Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của điều chỉnh lợi nhuận tới hiệu quả tài chính khi niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán tp hồ chí minh

Luận án tiến sĩ phân tích ảnh hưởng của điều chỉnh lợi nhuận đến hiệu quả tài chính khi niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

192
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của điều chỉnh lợi nhuận

Ảnh hưởng của điều chỉnh lợi nhuận là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu tài chính, đặc biệt trong bối cảnh các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP HCM. Nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty thường thực hiện điều chỉnh lợi nhuận để đáp ứng các điều kiện niêm yết, tạo ra kỳ vọng lạc quan cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, việc điều chỉnh này có thể dẫn đến sự suy giảm hiệu quả tài chính sau niêm yết. Các bằng chứng thực nghiệm từ các thị trường khác cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa mức độ điều chỉnh lợi nhuận và hiệu quả tài chính, đặt ra câu hỏi về tính minh bạch của thông tin kế toán.

1.1. Điều chỉnh lợi nhuận trước niêm yết

Các công ty thường thực hiện điều chỉnh lợi nhuận tăng trong năm trước niêm yết để đáp ứng các yêu cầu niêm yết. Nghiên cứu cho thấy mức độ điều chỉnh này cao hơn so với năm niêm yết và năm sau niêm yết. Điều này tạo ra động cơ cho các nhà quản lý thao túng thông tin, dẫn đến sự không chính xác trong báo cáo tài chính. Các nhà đầu tư cần lưu ý đến việc đánh giá chất lượng thông tin kế toán trước khi quyết định đầu tư.

1.2. Tác động của điều chỉnh lợi nhuận

Tác động tài chính của việc điều chỉnh lợi nhuận được thể hiện rõ qua sự suy giảm hiệu quả tài chính sau niêm yết. Các công ty thực hiện điều chỉnh lợi nhuận tăng thường có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) thấp hơn trong các năm sau niêm yết. Điều này cho thấy việc điều chỉnh lợi nhuận không chỉ ảnh hưởng đến kết quả tài chính ngắn hạn mà còn tác động tiêu cực đến hiệu quả dài hạn của công ty.

II. Hiệu quả tài chính sau niêm yết

Hiệu quả tài chính sau niêm yết là một chỉ báo quan trọng để đánh giá sự thành công của các công ty trên thị trường chứng khoán. Nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trước niêm yết thường có hiệu quả tài chính thấp hơn so với các công ty không thực hiện điều chỉnh. Điều này được thể hiện qua các chỉ số như ROE, ROA và lợi suất bất thường tích lũy (CAR).

2.1. Đo lường hiệu quả tài chính

Việc đo lường hiệu quả tài chính dựa trên thông tin kế toán và thị trường là cần thiết để đánh giá toàn diện hiệu quả của các công ty niêm yết. Các chỉ số như ROE, ROA và CAR được sử dụng để phản ánh hiệu quả tài chính từ góc độ kế toán và thị trường. Nghiên cứu cho thấy các công ty thực hiện điều chỉnh lợi nhuận có CAR và BHAR thấp hơn so với các công ty không thực hiện điều chỉnh.

2.2. Ảnh hưởng của điều chỉnh lợi nhuận đến hiệu quả tài chính

Ảnh hưởng của điều chỉnh lợi nhuận đến hiệu quả tài chính được thể hiện qua sự suy giảm các chỉ số tài chính sau niêm yết. Các công ty thực hiện điều chỉnh lợi nhuận tăng thường có ROE và ROA thấp hơn trong các năm sau niêm yết. Điều này cho thấy việc điều chỉnh lợi nhuận không chỉ ảnh hưởng đến kết quả tài chính ngắn hạn mà còn tác động tiêu cực đến hiệu quả dài hạn của công ty.

III. Chiến lược tài chính và quản lý tài chính

Chiến lược tài chínhquản lý tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và nâng cao hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết. Nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty cần xây dựng chiến lược tài chính phù hợp để đối phó với các tác động tiêu cực của việc điều chỉnh lợi nhuận. Đồng thời, việc quản lý tài chính hiệu quả sẽ giúp các công ty duy trì sự ổn định và tăng trưởng bền vững.

