CHƯƠNG I: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Dầu là một mặt hàng quan trọng đối với nền kinh tế, là nguồn nguyên liệu đầu vào chủ yếu của quá trình sản xuất và có ảnh hưởng lớn đến hoạt động vận tải. Sự biến đổi của giá dầu gây ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp, có tác động đến lạm phát và các chính sách tiền tệ, có ảnh hưởng chung đến nền kinh tế trong đó có thị trường chứng khoán.
Huang và cộng sự (1996) sử dụng các ước tính mô hình VAR để nghiên cứu về cú sốc năng lượng và thị trường tài chính, họ cho rằng sự thay đổi của giá dầu có tác động đến giá chứng khoán, nguyên nhân là do biến động của giá dầu sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và mức lãi suất chiết khấu của doanh nghiệp. Theo Huang và cộng sự, ảnh hưởng của việc tăng giá dầu đối với các doanh nghiệp tiêu thu dầu là dẫn đến tăng chi phí đầu vào, làm giảm lợi nhuận doanh nghiệp. Ngoài ra, giá dầu tăng sẽ làm tăng lạm phát và lãi suất thực kỳ vọng, tăng lãi suất chiết khấu. Điều này làm giảm giá trị của doanh nghiệp.
Trong khi đó, đối với doanh nghiệp sản xuất dầu, giá dầu tăng sẽ dẫn đến lợi nhuận của doanh nghiệp tăng, từ đó dẫn đến giá trị doanh nghiệp tăng. Trên toàn thị trường, việc nhập khẩu hay xuất khẩu dầu của mỗi quốc gia có ảnh hưởng lớn đến giá dầu. (2009) nghiên cứu cú sốc giá dầu và bùng nổ thị trường chứng khoán ở một quốc gia xuất khẩu dầu mỏ. Để nắm bắt sự tương tác giữa các biến số khác nhau, tác giả sử dụng mô hình VAR cấu trúc.
Kết quả rất rõ ràng đối với các biến đổi khác nhau của giá dầu (tuyến tính và phi tuyến tính). Các tác động trên các biến khác thấp hơn. Các biến chỉ ra rằng nền kinh tế Na Uy phản ứng với giá dầu cao hơn nếu tổng cầu và tổng tài sản tăng. Certi và cộng sự (2014) cũng đã cho thấy ảnh hưởng của biến động giá dầu đến TTCK của các nước xuất và nhập khẩu dầu là khác nhau.
Nhóm tac giả nghiên cứu mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa giá dầu và chỉ số thị trường chứng khoán ở hai nhóm nước: nước nhập khẩu dầu mỏ và nước xuất khẩu dầu mỏ. Nhóm sử dụng cách tiếp cận tần số do Tong và Priestley (1973) đề xuất, đó là phân tích đồng phổ tiến hóa, để phân biệt giữa sự phụ thuộc ngắn hạn và trung hạn. Ngoài ra, nhóm sử dụng quy trình đồng liên kết do Engle và Granger (1987) để phân tích sự phụ thuộc trong dài hạn. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phục thuộc lẫn nhau giữa giá dầu và thị trường chứng khoán ở thị trường các nước xuất khẩu mạnh hơn ở thị trường của các nước nhập khẩu.
Tại Trung Quốc, Hu và cộng sự (2018), đã kết hợp phương pháp hồi quy vecto dạng cấu trúc (SVAR) và ARDL phi tuyến tính để phân tích tác động bất đối xứng của giá dầu đến thị trường chứng khoán Trung Quốc trong ngắn và dài hạn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cú sốc của giá dầu có tác động đến thị trường chứng khoán Trung Quốc trong ngắn hạn và dài hạn, nhưng cú sốc từ phía cung là một ngoại lệ. Về bản chất bất đối xứng, không có bằng chứng về tác động bất đối xứng khi đề cập đến cú sốc cung và cú sốc cầu, cụ thể của dầu mỏ trên thị trường chứng khoán, và chỉ có cú sốc tổng cầu có tác động bất đối xứng ngắn hạn. Basher & Sadorsky (2006), nghiên cứu về giá dầu và thị trường chứng khoán mới nổi.
Nghiên cứu sử dụng mô hình Lý thuyết định giá chênh lệch giá đa yếu tố quốc tế (APT) đã kết hợp phương pháp phân tích rủi ro nhân tố có điều kiện và nhân tố không điều kiện đối với nhiều loại rủi ro khác nhau để phân tích ảnh hưởng của rủi ro giá dầu đến rủi ro thị trường chứng khoán mới nổi trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2005. Nghiên cứu chỉ ra rằng, rủi ro giá dầu quay trở lại là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc định giá cổ phiếu của các nhà đầu tư và các tổ chức đối tại các thị trường này. Tổng quan nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán cũng được quan tâm và nghiên cứu nhiều. Trong đó, Narayan & Narayan (2010) sử dụng kiểm định đồng liên kết Johansen để nghiên cứu tác động của giá dầu đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, thông qua nghiên cứu ảnh hưởng của giá dầu và tỷ giá đến giá chứng khoán tại Việt Nam bằng dữ liệu hàng ngày trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2010, tỷ giá hối đoái danh nghĩa như một yếu tố quyết định bổ sung cho giá cổ phiếu.
