CHƯƠNG 1 Giới thiệu về đề tài của khóa luận, nêu ra những nội dung chính mà khóa luận sẽ hướng tới và tổng quan những vấn đề chính như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên, nội dung nghiên cứu và đóng góp của đề tài. Cuối cùng là đưa ra bố cục của bài khóa luận làm rõ những ý chính của các chương cần nghiên cứu và làm rõ. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ CÁC HỌC THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 2.1 Tổng quan về chính sách tiền tệ và thị trường chứng khoán 2.1 Chính sách tiền tệ 2.1 Khái niệm chính sách tiền tệ Cùng với chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ là phương tiện chính thông qua đó các cơ quan chính phủ có thể tác động, điều tiết tốc độ và hướng đi của hoạt động kinh tế như mức tổng sản lượng, việc làm và cả lãi suất chung tại đó giá có thể tăng hoặc giảm trong nền kinh tế thị trường. Các cơ quan chính phủ thực hiện CSTT thông qua ngân hàng Trung ương, các ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách điều chỉnh nguồn cung tiền, thường thông qua việc mua hoặc bán chứng khoán trên thị trường mở.
Theo (Mishkin, 2013) CSTT là quá trình quản lý cung tiền của NHTW nhằm đạt được những mục tiêu nhất định như bình ổn giá cả (lạm phát thấp và ổn định), duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, tăng trưởng kinh tế gia tăng tỷ lệ việc làm. Các ngân hàng trung ương cũng có chung nhận định về chính sách tiền tệ với các nhà nghiên cứu kinh tế. Theo FED, chính sách tiền tệ chính là các hành động nhằm vào chi phí của tiền và tín dụng mục đích thúc đẩy việc làm tối đa, giá cả ổn định và lãi suất dài hạn vừa phải đây là các mục tiêu kinh tế mà FED theo đuổi do Quốc hội đưa ra. Ngân hàng trung ương Úc, CSTT là các hành động tác động đến lãi suất để tác động đến tổng cầu, việc làm và lạm phát trong nền kinh tế nhằm ổn định nên kinh tế chung.
Như vậy, nhìn chung CSTT được các cơ quan chính phủ và các nhà kinh tế có chung nhận định là quá trình các ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ để các động vào cung tiền, lãi suất, việc làm để điều tiết nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu kinh tế nhất định được đưa ra.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ Có sáu mục tiêu cơ bản thường được đề cập khi nói đến đối tượng chính sách tiền tệ 9 (1) Kiểm soát lạm phát ổn định giá cả NHTW có thể thông qua CSTT tác động đến giá trị của đồng tiền của trong nước sao cho phù hợp với bối cảnh kinh tế tại thời điểm đó. Tính ổn định của giá trị đồng tiền cần xem xét bởi 2 mặt: sức mua đối nội của đồng tiền (số lượng hàng hóa và dịch vụ trong nước mà một đồng tiền có thể trao đổi được) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền một nước so với đồng tiền nước ngoài). NHTW thường lượng hóa mục tiêu này bằng tỷ lệ tăng của chỉ số giá tiêu dùng. Đây có thể được xem là mục tiêu quan trọng nhất của CSTT để định hướng phát triển kinh tế của quốc gia vì nó giúp việc dự đoán những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô dễ dàng hơn.
Một mức lạm phát thấp và ổn định sẽ tạo môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả (Mishkin, 2013). Các ngân hâng trung ương nên điều chỉnh CSTT tích cực và ưu tiên để bù đắp cho áp lực giảm phát và lạm phát khi mới hình thành. Mặc dù vậy, lạm phát không phải lúc nào cũng là điều bất lợi, khi có thể duy trì được tỷ lệ lạm phát ở mức vừa phải hợp lý thì dường như lạm phát lại trở thành một nhân tố có lợi cho sự phát triển kinh tế. Vì vậy, xu hướng hiện nay càng có nhiều Ngân hàng Trung ương các nước trên thế giới quyết định chuyển hướng CSTT sang thực hiện lượng hoá mục tiêu lạm phát.
Mục tiêu lạm phát xem mục tiêu chính của ngân hàng trung ương là duy trì sự ổn định giá cả xoay quanh việc điều hành CSTT để đạt được tỷ lệ lạm phát hàng năm cụ thể, thường được đặt ở mức 2% đến 3%. Mục tiêu lạm phát cho phép các NHTW ứng phó với các cú sốc đối với nền kinh tế trong nước dễ dàng hơn, lạm phát ổn định làm giảm đi sự không chắc chắn của nhà đầu tư, cho phép NĐT dự đoán những thay đổi trong lãi suất và neo giữ kỳ vọng lạm phát kích thích tăng trưởng đầu tư. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã định hướng việc điều hành CSTT theo khuôn khổ lạm phát mục tiêu, tuy nhiên, sự chuyển này vẫn còn là một thách thức đối với Việt Nam (Hạnh, 2020). (2) Tỷ lệ thất nghiệp thấp 10 Với một nền kinh tế mở rộng tăng trưởng sẽ mở ra nhiều cơ hội việc làm và ngược lại có thể nói tỷ lệ việc làm trên thị trường phụ thuộc ít nhiều vào điều kiện và tình trạng của nền kinh tế., 2013) tạo ra việc làm là một mục tiêu có giá trị vì (1) khi tỷ lệ lệ thất nghiệp cao sẽ gây ra tình trạng các gia đình, cá nhân gặp khó khăn trong vấn đề tài chính sẽ dẫn đến trạng thái tâm lý không ổn định sẽ là mầm mống gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội; (2) khi thất nghiệp lên cao không những lãng phí nguồn lực lao động mà còn lãng phí các nguồn lực khác như nhà máy, xí nghiệp không hoạt động hết công suất dẫn đến giảm sản lượng sản xuất ra nền kinh tế và điều này còn gây tổn thất lên tổng nguồn thu của ngân sách nhà nước.