3.1. Chiến lược tài chính

Các công ty cần xây dựng chiến lược tài chính phù hợp để đối phó với các tác động tiêu cực của việc điều chỉnh lợi nhuận. Chiến lược này bao gồm việc tối ưu hóa cơ cấu vốn, quản lý rủi ro và đầu tư hiệu quả. Nghiên cứu cho thấy các công ty có chiến lược tài chính tốt thường có hiệu quả tài chính cao hơn so với các công ty không có chiến lược rõ ràng.

3.2. Quản lý tài chính

Quản lý tài chính hiệu quả là yếu tố then chốt giúp các công ty duy trì sự ổn định và tăng trưởng bền vững. Việc quản lý tài chính bao gồm quản lý dòng tiền, kiểm soát chi phí và đánh giá hiệu quả đầu tư. Nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty có quản lý tài chính tốt thường có hiệu quả tài chính cao hơn và ít bị ảnh hưởng bởi các tác động tiêu cực của việc điều chỉnh lợi nhuận.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của điều chỉnh lợi nhuận tới hiệu quả tài chính khi niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán tp hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu Chương 3: Xây dựng giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Những vấn đề cơ bản về điều chỉnh lợi nhuận 2. Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận Earnings management (EM), một thuật ngữ quốc tế được dịch tại Việt Nam có hai tên gọi là “quản trị lợi nhuận” hoặc “điều chỉnh lợi nhuận”. Mặc dù cách gọi khác nhau nhưng về mặt thuật ngữ là giống nhau.

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng thuật ngữ “điều chỉnh lợi nhuận”. Dưới đây là một số định nghĩa được trích dẫn phổ biến trong trong tổng quan về điều chỉnh lợi nhuận. Điều chỉnh lợi nhuận là một thuật ngữ phức tạp, do vậy không có một khái niệm thống nhất trong tổng quan. Hai khái niệm được các nhà khoa học trích dẫn nhiều được đưa ra bởi Schipper (1989); Healy và Wahlen (1999).

Schipper (1989, trang 92) định nghĩa “điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có chủ đích kỹ lưỡng trong chu trình cung cấp thông tin tài chính ra bên ngoài nhằm đạt được những mục đích cá nhân”. Trong khi đó Healy và Wahlen (1999, trang 368) cho rằng “điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng phán đoán trong cung cấp thông tin trên báo cáo tài chính hay trong các giao dịch để thay đổi thông tin trong báo cáo tài chính để đánh lừa các bên liên quan về tình hình và hiệu quả họat động của công ty hoặc ảnh hưởng đến kết quả của các hợp đồng ràng buộc”. Trong tổng quan nghiên cứu có các trường phái khác nhau về điều chỉnh lợi nhuận, tác giả tạm chia thành hai trường phái ý kiến về điều chỉnh lợi nhuận: (1) Nhóm trường phái cho rằng điều chỉnh lợi nhuận tốt, quan điểm xem xét dựa trên khía cạnh là truyền đạt thông tin, lợi ích của điều chỉnh lợi nhuận mang lại giúp tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính. Các học giả như Watts và Zimmerman (1990), Holthausen (1990), Healy và Palepu (1993), Sankar và Subrmanyam (2001), Beneish (2001); Lara & cộng sự (2009), Scott (2009) có tranh luận rằng điều chỉnh lợi nhuận không phải lúc nào cũng xấu, nó có thể mang lại lợi ích, vì nó có khả năng nâng cao giá trị thông tin của lợi nhuận.

Beneish (2001, trang 3) cho rằng “điều chỉnh lợi nhuận (các khoản dồn tích) có ý nghĩa đối với các nhà quản lý trong việc cung cấp cho các nhà đầu tư những kỳ vọng của họ về dòng tiền tương lai của công ty”. Hay Scott (2009) gọi đó là “điều chỉnh lợi nhuận có lợi”, thông qua điều chỉnh lợi nhuận các nhà quản lý gửi tín hiệu tốt về tương lai của doanh nghiệp tới các nhà đầu tư. Tín hiệu này sẽ báo hiệu tới các nhà đầu tư rằng công ty sẵn sàng công khai các hoạt động kế toán tốt 8 nhất và tăng tính hữu ích của báo cáo tài chính. Hơn nữa, điều chỉnh lợi nhuận là một phương tiện mà nhờ đó những thông tin nội bộ có thể được truyền tải đến thị trường, do đó giúp cho các bên tham gia thị trường ra quyết định hiệu quả hơn.

