Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Tống quan về cây dưa lê Dưa lê (Cucumis melo L.) thuộc bộ Cucurbitales, họ Bau bí (Cucurbitaceae) (Nuxnez - Palenius và cs, 2008). Dưa lê là cây có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng nhiều vụ trong năm và cho năng suất cao. Dưa lê có nguồn gốc từ Châu Phi sau đó được trồng lan rộng ra các nước Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc và ngày nay được trồng ở tất cả các nước trên thé giới (Kirkbride, 1993).
Đặc điểm sinh vật học cây dưa lê Ré cây dưa lê là rễ chùm, phân bố chủ yếu ở tầng canh tác 0 - 30 cm, rộng 50 - 60 cm (Kirkbride, 1993). Dưa lê thuộc loại cây hằng niên, là cây thân thảo. Thân leo có nhiều đốt, mỗi đốt có một lá và tua cuống, thân có nhiều nhánh gần gốc với số lượng có thé lên đến 28 nhánh (Jeffrey, 1967; Silberstein va cs, 2003). Lá mam lớn dạng hình trứng, nếu chăm sóc tốt tuổi tho kéo dai đến hết thời gian sinh trưởng của cây.
Lá đơn có chia thùy, xếp xen kẽ, không có lá kèm, cuống lá dai 4 cm đến 10 em, phiến lá có thể hình tròn, hình oval hoặc hình thận, hơi lõm ở giữa, đường kính 3 cm đến 15 em, lá hình chân vịt có 5 đến 7 thùy, bề mặt phủ lông mịn, màu sắc từ xanh nhạt đến xanh đậm (Jeffrey, 1967; Tạ Thu Cúc, 2007). Hoa đơn tính hoặc lưỡng tính mọc ở nách lá. Hoa có 5 cánh màu vàng. Hoa đực mọc thành chùm 2 đến 4 hoa với 3 nhị.
Hoa cái mọc đơn ở cảnh cấp 1, đầu nhụy có 3 thùy, lá đài và cánh hoa dính nhau ở phần ống và dính vào bầu nhụy. Hoa nở vào buổi sáng và đóng lại vào budi chiều. Cây bat đầu ra hoa sau khi gieo hạt/sau trồng 25 - 30 ngày (Kirkbride, 1993). Hoa chỉ nở trong một ngày và thụ phan chủ yếu nhờ côn trùng, gió.
Mỗi cây chi đậu từ 3 đến 6 qua (số lượng hoa cái/cây từ 30 - 100 hoa). Quả chín sau 58 - 65 ngày (Tạ Thu Cúc, 2007). Quả hình tròn hoặc hình oval, màu sắc vỏ quả từ trắng, xanh đến vàng cam. Thịt quả có màu vàng, cam hoặc trắng.
Hạt có hình ê líp, một đầu nhọn và một đầu tròn, kích thước từ 5 mm đến 12 mm, màu trắng hoặc vàng nâu. Trong hạt chứa khoảng 12,5 - 39,1% dầu (Vũ Văn Liết và Nguyễn Van Hoan, 2007). Các thời kì sinh trưởng và phát triển của dưa lê Thời kì nảy mầm: bắt đầu từ khi gieo hạt đến khi cây có 2 lá mầm, nhiệt độ thích hợp là 25 - 30°C (Tran Thị Ba và Võ Thị Bích Thủy, 2019). Thời kì cây con: bắt đầu từ cây con có 2 lá mầm đến 4 - 5 lá thật.
Thời kì này thân, lá tăng trưởng chậm, lóng ngắn, lá nhỏ và chưa phân cành. Rễ phát triển tương đối nhanh về chiều sâu và rộng, rễ phụ mạnh nên cần vun gốc, bón phân thúc và tưới nước g1ữ am dé kích thích cây con ra rễ (Trần Thị Ba và Võ Thị Bích Thủy, 2019). Thời kì tăng trưởng: bắt đầu từ lúc cây có 4 - 5 lá thật đến cây ra hoa cái đầu tiên. Thân chuyền sang dạng leo, phát triển nhanh, tốc độ ra lá nhanh và kích thước lá lớn.