Tạo công ăn việc làm đầy đủ không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp bằng 0, các nhà kinh tế học gọi đó là mức thất nghiệp tự nhiên mà tại mức này cầu lao động ngang bằng cung lao động. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấu thành từ tỷ lệ thất nghiệp tạm thời và tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp tạm thời nảy sinh là do người lao động cần có thời gian để tìm kiếm được việc làm thích hợp. Tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu xảy ra do không phù hợp giữa yêu cầu của việc làm và kỹ năng lao động sẵn có của lực lượng lao động.
Việc thông qua CSTT để khôi phục trạng thái toàn dụng lao động rất khó để áp dụng với tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu vì tình trạng thiếu việc làm do nguyên nhân ngoài lĩnh vực tiền tệ vì vậy cần áp dụng các chính sách công của chính phủ như thực hiện các chương trình hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động để khắc phục. (3) Tăng trưởng kinh tế Mục tiêu tăng trưởng kinh tế có quan hệ chặt chẽ với mục tiêu việc làm vì khi sản xuất kinh doanh được mở rộng cần có một nguồn lực lượng lao động mới tham gia vào quá trình từ đó tạo ra cơ hội việc làm. NHTW có thể sự dụng công cụ điều hành CSTT như lãi suất để kích thích tăng trưởng kinh tế, khi kinh tế đang có dấu hiệu trì trệ NHTW cần hạ lãi nhằm tăng chi tiêu tiêu dùng, kích thích quá trình sản xuất hàng hóa, đầu tư… Tuy nhiên, trong dài hạn để gia tăng mức sản lượng tiềm năng phụ 11 thuộc vào việc phát triển và áp dụng kĩ thuật ,công nghệ mới, mở rộng quy mô vốn, kĩ năng lực lượng lao động và nguồn tài nguyên của quốc gia. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế có mâu thuẫn với mục tiêu ổn định giá cả trong ngắn hạn qua hoạt động điều chỉnh giảm tỷ lệ lạm phát nhằm ổn định giá trị đối nội của đồng tiền đồng nghĩa với một CSTT thắt chặt khiến cho lãi suất trong nền kinh tế tăng lên, sẽ có sự rút vốn đầu tư ra khỏi thị trường làm tổng cầu của nền kinh tế giảm xuống dẫn đến thất nghiệp sẽ có xu hướng tăng và tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm (Thanh, 2017).
Như vậy, trong ngắn hạn NHTW không thể cùng lúc đạt được tất cả các mục tiêu. (4) Ổn định lãi suất Lãi suất là biến số quan trọng cho sự ổn định của nền kinh tế nó tác động đến hầu hết các hoạt động diễn ra trên thị trường. Khi lãi suất cao, người dân sẽ có xu hướng tiết kiệm gửi tiền vào ngân hàng, hạn chế vay mượn và chi tiêu. Cũng như các doanh nghiệp sẽ hạn chế vay vốn để mở rộng sản xuất đầu tư vì chi phí vốn lúc này quá cao.
Hơn nữa, khi lãi suất tăng lên có thể dẫn tới áp lực giảm giá thị trường của các tài sản khác, chủ yếu là bất động sản và chứng khoán. Bởi vì những tài sản nhạy cảm với giá này chiếm phần lớn trong tổng tài sản nắm giữ bởi các hộ gia đình ở nhiều quốc gia, nên những biến động trong lãi suất ảnh hưởng đến mức độ giàu có của một nền kinh tế và từ đó tác động đến tổng cầu. Ngược lại, khi lãi suất thấp người dẫn sẽ có tâm lý tiêu dùng và vay mượn nhiều hơn và các doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong tiếp cận nguồn vốn để phát triển hoạt động kinh doanh. Giảm lãi suất còn có tác động tích cực lên hoạt động xuất khẩu của nền kinh tế thông qua tác động lên tỷ giá hối đoái.
Do đó, ổn định lãi suất là một mục tiêu quan trọng mà NHTW hướng tới để ổn định môi trường kinh tế vĩ mô. (5) Ổn định tỷ giá Trong nền kinh tế mở giao thương buôn bán với nước ngoài ngày càng được mở rộng, vì vậy mà ổn định tỷ giá là yếu tố quan trọng cần được chú ý tới. Tỷ giá giảm nghĩa là giá trị đồng nội tệ tăng điều này sẽ làm giảm mức độ cạnh tranh của các hàng 12 hóa sản xuất trong nước. Ngược lại, tỷ giá tăng sẽ có thể làm gây áp lực lạm phát qua con đường nhập khẩu.
Do đó, nếu tỷ giá có xu hướng biến động mạnh sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kế hoạch chi tiêu của hộ gia đình cũng như kế hoạch đầu tư và phát triển của các doanh nghiệp. Những nước thị trường mới nổi có mối lo ngại bận tâm lớn hơn về biến động của tỷ giá hối đoái.