(2) Nhóm trường phái cho rằng “điều chỉnh lợi nhuận” không tốt, một dòng nghiên cứu tập trung vào “điều chỉnh lợi nhuận” chủ nghĩa cơ hội: Healy và Wahlen (1999); Fields & cộng sự (2001); Arya & cộng sự(2003); Miller và Bahnson (2002); Boubakri & cộng sự (2008); Fields, & cộng sự (2001, trang 260) cho rằng “điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng các khoản dồn tích mà không có sự hạn chế để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp hoặc chủ nghĩa cơ hội”. Do vậy, Scott (2009) gọi tên “điều chỉnh lợi nhuận xấu”, có nghĩa rằng các nhà quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận xấu để đánh lừa các nhà đầu tư tiềm năng để mang lợi cho cá nhân thông qua việc sử dụng các thủ thuật, thậm chí có thể làm giảm tính minh bạch của báo cáo tài chính. Các quan điểm này cho rằng các nhà quản lý sẽ thực hiện phán đoán (lựa chọn phương pháp kế toán) và đưa ra các quyết định để tối đa hóa lợi ích cá nhân của họ. Healy và Wahlen (1999) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận theo chủ nghĩa cơ hội xảy ra khi chủ sở hữu hoặc người quản lý cố tình chọn phương pháp kế toán để đánh lừa các bên liên quan về hiệu quả hoạt động của công ty hoặc ảnh hưởng đến kết quả hợp đồng liên quan tới lợi ích cá nhân họ.

Mặc dù tồn tại các trường phái điều chỉnh lợi nhuận khác nhau, nhưng về cơ bản điều chỉnh lợi nhuận là hành vi được các nhà quản lý thực hiện dựa trên các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán, áp dụng một cách linh hoạt các chính sách hoặc các ước tính kế toán nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Và đây cũng là quan điểm của tác giả về điều chỉnh lợi nhuận trong phạm vi của luận án này. Phân loại điều chỉnh lợi nhuận Theo tổng quan nghiên cứu điều chỉnh lợi nhuận được phân chia làm 3 dạng như sau: 2. Điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích (AEM: Accrual-based earnings management) Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS01, yêu cầu các đơn vị khi lập báo cáo tài chính (ngoại trừ thuyết minh báo cáo tài chính) thì phải lập dựa trên cơ sở dồn tích, theo đó mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh sẽ được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào việc thu (chi) tiền hay chưa.

Cơ sở kế toán dồn tích có ưu điểm đảm bảo sự phù hợp trong việc ghi nhận doanh thu và chi phí của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán (Dechow và Skinner, 2000), cũng như có thể xác định kết quả kinh doanh một cách toàn diện giữa các doanh nghiệp tại các quốc gia khác nhau hoặc bản thân doanh nghiệp trong 9 khoảng thời gian khác. Do vậy, trong thực hành kế toán tại các quốc gia đều cho phép các nhà quản lý được quyền quyết định với các thông tin tài chính được cung cấp, liên quan tới các khoản dồn tích. Điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích đề cập tới cơ hội của nhà quản lý sử dụng các phương pháp kế toán hoặc chính sách kế toán một cách linh hoạt - được cho phép bởi các quy định kế toán, để thay đổi lợi nhuận trên báo cáo tài chính mà không ảnh hưởng tới dòng tiền. Việc lựa chọn phương pháp kế toán có ảnh hưởng tới thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí và do đó ảnh hưởng tới lợi nhuận tại thời điểm lập báo cáo, thông qua việc cho phép ghi nhận doanh thu sớm hơn hoặc chuyển chi phí về những năm sau hoặc ngược lại.

