đặt vấn đề kế toán là hệ thống thông tin. Những nghiên cứu về sau tập trung chủ yếu vào khía cạnh hệ thống, cũng như tìm kiếm các nền tảng lý thuyết cho việc thiết kế hệ thống thông tin kế toán. Cụ thể, Miller và Gordon (1975) đưa ra mô hình luận giải cho việc xây dựng hệ thống thông tin kế toán. Nói cách khác, họ đã đề xuất khung thiết kế hệ thống thông tin kế toán dựa trên lý thuyết bất định (Gordon & Miller, 1976).
Nhờ đó, các nhà nghiên cứu về sau đã phát triển sự kết hợp giữa ly thuyết kế toán và hệ thống thông tin (Colantoni và cộng sự, 1971) và đưa ra những phân tích về hệ thống thông tin kế toán từ quan điểm của người sử dụng (Marshall, 1972). Những nghiên cứu được tiến hành vào những năm 1980 tập trung làm rõ mối quan hệ giữa hệ thống thông tin kế toán và quản trị doanh nghiệp, với những khía cạnh cụ thể thuộc hệ thống thông tin kế toán quản trị (Gordon & Narayanan, 1984; Merchant, 1981; Otley & Berry, 1980). Đồng thời, các nhà nghiên cứu cũng bàn về các vấn đề liên quan đến dữ liệu kế toán, tầm quan trọng của công nghệ thông tin trong kế toán quản trị doanh nghiệp (Govindarajan, 1984; Markus & Robey, 1988; Roberts & Scapens, 1985) hoặc kế toán và chiến lược kinh doanh (Simons, 1987). Cần nhấn mạnh rằng, mối liên hệ giữa hệ thống thông tin và kế toán đã định hình rõ nét trong những nghiên cứu tại thời điểm này.
Chenhall và Morris (1986) đã chỉ ra ảnh hưởng của cấu trúc tổ chức và môi trường đối với nhận thức về giá trị của hệ thống thông tin kế toán quản trị. Kim và Lee (1986) đã chỉ ra tầm ảnh hưởng của người sử dụng trong quá trình sử dụng hệ thống thông tin kế toán quản trị. Đặc biệt, thời điểm này đã manh nha xuất hiện những nghiên cứu tập trung vào hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning – ERP), xây dựng cấu trúc và đo lường tác động của hệ thống này đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Venkatraman, 1989). 8 Nghiên cứu về hệ thống thông tin kế toán vào những năm 90 đa dạng và phong phú hơn.
Đặc biệt, những nghiên cứu này đã nhấn mạnh sự kết hợp chặt chẽ giữa kế toán và công nghệ thông tin, hệ thống quản trị các nguồn lực trong doanh nghiệp ERP, kế toán quản trị trong môi trường công nghệ thông tin và hành vi kế toán… Giá trị của những nghiên cứu này là việc khẳng định vai trò của hệ thống thông tin kế toán trong hỗ trợ quản trị doanh nghiệp đối phó với khủng hoảng tài chính (Ezzamel & Bourn, 1990). Các học giả cũng chỉ ra rằng hệ thống thông tin kế toán giúp cung cấp thông tin hữu ích cho nhà đầu tư (Schaltegger, 1997). Nhiều khía cạnh khác cũng được xem xét, ví dụ dữ liệu, người dùng và chất lượng thông tin kế toán (Choe, 1996, 1998; Kaplan, Krishnan, Padman, & Peters, 1998; Peter Seddon & Yip, 1992). Đặc biệt, kết quả nghiên cứ về ERP đã chứng minh được mối quan hệ giữa nghiên cứu hệ thống thông tin và hệ thống thông tin kế toán.
