Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1. Tính trạng sản xuất của gia cầm 1. Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thiện (1995) các tính trạng sản xuất là các tính trạng như tính trạng số lượng, khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, năng suất trứng, khối lượng trứng,.
hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng sinh sản. đều là những tính trạng số lượng và do các gen nằm trên cùng nhiễm sắc thể quy định. Phần lớn sự thay đổi trong quá trình tiến hoá của sinh vật cũng là sự thay đổi của các tính trạng số lượng. Khác với các tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố ngoại cảnh.
Tuy các điều kiện bên ngoài không làm thay đổi cấu trúc di truyền, nhưng nó tác động làm phát huy hoặc kìm hãm việc biểu hiện hoạt động của các gen. Theo Trần Huê Viên (2001) người ta có thể xác định các tính trạng số lượng qua mức độ tập trung, mức độ biến dị, hệ số di truyền tính trạng, hệ số lặp lại của các tính trạng, hệ số tương quan giữa các tính trạng. Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm Sức sống của gia cầm là một tính trạng số lượng, nó đặc trưng cho từng giống, từng dòng, từng cá thể. Trong cùng một giống, sức sống của mỗi dòng là khác nhau, các cá thể khác nhau thì khác nhau nhưng nằm cùng trong giới hạn của phẩm giống.
Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Trong chăn nuôi người ta thường lấy tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm như giai đoạn nuôi từ sơ sinh đến khi giết mổ hoặc loại thải. Trong công tác lai tạo, khi dùng những dòng, giống có sức sống cao thì con lai sẽ thừa hưởng những tính chất trội khả năng này. Ưu thế lai về sức sống dao dộng từ 9 - 24 % (Fairfull và cs, 1990).
4 Theo tài liệu của Garova và cs (1990) thì hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 25 %, hệ số di truyền về tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh phụ thuộc vào dòng, giống, giới tính. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất của gia cầm 1. Khả năng sinh sản ở gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng * Ảnh hưởng của protein trong thức ăn Ở gà đẻ, nhu cầu protein và một số axit amin khá cao. Protein trong cơ thể gà đẻ được sử dụng để duy trì sự sống và tạo thành protit của trứng, còn ở gà tơ tuần đẻ đầu còn cần cho sự sinh trưởng.
Để duy trì sự sống, cứ 1 kg trọng lượng cần 3g protein, để tạo 100g trứng cần 28 g protein. Nhu cầu protein thay đổi tuỳ theo tuổi và sức đẻ của gà: 20 - 40 tuần tuổi sức đẻ 80 - 85 %, protein khẩu phần 17 %; trên 40 tuần tuổi, sức đẻ 70 - 75 %, protein khẩu phần 15 %; trên 50 tuần tuổi sức đẻ đạt 65 %, protein khẩu phần 13 %. Khi trong khẩu phần thiếu protein hoặc thiếu một vài axit amin nhưng đảm bảo đầy đủ các nhân tố dinh dưỡng khác, gà đẻ sẽ béo lên, sức đẻ giảm xuống, khối lượng và thành phần của trứng không thay đổi (Từ Quang Hiển và cs, 2002). * Ảnh hưởng của vitamin Theo tài liệu của Từ Quang Hiển và cs (2002) ở gà đẻ cao sản cần ít nhất 2.500 – 3000 UI vitamin A/kg thức ăn.
Tỷ lệ ấp nở của trứng liên quan chặt chẽ với hàm lượng vitamin D3 trong khẩu phần. Khi hàm lượng vitamin D3 trong 1 kg thức ăn là 1.160 UI thì tỷ lệ nở là 91 %, còn khi 190 UI vitamin D3/kg thức ăn tỷ lệ ấp nở chỉ còn 44 %. Thiếu vitamin E trong thức ăn thường là nguyên nhân dẫn đến bệnh nhũn não ở gà con mới nở. Vì vậy, cần bổ sung vitamin E vào khẩu phần của gà đẻ.
* Ảnh hưởng các chất khoáng Theo tài liệu của Từ Quang Hiển và cs (2002) ở gà đẻ nhu cầu khoáng đặc biệt là canxi rất cao, cơ thể phải tiêu tốn 2g canxi cho 1 quả trứng, cho nên cần bổ sung canxi. Hàm lượng phốt pho, vitamin D3 và C cũng ảnh hưởng đến trao đổi canxi. Khi thiếu, thừa canxi đều ảnh hưởng không tốt đến gà đẻ, thừa canxi gà ăn ít, thiếu gà sẽ gầy, giảm sức đẻ. Phốt pho ở gà đẻ có nhu cầu 0,7 % trọng lượng thức ăn, trong thức ăn hạt, phốt pho ở dạng liên kết khó hấp thu, vì vậy người ta thường bổ 5 sung phốt pho cho gà đẻ.
Nhu cầu natri của gà đẻ là 0,3 % trọng lượng thức ăn, để bảo đảm sức khoẻ và sức sản xuất của gà đẻ người ta bổ sung vào thức ăn các nguyên tố vi lượng dưới dạng muối (g/tấn): FE: 10, MN: 50, Cu: 2,5; Zn: 60, Co: 1, I: 0,7. * Tuổi thành thục về tính dục Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính dục cũng khác nhau. Nghiên cứu của Trần Công Xuân và cs (2004): Tuổi đẻ quả trứng đầu của gà Lương Phượng hoa trong khoảng 157 - 160 ngày. Tuổi đẻ quả trứng đầu của gà Sasso SA31L là 150 ngày (Đoàn Xuân Trúc và cs, 2004).