Hoa đực nhiều, có sự xuất hiện hoa cái đầu tiên (Trần Thị Ba và Võ Thị Bích Thủy, 2019). Thời kì ra hoa, đậu quả: bắt đầu từ lúc cây có hoa cái thứ nhất đến khi cây hình thành quả. Giai đoạn này cây ra hoa và đậu quả tập trung, cây phát triển mạnh. Quả được hình thành một cách liên tục, tang nhanh về kích thước, khối lượng, năng suất và chất lượng quả tốt nhất, phần trăm số quả thương phẩm cao.
Đây là thời kì cây yêu cầu lượng nước và chất dinh dưỡng nhiều nhất. Thời kì già cỗi cây: cây dưa lê tập trung nuôi quả đến cây tàn. Thời kỳ này sinh trưởng ở thân lá giảm nhanh chóng, hoa quả ít, quả ít đậu, hình dạng quả không đồng đều, quả nhỏ, năng suất và chat lượng giảm rõ rệt. Cần chú ý chăm sóc dé tăng năng suất (Phan Quang Hương, 2018).
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của dưa lê trong nhà màng Nhiệt độ: dưa lê là nhóm cây ưa thích khí hậu ấm áp, có khả năng chịu nóng nhưng không chịu được rét và sương giá. Hầu hết các cây trong họ bầu bí sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ từ 23 - 30°C. Nhiệt độ thấp dưới 10°C sự sinh trưởng, phát triển gặp nhiều khó khăn. Nhiệt độ thích hợp cho cây ra hoa tạo quả là 20 - 22°C vào buổi sáng và 25 - 27°C vào buổi trưa (Mai Thị Phương Anh va cs, 1996; Trần Thị Ba và Võ Thị Bích Thủy, 2019).
Ánh sáng: dưa lê là cây ưa sáng nên cần nhiều ánh sáng trong suốt quá trình sinh trưởng của cây. Cây thiếu ánh sáng sẽ làm giảm tỷ lệ đậu quả, kích thước quả và khả năng tích lũy đường trong quả kém. Quang kì ngắn kết hợp với cường độ ánh sáng mạnh thúc đây ra hoa cái nhiêu, tăng tỉ lệ đậu qua, quả chín sớm và năng suất cao (Mai Thị Phương Anh và cs, 1996). Nước: theo Tạ Thu Cúc (2005) thời kỳ cần nước là thời kỳ sinh trưởng thân lá và thời ky quả phát triển.
Mức 4m độ thích hợp nhất đối với dưa lê nằm trong khoảng 65 — 70%, pH từ 6 — 7 (Mai Thi Phuong Anh va cs, 1996). Giá thé: cây dưa lê không kén giá thể, yêu cau giá thé trồng phải tơi xốp, thích hợp pH trung tính. Giá thé bao gồm hỗn hợp của các vật liệu có thé giữ nước, tạo độ thoáng cho sự phát triển cây (Raviv và cs, 2002). Xơ dừa là giá thể hữu cơ được sử dụng phô biến hiện nay (Robbins và Evans, 2004).
Chất dinh dưỡng: cây dưa lê cần được bồ sung dinh dưỡng day đủ và kịp thời ở các giai đoạn sinh trưởng, phát triển. Dinh dưỡng phải cân đối N, P, K và có bổ sung phân chuồng. Các chất dinh dưỡng thiết yếu của cây gồm 16 nguyên tố. Trong đó 3 nguyên tố C, H, O được cây hap thụ chủ yếu từ không khí và nước có trong tự nhiên.
Còn lại 13 nguyên tố do đất và phân bón cung cấp. Mười ba nguyên tố thiết yếu đó là Nitrogen (N), Photospho (P), Kali (K), Sulfua (S), Canxi (Ca), Magie (Mg), Sắt (Fe), Đồng (Cu), Kém (Zn), Mangan (Mn), Bo (B), Molipden (Mo) và Clo (Cl). Tất cả các nguyên tố dinh dưỡng thiết yêu này đều quan trọng với cây trồng nhưng có chất cây cần dùng nhiều, có chất cây cần dùng ít (Nguyễn Mạnh Hùng và Nguyễn Mạnh Chinh, 2019). Tình hình sản xuất dưa lê trên thế giới và Việt Nam Tổng sản lượng dưa lê trên thế giới tăng đều đặn, năm 2015 đạt 25,7 triệu tan đến năm 2020 sản lượng dưa lê trên thé giới đạt kỉ lục là 28,4 triệu tan.