Sự phong phú, đa dạng của những nghiên cứu về ERP bao gồm các nội dung xác định bản chất của ERP, tác động của ERP đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp (Callaway, 1999; Davenport, 1998; McAfee, 1999); triển khai ứng dụng ERP, thành công của ERP và đo lường thành quả của ERP (Bingi và cộng sự, 1999; Holland & Light, 1999; Rosemann & Wiese, 1999). Từ 2000 đến 2009, các học giả đã xây dựng lý thuyết cơ bản về hệ thống thông tin kế toán với các nội dung liên quan đến áp dụng lý thuyết bất định để xây dựng mô hình hệ thống thông tin kế toán nhằm nâng cao nhận thức về tính hữu hiệu của hệ thống thông tin dựa trên sự hợp tác và kiểm soát trong doanh nghiệp (Nicolaou, 2000), và coi hệ thống thông tin kế toán là đối tượng tri thức (Lowe, 2001; Sori, 2009a). Những nội dung khác được các nhà nghiên cứu quan tâm bao gồm kết hợp các lý thuyết về hệ thống thông tin với kế toán, đánh giá chất lượng thông tin kế toán, những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dữ liệu kế toán, sự thành công của chất lượng dữ liệu kế toán (Hongjiang, 2003; Hongjiang và cộng sự, 2003; Hossien, Mohsen, & Hashem, 2008; Ismail & King, 2007; O’Connor & Martinsons, 2006; Pierce & O'Dea, 2003; Wheeler và cộng sự, 2004). Cần nhấn mạnh rằng ERP và hệ thống thông tin kế toán cũng được tìm hiểu sâu rộng hơn để chỉ ra việc ứng dụng ERP ảnh hưởng thế nào đến hệ thống thông tin kế toán (Spathis, 2006; Spathis & Ananiadis, 2005; Spathis & Constantinides, 2004).
Tuy nhiên, ở Việt Nam, thời điểm này mới chỉ có nghiên cứu của Trần Phước (2007) bàn về việc ứng dụng và tổ chức phần mềm kế toán trong doanh nghiệp. Từ những năm 2010 đến nay, cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, đã xuất hiện nhiều nội dung mới về dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây,… Sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và lan rộng của chia sẽ dữ liệu đã mang lại những thay 9 đổi đáng kể trong các nghiên cứu về hệ thống thông tin kế toán. Cụ thể, đã có nhiều nghiên cứu với các nội dung đa dạng, sâu sắc liên quan tới: hành vi kế toán; nhận thức về chất lượng dữ liệu, thông tin và khả năng chia sẻ tri thức; cũng như hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp. Tính đến nay, có thể phân loại những nghiên cứu đã tiến hành thành hai nhóm.
Thứ nhất, các nghiên cứu mang tính tổng kết lý thuyết đã được xây dựng và đề xuất mô hình nghiên cứu mới, ví dụ, những nghiên cứu của Belfo & Trigo, 2013; Budiarto & Prabowo, 2015; Ferguson & Seow, 2011; Geerts, 2011; Grabski và cộng sự, 2011; Granlund, 2011; Guragai và cộng sự, 2014; Smith, 2016; Worrell và cộng sự, 2013. Thứ hai, những nghiên cứu thực nghiệm về hệ thống thông tin kế toán tại các nước đang phát triển. Nội dung của những nghiên cứu này liên quan tới tác động ERP đến hệ thống thông tin kế toán, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin, chất lượng dữ liệu của hệ thống thông tin kế toán với những học giả tiêu biểu như AlHiyari và cộng sự, 2013; Chaney và cộng sự, 2011; Ghasemi và cộng sự, 2011; Güney, 2014; Nguyễn Thị Bích Liên, 2012; Prasad & Green, 2015; Soudani, 2012; Weißenberger & Angelkort, 201. Bên cạnh đó là những nghiên cứu về tổ chức HTTTKT (Tô Hồng Thiên, 2017), ứng dụng điện toán đám mây để phát triển HTTTKT (Nguyễn Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Hải Ly, 2017).