Tuổi thành thục của gà phụ thuộc vào thời gian chiếu sáng của các giai đoạn nuôi. Thí nghiệm của Morris (1967) trên gà Legohrn được ấp nở quanh năm cho biết, những gà được ấp nở vào tháng 12 và tháng 1 thì nó có tuổi thành thục về tính là 150 ngày. Những gà được ấp nở từ tháng 4 đến tháng 8 thì tuổi thành thục trên 170 ngày. Những gà nở sau đó có tuổi thành thục về tính ngắn hơn vì thời gian sinh trưởng giai đoạn hậu bị của chúng diễn ra trong những ngày có thời gian chiếu sáng giảm dần, sau đó ánh sáng lại tăng dần lên, do vậy sẽ kích thích cơ quan sinh dục phát triển và rút ngắn tuổi thành thục về tính dục.
Theo Chen và cs (1994) ngoài các yếu tố về di truyền, sức sản xuất của gà đẻ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại cảnh như chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm; khả năng thụ tinh và tỷ lệ ấp nở, cường độ đẻ trứng và độ dài trật đẻ; bản năng đòi ấp; sự thay lông; nhiệt độ; chế độ chiếu sáng; độ ẩm… 1. Khả năng sinh trưởng, cho thịt và các yếu tố ảnh hưởng - Khả năng sinh trưởng: Sinh trưởng ở động vật là quá trình tích lũy hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao chiều dài và bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước. Sinh trưởng chính là quá trình tích lũy dần các chất, chủ yếu là protein nên tốc độ tích lũy các chất, tốc độ tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên và cs, 1992). 6 Theo Trần Đình Miên và cs (1992) sinh trưởng là cường độ tăng các chiều của cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong chăn nuôi gia cầm để đánh giá sinh trưởng người ta sử dụng 2 chỉ số đó là sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối. Mối quan hệ ở cơ thể gia cầm giữa sinh trưởng và một số tính trạng liên quan. Mối liên quan giữa sinh trưởng và tốc độ mọc lông đã được xác định, cũng có mối liên quan giữa sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Xác định được toàn bộ quá trình sinh trưởng một cách chính xác là rất khó khăn và phức tạp.
Tuy nhiên trong chọn giống vật nuôi ngày nay, người ta cũng sử dụng các phương pháp đơn giản và thực tế để đánh giá khả năng sinh trưởng như: Kích thước các chiều đo; tốc độ sinh trưởng; đường cong sinh trưởng; đồ thị sinh trưởng; sinh trưởng tuyệt đối; sinh trưởng tương đối; khả năng cho thịt… Khả năng cho thịt được phản ánh qua các chỉ tiêu năng suất và chất lượng thịt. Khả năng cho thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, sự phát triển của hệ cơ, kích thước và khối lượng khung xương. Năng suất thịt là chỉ tiêu quan trọng được dùng để đánh giá sức sản xuất thịt của gia cầm. Năng suất thịt không chỉ phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, mà tính trạng này lại còn phụ thuộc vào kích thước các chiều đo cơ thể (dài lườn, rộng ngực, dài đùi…).
Năng suất thịt có thể biểu thị bằng tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ giữa các bộ phận như: Nạc, mỡ, da. Năng suất thịt cao hay thấp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Giống, dòng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, tính biệt, phương thức chăn nuôi, vệ sinh thú y,. Theo Chambers (1990) đã tổng hợp trên nhiều loại gia cầm và đưa ra tỷ lệ các phần của thân thịt như sau: Khối lượng sống của gia cầm 100 % thì khối lượng thân thịt chiếm khoảng 64 % (trong đó 52 % là thịt; 12 % là xương); phủ tạng khoảng 6 %; máu, lông, đầu, chân, ruột chiếm khoảng 17 % và tỷ lệ hao hụt khi giết mổ chiếm 13 %. Theo nghiên cứu của Schiling và cs (2008): Thịt bình thường (chất lượng tốt) có pH24 thịt lườn trong khoảng 5,7 – 6,1.
Kết quả nghiên cứu của Rose (1997) về tỷ lệ các phần thân thịt của 1 gà thương phẩm 1,8 kg, cho thấy năng suất thịt liên quan chặt chẽ tới khối lượng sống. - Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm 7 + Dòng, giống: Dòng, giống có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh trưởng của gia cầm khi nghiên cứu khả năng sản xuất thịt của gà lông màu Kabir, Lương Phượng và Sasso cho biết: Khối lượng cơ thể gà ở 10 tuần tuổi đạt lần lượt là 1990,28 g/con, 1993,27 g/con và 2189,29 g/con (Trần Thanh Vân, 2002). + Giới tính có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng: Các loại gia cầm khác nhau về giới tính thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái (chim cút con trống nhỏ hơn con mái). + Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng: Sinh trưởng là tổng số của sự phát triển các phần của cơ thể như thịt, xương, da.
Tỷ lệ sinh trưởng các phần này phụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ sinh trưởng và phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng (Chambers, 1990).