Dồn tích thể hiện sự khác nhau giữa lợi nhuận và dòng tiền, trong nghiên cứu của McVay (2006) đưa ra ví dụ dồn tích có được khi chúng ta bán hàng chưa thu tiền, khi đó doanh thu được ghi nhận đối ứng với các khoản phải thu, sau đó các khoản phải thu này sẽ ghi nhận giảm khi khách hàng thanh toán. Do vậy, để tăng được lợi nhuận hiện tại bằng cách mượn lợi nhuận tương lai, công ty sẽ thực hiện nhiều hoạt động làm tăng doanh thu và giảm chi phí. Ví dụ: Việc ghi nhận doanh thu và giá vốn cung cấp dịch vụ dựa trên tỷ lệ % công việc hoàn thành sẽ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của doanh nghiệp hoặc việc lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định hay phương pháp tính giá xuất kho hàng tồn kho sẽ ảnh hưởng tới chỉ tiêu giá vốn và chi phí trên báo cáo kết quả kinh doanh…Tuy nhiên, bản chất tự nhiên của dồn tích là sự chuyển dịch, tức trong tương lai lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tự động giảm đi bằng đúng số tiền lợi nhuận đã mượn trong giai đoạn trước. Như vậy, bản chất điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích là hoạt động thông qua sự lựa chọn các phương pháp, chính sách kế toán không làm thay đổi bản chất kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh trong dài hạn, và tuân thủ khuôn khổ pháp lý, chuẩn mực, chế độ - không phải là hành vi vi phạm pháp luật.

Do vậy, đây là một phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận. Hay nói cách khác, phương pháp dựa trên cơ sở dồn tích là một phương pháp được sử dụng rộng rãi để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Các học giả đều đồng ý rằng các khoản dồn tích có thể sử dụng như một công cụ để các doanh nghiệp truyền tải những tín hiệu tốt, và dễ thực hiện (Jones (1991); Healy và Palepu (1993); Rangan (1998); Kothari & cộng sự (2005)). Điều chỉnh lợi nhuận thông qua can thiệp vào các giao dịch thực tế (REM: Real activities-based earnings management) Trong khi AEM xuất hiện từ rất sớm khi đề cập tới điều chỉnh lợi nhuận, thì phải đến tận nghiên cứu của Schipper (1989), REM mới được đưa vào định nghĩa điều chỉnh 10 lợi nhuận.

Schipper đã đề cập rằng mở rộng của định nghĩa điều chỉnh lợi nhuận cần phải bao gồm điều chỉnh lợi nhuận thực tế, hành vi này đạt được thông qua các quyết định làm thay đổi giao dịch thực của các hoạt động đầu tư và tài chính, để thay đổi lợi nhuận hoặc các chỉ tiêu liên quan trên báo cáo kết quả kinh doanh. Các nhà quản lý thao túng các hoạt động thực tế trong năm, Roychowdhury (2006, trang 3) định nghĩa rằng “Điều chỉnh lợi nhuận thực tế là sự thay đổi trong những thông lệ hoạt động được thúc đẩy bởi mong đợi của nhà quản lý nhằm làm các bên liên quan hiểu lầm rằng các mục tiêu báo cáo tài chính đã đạt được trong quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp”. Khác với AEM là chỉ được thực hiện thông qua hoạt động kế toán, thì REM thực hiện với quyết định điều hành thực tế và do vậy ảnh hưởng đến dòng tiền hiện tại và tương lai, bóp méo lợi nhuận. Roychowdhury (2006) đã tìm được bằng chứng thực nghiệm về điều chỉnh lợi nhuận thực tế, các công ty tránh lỗ bằng cách vào cuối năm tăng doanh thu tạm thời của công ty thông qua việc đưa ra chính sách giảm giá hoặc các điều khoản tín dụng mềm mại hơn cho khách hàng hoặc làm số dư hàng tồn kho cao hơn để giảm giá vốn hàng bán.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh hưởng của điều chỉnh lợi nhuận đến hiệu quả tài chính khi niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP HCM" tập trung phân tích mối quan hệ giữa việc điều chỉnh lợi nhuận và hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc điều chỉnh lợi nhuận có thể tác động đáng kể đến các chỉ số tài chính như ROA, ROE và khả năng thanh toán, từ đó ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu và sự tin tưởng của nhà đầu tư. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về các chiến lược quản lý lợi nhuận và cách chúng tác động đến hiệu quả kinh doanh, đồng thời nhận được những gợi ý để cải thiện hiệu quả tài chính trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần Thuận Đức, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Ngoài ra, Luận văn tốt nghiệp kế toán xác định kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần dịch vụ sản xuất thương mại CPS cung cấp góc nhìn chi tiết về quản lý lợi nhuận và kết quả kinh doanh. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ kế toán nghiên cứu tác động của nhân tố quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về vai trò của quản trị công ty trong việc nâng cao hiệu quả tài chính.