Trung Quốc là nước có sản lượng dưa lê xuất khâu lớn nhất, đạt 13.838 triệu tấn với diện tích 76.129 ha, đứng thứ hai là Thổ Nhĩ Kì 1,7 triệu tấn với diện tích 76.129 ha và Ấn Độ đứng thứ ba với 1,3 triệu tấn với diện tích 59. Các nước trồng dưa lê xuất khẩu lớn khác bao gồm: Iran, Kazakhastan, Guatemala, Brazil, Maroc, Pháp, AI Cập va Tây Ban Nha. Tính đến năm 2021, Trung Quốc van là nhà sản xuất dưa lê lớn nhất, đạt sản lượng 13,8 triệu tan. Nước xuất khâu dưa lê lớn nhất vào năm 2021 là Tây Ban Nha mang giá trị xuất khẩu khoảng 370 triệu USD (Kristina, 2022).
Giống dưa lê Hàn Quốc Super 007 Honey đang được phát triển tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước: Hà Nội, Bắc Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Thai Bình, Thanh Hóa, Thái Nguyên (Ngô Thị Hạnh và cs, 2020). Canh tác dưa lê mang lại hiệu quả kinh tế cao nên dưa lê được trồng rộng rãi trên nhiều tỉnh thành của cả nước, trong đó các tỉnh phía Bắc có điện tích và sản lượng dưa lê lớn như: Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hưng Yên, Bắc Ninh. Tuy nhiên, sản lượng dua các loại bao gồm cả dưa lê sản xuất trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ rất lớn của người tiêu dùng. Do đó, dưa lê không rõ nguồn gốc, xuất xứ vẫn được nhập khâu tràn lan.
Nguyên nhân chủ yếu là thiếu bộ giống tốt, thích nghi cho từng vùng sinh thái (Ngô Thị Hanh và cs, 2020). Những năm gần đây, dưa lê đã được trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam, với thị trường tiêu thụ chính là Thành phó Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, diện tích va sản lượng dưa lê sản xuất ra so với nhu cầu thị trường trong nước vẫn còn rất thấp, nguyên nhân là do kĩ thuật canh tác đưa lê khá mới mẻ đối với nông dân và các điều kiện canh tác, thời tiết, mùa vụ khắt khe hơn so với trồng các loại quả khác. Một số nghiên cứu về giống dưa lê trên thế giới và Việt Nam Nhằm làm tăng hàm lượng đường và tăng tính kháng bệnh ở dưa lê, thí nghiệm đã tiến hành lai hồi giao (backcross).
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng giống Busan 902 làm đòng mẹ (cho nguồn gen mục tiêu trong chương trình cải tiến giống, vì giống này có tính kháng bệnh phấn trắng và bệnh chảy nhựa thân) và Busan 903 làm giống tái tục. Sự kết hợp này của các giống trong pha hệ được tiến hành qua 7 đời, từ năm 1993 đến 1997. Kết quả đã cho ra giống Busan 926 có quả hình oval, có khía nhẹ, khối lượng quả khoảng 600 g, vỏ quả hơi vàng xanh, thịt qua có màu xanh sáng, độ Brix đạt 15 - 17%, vỏ quả cứng. Giống Busan 926 này đồng thời kháng được bệnh phấn trắng và chảy nhựa thân.
Kết quả lai tạo giống tạo một bước tiến trong việc phát triển giống dưa lê kháng được nhiều loại bệnh hại (Kim và cs, 2001). Garcia và cs (2006) trồng một số giống dưa lê với khoảng cách các cây là 40 và 60 cm, năng suất cao nhất (36,75 tan/ha) đối với giống Packstar ở khoảng cách 40 cm, tất cả các giống còn lại đạt năng suất cao nhất tại khoảng cách 40 em. Nguyễn Thị Liên (2014) nghiên cứu ảnh hưởng ba liều lượng Humic Acid đến các giống dưa lê: Kim Hoàng Hậu, Taka và Taki. Các liều lượng bón Humic Acid của thí nghiệm lần lượt là 0 g/lan/bau, 1 g/lan/bau, 2 g/lần/bầu và 3 g/lan/bau.
Giống Kim Hoang Hậu đạt sinh trưởng tốt ở liều lượng bón 1g Humic Acid/lan/bau về chiều cao (181,44 cm), điện tích lá (332,6 cm?), số lá (26,0 lá) và năng suất thực thu đạt 3,37 tan/1. Trong đó, giống Taka bón 1g Humic Acid/lần/bầu đạt năng suất thực thu cao nhất 3,97 tan/1.