Trên thực tế, HTTTKT đã và đang được áp dụng trong phần lớn các doanh nghiệp tại Việt Nam nhằm giải quyết các vấn đề trong quản lý doanh nghiệp. Mặc dù đáp ứng cơ bản nhu cầu thông tin phục vụ cho các đối tượng trong và ngoài doanh nghiệp, nhưng mức độ và quy mô áp dụng tại những doanh nghiệp này còn nhiều khác biệt. Cũng cần thừa nhận rằng, việc thực hiện công tác kế toán và HTTTKT tại các doanh nghiệp Việt Nam còn tồn tại rất nhiều hạn chế như: nội dung sơ sài, lạc hậu, trùng lắp, các phương pháp kỹ thuật vận dụng đơn giản với công cụ chủ yếu là Excel và phần mềm kế toán, thiếu sự kết nối, tính ổn định, định hướng giữa thông tin phục vụ quản lý và thông tin nhằm mục đích điều hành. Đặc biệt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn chưa quan tâm đến việc khai thác, sử dụng các phương tiện, kỹ thuật xử lý thông tin hiện đại.
Do đó, có thể kết luận rằng những nghiên cứu trên đã làm rõ thực trạng xây dựng HTTTKT tại các doanh nghiệp trên thế giới và Việt Nam, nhưng lại chưa chỉ ra được tác động của việc áp dụng HTTTKT đến HQHĐ trong các DNNVV. Nghiên cứu về ảnh hưởng của hệ thống thông tin kế toán đến hiệu quả tài chính Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là một phạm trù rất rộng, được tiếp cận trên nhiều khía cạnh tùy thuộc mục tiêu nghiên cứu. Theo đó, hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp có thể được hiều là một phạm trù kinh tế phản ánh mức độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguồn vốn…) nhằm đạt được mục tiêu của 10 doanh nghiệp trong từng thời kỳ phát triển. Hiệu quả hoạt động được chia thành 2 khía cạnh chính là hiệu quả tài chính và hiệu quả phi tài chính.
Trong các nhánh nghiên cứu về hiệu quả tài chính, một số nghiên cứu chính được đưa ra như sau: Nhánh thứ nhất, nghiên cứu những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về mặt tài chính. Nhánh này được điển hình bởi Ross (2019), và một số tác giả theo lí thuyết đại diện, mà điển hình là Jensen và Meckling (1976), Desmaki (1978, 1980), Jensen (1983) và (Eisenhardt, (1989). Trong nhánh nghiên cứu này, những vấn đề được đưa ra thảo luận chủ yếu gồm những chỉ tiêu nào và cách thức phân tích các chỉ tiêu ấy ra sao. Cơ bản nhất, một số chỉ tiêu được đưa ra bao gồm ROA, ROE, ROS, ROI; các công thức phân tích liên quan đến phân tích Doupont và nhóm các chỉ tiêu tài chính.
Trong số các chỉ tiêu nêu trên, điều đáng nói là tử số (chữ R – Return) được các nhà nghiên cứu hiểu theo khía cạnh nào. Đối với các nghiên cứu xuất phát từ nước Mỹ - mà điển hình là Ross (2019) – return được hiểu là lợi nhuận trước thuế; còn với các nước còn lại, return lại được hiểu là lợi nhuận sau thuế. Nguyên nhân của việc này là Mỹ áp dụng mức thuế khác nhau với từng bang, do vậy, để đánh giá hiệu quả quản lý của doanh nghiệp, thường dùng với ý nghĩa lợi nhuận trước thuế. Cũng vì sự khác nhau như thế, nên các chỉ tiêu tài chính liên quan đến khả năng sinh lời được áp dụng khác nhau với những nhánh nghiên cứu khác nhau.
Ví dụ, khi nghiên cứu về ảnh hưởng của hệ thống thông tin kế toán đến khả năng sinh lời của nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thị trường Mỹ thì thường ít có kết quả do dùng biến phụ thuộc là lợi nhuận trước thuế chia cho tổng tài sản hoặc vốn chủ sở hữu. Nhưng đối với các nghiên cứu thuộc các nước đang phát triển lại cho kết quả khá rõ ràng.