Kết quả cho thấy, giá cổ phiếu, giá dầu và tỷ giá hối đoái danh nghĩa đồng liên kết, thị trường chứng khoán Việt Nam trong chịu tác động tích cực từ việc tăng giá dầu trong dài hạn nhưng không bị tác động trong ngắn hạn. Nghiên cứu của Huynh và cộng sự (2017) sử dụng mô hình ARDL tuyến tính cho thấy giá dầu thế giới tăng có tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán Việt Nam dài hạn nhưng lại tác động tích cực trong ngắn hạn. Nghiên cứu của Trần Huy Hoàng (2017) đã nghiên cứu về tác động của giá dầu thế giới đến thị trường chứng khoán và các biến vĩ mô trong nền kinh tế đối với Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2003 đến 2015. Tác giả sử dụng mô hình Tự hồi quy vector VAR để nghiên cứu với các biến được sử dụng gồm: GDP danh nghĩa, cung tiền M2, tỷ lệ vốn hóa TTCK, giá dầu thế giới, chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
Kết quả cho thấy, giá dầu có tương quan âm đến các chỉ số của thị trường chứng khoán, mọi cú shock giá dầu từ cả phía cung và cầu đều tác động không tốt đến sự phát triển chung của thị trường, trong đó các ngành vận tải, vật liệu xây dựng, dịch vụ và dầu khí là những ngành chịu nhiều tác động nhất. Ngoài ra, cú shock giá dầu cũng tác động tiêu cực đến tăng trưởng GDP và gây ra các nguyên nhân về lạm phát cũng như suy thoái kinh tế. Phạm Thị Tuyết Trinh & Võ Lê Linh Đan (2018) nghiên cứu tác động bất đối xứng của biến động giá dầu đến thị trường chứng khoán Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn sau khủng hoảng 2008 bằng phương pháp tiếp cận mô hình phi tuyến tính ARDL. Nghiên cứu tiếp cận kiểm định đường bao trên dữ liệu tần suất tháng của VN-Index, giá dầu Brent, chỉ số sản xuất công nghiệp và cung tiền, nghiên cứu cho thấy những kết quả như sau: Một là, trong dài hạn biến động giá dầu có ảnh hưởng ngược chiều đến TTCK Việt Nam, giá dầu tăng làm TTCK diễn biến xấu đi và giá dầu giảm làm TTCK khởi sắc.
Hai là, giá dầu tăng có ảnh hưởng mạnh hơn so với giá dầu giảm, phản ánh tính chất bất đối xứng của ảnh hưởng giá dầu đến thị trường trong dài hạn. Ba là trong ngắn hạn, thị trường có phản ứng ngược chiều so với dài hạn. Phạm Thị Bích Nguyệt & Lê Phan Ái Nhân (2018) nghiên cứu ảnh hưởng bất đối xứng của biến động giá dầu thế giới đến nền kinh tế Việt Nam: bằng cách tiếp cận dữ liệu tần suất hỗn hợp (MIDAS), phân tích tác động bất đối xứng của biến động giá dầu thế giới tần suất cao (hàng ngày) đến khu vực kinh tế thực của Việt Nam qua các biến số vĩ mô tần suất thấp là giá dầu trong nước, lạm phát (hàng tháng) và tăng trưởng sản lượng (hàng quý). Kết quả nghiên cứu cho thấy, biến động giá dầu thế giới có tác động bất đối xứng đến giá dầu và lạm phát trong nước nhưng không có ảnh hưởng thống kê đến tăng trưởng sản lượng.
Về mức độ, giá dầu tăng có tác động mạnh hơn so với giá dầu giảm, phản ánh hành vi điều chỉnh giá của người bán. Về thời gian, ảnh hưởng của giá dầu tăng thường diễn tiến chậm do những lo ngại về áp lực giá cả, ảnh hưởng của giá dầu giảm thường phản ánh ngày nhằm giải tỏa áp lực giá cả. Sự bất đối xứng về thời gian phản ánh sự can thiệp của Chính phủ đến giá dầu trong nước do xăng, dầu là mặt hàng được nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Nguyễn Việt Phong (2022) nghiên cứu tác động bất đối xứng của thay đổi giá dầu lên giá chứng khoán của Việt Nam.
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật hồi quy phân phối trễ phi tuyến tính NARDL để xem xét tác động đối xứng giữa thay đổi giá dầu lên giá chứng khoán của Việt Nam. Kết quả cho thấy, sự hiện diện của quan hệ đồng liên kết giữa các biến số, bao gồm giá chứng khoán, cú sốc giá dầu âm và dương, chỉ số sản xuất quốc gia và cung tiền. Mô hình NARDL ước tính cho thấy, sự biến động giá dầu tác động dài hạn đáng kể đến giá cổ phiếu Việt Nam và thị trường chứng khoán phản ứng không đối xứng với cú sốc giá dầu dương và âm, cụ thể là trong dài hạn, tác động của cú sốc dương cao hơn cứ sốc âm. Dưới đây là bảng tổng hợp các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về tác động của giá dầu đến thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tác giả/ Nhóm tác giả Mô hình nghiên Kết qua nghiên cứu Basher, S., & Sadorrsky, Nghiên cứu chỉ ra rằng, rủi ro giá P: Oil price risk and dầu quay trở lại là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc định giá cổ phiếu của các nhà đầu tư và các tổ chức đối tại các thị trường này Kết quả rất rõ ràng đối với các biến đổi khác nhau của giá dầu (tuyến tính và phi tuyến tính). Các tác động trên các biến khác thấp hơn. Các biến chỉ ra rằng nền kinh tế Na Uy phản ứng với giá dầu cao hơn nếu tổng cầu và tổng tài sản tăng., & Guesmi, | Cách tiếp cận tần Kết quả nghiên cứu cho thấy sự K. : Oil price and financial|s6 do Tong và phục thuộc lẫn nhau giữa giá dầu và markets: Multivariate | Priestley (1973) thị trường chứng khoán ở thị dynamic frequency | và quy trình đồng trường các nước xuất khẩu mạnh analysis.
liên kết do Engle hơnở thị trường của các nước nhập và Granger khẩu., | VAR Kết quả của nghiên cứu, sự biến & Stoll, H.: Energy shocks động đối với các cổ phiếu của các and financial markets.