thí nghiệm là 42,89 g/kg tăng khối lượng (thấp hơn 3,80 g so với lô đối chứng đạt 46,69 g).

5. Hiệu quả kinh tế về chi phí thuốc thú y trên mỗi kilôgam tăng khối lượng lợn con được xác định ra sao?
Mặc dù lô thí nghiệm tốn thêm 216.000 đồng tiền kháng sinh bổ sung cho nái, nhưng chi phí thuốc điều trị bệnh cho lợn con giảm mạnh và tổng khối lượng đàn lợn con tăng cao hơn (109,64 kg so với 95,65 kg). Kết quả tính toán cho thấy chi phí thuốc thú y và kháng sinh trên 1 kg tăng khối lượng của lô thí nghiệm chỉ bằng 67,79% so với lô đối chứng, giúp tiết kiệm 32,21% chi phí.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Quân đã khảo nghiệm và chứng minh việc bổ sung kháng sinh Nova-Amoxicol vào khẩu phần ăn của lợn nái chửa 15 ngày trước khi đẻ với liều 1 g/20 kg thể trọng/ngày mang lại hiệu quả rõ rệt. Biện pháp này giúp cải thiện khối lượng sơ sinh và khối lượng cai sữa lúc 21 ngày tuổi của lợn con, nâng cao tốc độ sinh trưởng tuyệt đối thêm 13,32% và giảm mức tiêu tốn thức ăn, năng lượng, protein trên mỗi kilôgam tăng trọng. Đồng thời, quy trình giúp kéo dài thời gian an toàn dịch bệnh, giảm tỷ lệ mắc và tái phát bệnh phân trắng cũng như bệnh đường hô hấp, qua đó giảm 32,21% chi phí thuốc thú y/kg tăng khối lượng trong điều kiện chăn nuôi trang trại công nghiệp.